Lễ Dâng Y tại Thiền Viện Nguyên Thủy năm 2011

Lễ dâng Y tại Thiền Viện Nguyên Thủy (1)

 

Lễ dâng Y tại Thiền Viện Nguyên Thủy (2)


Thông báo về khóa học Vi-Diệu-Pháp

Lớp Luận Tạng học giả

Lớp Abhidhammapitaka (Vi Diệu Pháp) học giả

Các ngày trong tuần

Buổi sáng:     8:00 đến 10:00

Buổi chiều:    2:30 đến 4:30

 

Lớp Vi Diệu Pháp Bình Dân

Chủ nhật hàng tuần

Buổi sáng:     8:00 đến 10:00

Buổi chiều:   2:30 đến 4:30

Giảng Sư : Thượng Tọa Pháp Chất

Đăng ký : Cô Tu Nữ Hạnh Chánh,  Số phone 0902533086

.


Thông Báo về khóa thiền mới tháng 7/2011

THÔNG BÁO CỦA THIỀN VIỆN NGUYÊN THỦY

———-0O0———-

NỘI DUNG TU THIỀN TỨ NIỆM XỨ

TẠI THIỀN VIỆN NGUYÊN THỦY

1. LỊCH SỬ THIỀN VIỆN NGUYÊN THỦY: Thiền viện được thành lập năm 1968 do Hoà Thượng Hộ Tông sáng lập. Diện tích khoảng 3 hecta nằm trên địa bàn Quận 2 Tp. Hồ Chí Minh. Khung cảnh rất thích hợp cho những vị chân tu sống đời phạm hạnh, lại càng thích hợp với những nguời tu tập pháp môn thiền quán. Hoà Thượng thành lập chùa có hai chủ ý: Một là thành lập trường đại học Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, hai thành lập trung tâm Thiền Tứ Niệm Xứ quốc tế, tuy nhiên duyên lành chưa hội đủ nên Hoà Thượng chỉ kiến tạo được một ngôi chánh điện và một khu tăng xá có khoảng 28 phòng dành cho chư tăng tu học. Kiến trúc chánh điện khá quy mô và vĩ đại  theo phong cách Thái lan.

Thượng toạ Pháp Chất được Giáo hội bổ nhiệm trụ trì năm 1993, từ lúc bổ nhiệm cho đến nay thượng toạ đã làm được nhiều phật sự tại thiền viện như: Trùng tu Chánh điện, Tăng xá, đặc biệt là xây dựng mới một dãy thiền xá cho hành giả thiền sinh tu học, và tổ chức nhiều khoá tu Tứ niệm xứ quốc tế. Thượng toạ dự kiến sẽ xây dựng một đại chánh điện mới để đáp ứng nhu cầu hành thiền cho Tăng ni và phật tử. Hiện nay, Thượng toạ là Phó ban Ban Nghi lễ TW GHPGVN đặc trách Nam tông Kinh, Ủy viên Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Tp. HCM.

2. PHƯƠNG PHÁP HÀNH THIỀN VIPASSANĀ (TỨ NIỆM XỨ PA AUK):

Đây là phương pháp thiền Tứ Niệm xứ do Đức Phật giảng dạy cách đây hơn 25 thế kỷ. Phương pháp này được ghi lại trong Kinh Đại Tứ niệm xứ thuộc Trường bộ kinh, và trong Kinh Tứ niệm xứ, và Kinh Nhập tức xuất tức niệm thuộc Trung bộ kinh.

Phương pháp thiền Pa Auk nầy do thiền sư Pa Auk Sayadaw (Àcinna), người Myanmar, chủ xướng. Thiền viện Pa Auk có nhiều chi nhánh quốc tế. Nhiều hành giả thiền sinh thành đạt cao trong phương pháp nầy, và trở thành thiền sư quốc tế.

Thiền sư Pa Auk hướng dẫn phương pháp thiền Vipassanā, Tứ niệm xứ Pa Auk, khởi đầu từ đề mục Hơi thở vô hơi thở ra. Khi hành giả tu tập cho đạt đến tứ thiền, rồi Thiền sư sẽ cho tu tập lần lượt các đề mục Niệm xứ khác còn lại. Hành giả sẽ tu tập lần lượt các đề mục trong phần Định (40 đề mục) và phần Tuệ (16 Tuệ Vipassanā) theo Kinh Visuddhimagga (Thanh tịnh đạo).

Đây là phương pháp hành thiền đúng theo chánh Tạng, vô cùng lành mạnh và bổ ích cho những ai áp dụng tu tập. Thiền Tứ Niệm Xứ còn được gọi là Thiền Vipassanā nhằm giúp chúng ta thanh lọc tâm, nhổ tận gốc rể phiền não, chấm dứt sanh tử luân hồi, đạt được quả vị.

Đối tượng tham dự khoá thiền: Chư Tăng ni và Phật tử. Đặc điểm của dòng Thiền nầy là tất cả hành giả thiền sinh đều phải trì giới nghiêm túc, có tâm trí thật sự trong sáng, tinh tấn hành thiền, và phải tuân thủ đúng nội quy – thời khoá biểu mới có thể đạt được kết quả cao trong phương pháp nầy.

3. THỜI KHOÁ BIỂU

Thời khoá biểu, thiền sinh phải tuyệt đối tuân thủ liên tục trong suốt thời gian thực tập, nó sẽ giúp thiền sinh tiến bộ trên bước đường tu thiền.

03:30 sáng                      : chuông báo thức.

04:00 đến 05:00 sáng   : Ngồi thiền (đợt 1).

05:00 đến 05:45            : Tụng Kinh sáng_hoặc nghe pháp (nếu có).

06:00 đến 07:30            : Đi bát, ăn sáng _ sinh hoạt cá nhân.

07:30 đến 09:00 sáng   : Ngồi thiền (đợt 2).

09:00 đến 10:30 sáng   : Trình pháp.

10:30 đến 13:00 trưa    : Đi bát, ăn trưa và nghỉ ngơi.

13:00 đến 14:00            : Ngồi thiền (đợt 3).

14:00 đến 14:30            : Đi thiền.

14:30 đến 16:00            : Ngồi thiền (đợt 4).

16:00 đến 17:45 chiều : Trình pháp_Hỏi pháp.

18:00 đến 18:30            : Tụng Kinh tối. Đi thiền.

19:00 đến 21:00 tối      : Ngồi thiền (đợt 5)_ hoặc nghe pháp (nếu có).

21:30 tối                        : Chỉ tịnh.

4. ẨM THỰC VÀ CHỖ Ở

- Ẩm thực: Thức ăn và thức uống ban tổ chức hoàn toàn lo liệu cho tất cả thiền sinh. Hành giả chỉ đến đây với tâm tư thật sự trong sáng, dành thời gian trọn vẹn để tu thiền, không phải bận tâm đến việc ăn uống. Để hành thiền tốt, quý vị có thể ăn thức đạm bạc của ban tổ chức, nhưng bảo đảm vệ sinh và sinh dưỡng cao.

- Chỗ ở: Thời gian hành thiền rất nhiều theo thời khoá biểu, nên việc ngủ nghỉ cũng hạn chế rất nhiều, không giống như quý vị ở gia đình. Vì phòng ốc hạn chế nên mong thiền sinh hoan hỷ với điều kiện ở tập thể.

5. ĐIỂU KIỆN ĐĂNG KÝ THAM DỰ KHOÁ TU:

- Quý vị chỉ cần 1 đơn xin đăng ký tham dự khoá thiền, điền vào khoảng trống và nộp lại cho ban tổ chức trước ngày lễ khai mạc, và mang theo chúng minh nhân dân hợp lệ và đồ dùng cá nhân, và vì phòng có hạn chế mong quý vị đăng ký sớm để ban tổ chức dễ dàng sắp xếp chổ nghỉ. Muốn có đơn đăng ký xin liên hệ:

1. http://thienviennguyenthuy.wordpress.com/

2. Thiền viện Nguyên Thủy, địa chỉ số 33A, đường 10, Phường Cát Lái, Quận 2, Tp. HCM. ĐT: (08)-3742.0214 gặp Ban Tổ chức (Cô Hạnh Giàu). Dđ: 0902.533.086 (Cô Hạnh Chánh)_0932.445.530 (cô Hạnh Giác) để được hướng dẫn.

Chánh điện Thiền Viện Nguyên Thủy

Thiền viện Nguyên Thủy

Khóa Thiền Tứ niệm xứ Pa-Auk

NỘI QUY KHÓA THIỀN DÀNH CHO THIỀN SINH TẠI

THIỀN VIỆN NGUYÊN THỦY

Để khóa thiền đạt được kết quả tốt đẹp. Một nguyên tắc cơ bản về đạo đức cư xử tại Thiền viện Nguyên Thủy đã được thể hiện rõ nét về tinh thần và cốt lõi nhất trong mọi quy định đặt ra ở đây được chấp hành nghiêm chỉnh và luôn thể hiện sự tôn trọng và chính chắn trong mọi cư xử với nhau ở mọi nơi. Như lời của Đức Phật dạy các đệ tử của mình: “Hãy sống hoà thuận với nhau với lòng tôn trọng, chớ đừng có tranh cãi, hòa hợp như nước với sữa và hãy luôn nhìn bằng đôi mắt từ ái”.

A)- Khi đến / khi đi:

Thiền viện Nguyên Thủy hoan hỷ đón nhận hành giả có nhu cầu tu học về với Thiền viện, hoan hỷ hướng dẫn quý vị khi đến cũng như khi đi theo nội quy của Thiền viện.

a)       Quý vị đến tu học xin vui lòng đến gặp Ban tổ chức để đọc kỹ về thư cam kết và nội quy, sau khi đồng ý quý vị sẽ làm thủ tục đăng ký, kê khai lý lịch.

Khi đến đăng ký tu học xin vui lòng mang giấy Chứng minh nhân dân để làm thủ tục đăng ký tạm trú. Ban tổ chức sẽ sắp xếp nơi nghỉ, phân phát vật dụng cần thiết cho quý vị.

b)      Tuân thủ theo các quy định nội quy. Nếu quý vị xin đi về trước thời hạn đăng ký thì lần sau không được chấp nhận tu học lại.

Khi rời khoá thiền, xin vui lòng hoàn trả lại cho Thiền viện vật dụng đã giao khi mới đến.

Không được đi vắng qua đêm và mang theo vật dụng mà Thiền viện giao. Không mang theo tiền bạc, tư trang, đồ quý giá. Nếu có xin vui lòng gởi Ban tổ chức. Nếu tự giữ lấy rủi có mất mát thì ban tổ chức không chịu trách nhiệm.

c)      Khi ra về không được bỏ vật dụng cá nhân lại. Kiểm tra hành trang của mình và không mang đồ vật của Thiền viện ra đi.

d)      Tránh quan hệ, giao thiệp với những người ngoài Thiền viện hay người không quen biết. Trừ khi cần thiết có lý do chính đáng và có sự đồng ý của Thiền sư hay Thiền viện trưởng. Nếu các vị Thiền sư đồng ý thì báo Ban tổ chức. Nếu đi lâu hơn ở qua đêm cho biết cụ thể khi nào đi, ở đâu, phương tiện gì và khi nào trở lại Thiền viện.

B)- Y phục:

1)      Đối với y phục của quý chư Tăng Ni thiền sinh hay Tu nữ thiền sinh thì mặc theo hệ phái của mình.

2)      Đối với cư sĩ, Phật tử nữ, nam sẽ mặc đồng phục theo mẫu Thiền viện.
Nam: áo trắng, quần nâu.

Nữ: áo trắng, váy nâu, khăn giới nâu và mỗi Thiền sinh phải có toạ cụ để ngồi khi hành thiền hay khi đi trình pháp (đồng phục có bán tại Ban tổ chức, quý vị mua hay tự may)

3)      Ăn mặc lịch sự trang nghiêm, không ăn mặc luộm thuộm, dơ bẩn khi đi hành thiền hay tới nơi đi bát

4)      Vật dụng giao cho quý vị gồm có: mùng, mền, móc áo, ghế bố (chiếu), bát dùng để ăn cơm, … Khi về vui lòng giặt giũ và gởi lại Ban tổ chức. Nếu để hư hao hay mất xin vui lòng bồi hoàn lại (vì vật dụng thuộc về Tam Bảo). Tại Thiền viện có dịch vụ giặt ủi.

C)- Về cốc liêu:

Hãy chấp nhận sự sắp xếp chỗ ăn, nghỉ của Ban tổ chức, không được tự ý dời chỗ cho nhau khi chưa có sự đồng ý của Ban tổ chức.

Bất cứ ai có vấn đề nhu cầu liên quan chỗ ở, chỗ nghỉ xin vui lòng liên hệ Ban tổ chức.

D)- Tài Sản:

Tài sản Thiền viện là của Tam bảo. Vì thế mong quý vị lưu ý bảo quản tài sản Thiền đường, Thiền xá như tài sản của cá nhân mình.

E)- Về Giới:

Vì lợi ích của mọi người cũng như sự thực hành của quý vị, xin hãy luôn giữ gìn tám (8) giới và tuân thủ nghiêm túc. Mọi người được khuyến khích giữ giới đúng. Đối với Phật tử và hành giả việc giữ giới là bắt buộc. Ngoại trừ giới thứ sáu (ăn sái giờ) là phải xin phép Thiền sư chỉ trong trường hợp dạ dày, bao tử có vấn đề nghiêm trọng.

F)- Hướng dẫn chung:

1)      Hút thuốc, uống rượu, sử dụng các chất kích thích, an thần đều bị tuyệt đối cấm. Nếu quý vị bị phát hiện thì sẽ được mời ra khỏi Thiền viện.

2)      Vui lòng tôn trọng môi trường: không xả rác, không lãng phí điện nước.

3)      Giữ vệ sinh chung ở Thiền đường, Thiền xá, nhất là phòng vệ sinh.

4)      Không được nói chuyện trong Thiền đường, Thiền xá, phải hạn chế nói chuyện với nhau, nhất là khi xếp hàng đi bát, thọ thực.

5)      Khi đi bát theo thứ tự hạ lạp, người cư sĩ cao tuổi được ưu tiên và đi trong chánh niệm. Chỉ nhận đủ cho mình số lượng thức ăn, không nên nhận nhiều quá.

6)      Thuốc uống đặc trị phân chia liều lượng gởi Ban tổ chức, khi cần cấp cứu Ban tổ chức sẽ giúp đỡ. Thiền viện chỉ có những thuốc thông thường: cảm, sổ mũi, nhức đầu…

7)      Nếu quý vị muốn cúng dường bữa ăn cho Thiền sư hay Thiền sinh hoặc chư Tăng Thiền viện, quý vị vui lòng liên hệ Ban tổ chức để được giúp đỡ.

8)      Không được tự ý dâng thức ăn, thức uống đến Thiền sư. Nếu muốn cúng dường xin vui lòng gặp Ban tổ chức để được hướng dẫn dâng cúng đúng pháp, đúng luật.

9)      Nếu có nhu cầu mua sắm vật dụng cá nhân hãy đến gặp Ban tổ chức (Cô Hạnh Giàu) nhờ giúp đỡ.

10) Đồ dùng được giao: Bát, mùng, móc áo, dép… quý vị nhận, bảo quản và lúc về giao lại sau khi đã giặt sạch. Nếu thất lạc xin bồi hoàn lại (của Tam bảo)

11)  Mọi vật dụng: nơi để giày dép, lối đi dành cho nam, nữ phân biệt có quy định xin vui lòng chấp hành đúng. Nơi nghỉ, ngủ khi sáng thức dậy sắp xếp gọn đẹp và không treo áo quần nơi phòng ngủ.

12)  Giữa 7 giờ và 7 giờ 30 sáng, Thiền sinh phải dọn dẹp sạch sẽ cốc liêu nơi chỗ mình ngủ, nghỉ, quét dọn khu vực quanh lối đi hay khu vực gần đó, hoặc phụ giúp quét dọn Thiền đường, Thiền xá, Chánh điện, khu vực công cộng, lối đi, nhà vệ sinh…

13)  Nam hành giả không được tiếp nữ hành giả trong cốc liêu hay trong khu vực mình ở và ngược lại cho nữ giới.

14)  Mọi việc nói chuyện nam – nữ phải được diễn ra nơi công cộng.

15)  Một người nữ không được tiến đến 1 vị Tăng mà không có người nam bên cạnh để hiểu hai bên nói gì, cho dù 2 hay nhiều phụ nữ hơn đến gần Tăng cũng không được, dù trong cốc hay ngoài khu vực khác.

16)  Yoga, khí công và các loại hình khác và thể dục chỉ được thực hiện nơi cá nhân, riêng tư, không được phép thực hiện ở nơi công cộng và tuyệt đối không được dạy hoặc phổ biến những bài tập này cho thiền sinh.

17)  Phải giữ chánh niệm liên tục, chỉ nói chuyện khi cần thiết, không bàn luận thời sự, chính trị, gia đình, chuyện người khác. Cố gắng chuyên tâm tu tập.

18)  Điện thoại di động mang theo yêu cầu không được sử dụng, phải gởi đến Ban tổ chức, nếu phát hiện cất giữ sẽ được mời ra khỏi Thiền viện.

19)  Những thực phẩm được phép sử dụng sau bữa trưa: nước nóng và lạnh, nước trái cây tươi, nước sâm, trà gừng, nước mía, trà thuốc được dùng sau 17:00 hàng ngày.

-  Trường hợp bệnh cần uống thuốc theo toa bác sĩ hay mệt mỏi được phép sử dụng mật ong (liên hệ Ban tổ chức)

-  Khi có sự hiểu lầm xảy ra, hãy báo cho Ban tổ chức để kịp thời giải quyết.

Việc Hành Thiền:

3h30 sáng: thức dậy vệ sinh cá nhân.

-       Mỗi thiền sinh phải ngồi 90 phút tập trung tại Thiền đường (không được ngồi ở cốc liêu, thiền xá), có thể ngồi dưới gốc cây hay bất cứ nơi nào thích hợp ôû ở chung quanh khuôn viên Thiền viện.

-       Thời gian ngồi thiền tập trung từ:

§      4:00 đến 5:00 sáng.

§      7:30 đến 9:00 sáng.

§      9:00 đến 10:30 sáng.

§      13:00 đến 14:30 chiều.

§      14:30 đến 16:00 chiều.

§      18:30 đến 21:00 tối.

-       Giờ trình pháp sẽ được Ban Tổ chức ấn định, vui lòng theo đúng lịch trình pháp đã được sắp xếp.

-       Sẽ có 2 thời thuyết pháp: 1 thời sáng, 1 thời tối.

-       Tiếng chuông điện reo là báo giờ ngồi thiền. Ăn sáng, ăn trưa trong 2 thời: Lúc 6 giờ ăn sáng và  Lúc 10:45 thiền sinh đi bát, ăn cơm trưa và tự rửa bát cất giữ.

-       Thiền sinh được khuyến khích tiếp tục thực hành trong mọi lúc bằng cả 2 cách: Ngồi thiền hoặc đi thiền kể cả trong thời gian ngoài chương trình và cả giờ cá nhân, nên ai có muốn tiếp tục thực hành trong Thiền đường thì Ban Tổ chức vẫn sẵn sàng hoan nghênh đón nhận.

-       Những thiền sinh mới đến, Ban tổ chức sẽ sắp xếp gặp Thiền sư để được hướng dẫn căn bản kỹ thuật hành thiền.

-       Thiền sinh bắt buộc phải trình pháp với Thiền sư theo sự sắp xếp của Ban tổ chức.

-       Thiền sinh bắt buộc phải thực hành theo lời dạy của Thiền sư, không nên hành những phương pháp Thiền khác.

-       Và để việc tu tập có kết quả tốt cho bản thân cũng như tỏ lòng tôn trọng Thiền sư, thiền sinh hãy diễn tả những kinh nghiệm hành thiền với sự chân thật tuyệt đối. Cách trình pháp phải ngắn gọn, súc tích và phản ánh được sự trải nghiệm của chính mình.

-       Tuyệt đối không được thảo luận việc thực hành thiền của mình với người khác hoặc nói về những thành tựu chứng đắc của mình. Những câu hỏi liên quan đến việc hành thiền chỉ được phép đưa ra đến vị Thiền sư trực tiếp hướng dẫn mình mà thôi.

-       Luôn luôn giữ chánh niệm trong mọi oai nghi: đi, đứng, di chuyển chậm rãi và nhẹ nhàng khi rời khỏi Thiền đường, đến chỗ ở của mình. Bất cứ việc gì làm hay nói cũng phải nghĩ đến người khác, nên tôn trọng người khác, đừng làm phiền người chung quanh mình.

-       Không mang bất cứ sách vở, tài liệu ngoài bài học liên quan đến khoá thiền, chai, lọ, túi nylon vào Thiền đường, Thiền xá, Chánh điện.

-       Không được làm ồn khi cầm chìa khoá, khi di chuyển cây mắc mùng, cũng như các động tác bật mở quạt và chú ý có những Thiền sinh khác ngồi hành thiền.

-       Không sử dụng các loại dầu gió nặng mùi, hay đồng hồ báo thức tại Thiền đường.

-       Phép lịch sự: Trong khi trình pháp, hãy giữ khoảng cách nhất định từ vị trí chỗ ngồi của Thiền sư và tuân thủ sự khiêm cung trong mọi hành xử.

-       Tham dự lễ bái Tam bảo vào mỗi buổi sáng và buổi chiều. Ngày Bát quan trai giới, Tu nữ tham dự xin giới vào buổi chiều.

-       Trong suốt khoá thiền, thiền sinh tạm ngưng thắp nhang đèn, chỉ tinh tấn hành thiền.

-       Thiền sinh không được vào bếp của Thiền viện.

-       Thiền sinh có nhu cầu gì cần giải quyết xin vui lòng liên hệ Ban tổ chức hoặc cô Hạnh Giàu.

Ban tổ chức rất hoan nghênh đón tiếp thiền sinh ưa thích tu tập và chấp hành tốt nội quy của Thiền viện để khoá tu đạt được kết quả tốt đẹp.

Xin vui lòng đọc kỹ trước khi đăng ký tu học.

Namo Buddhāya

Thiền viện trưởng Thiền viện NGUYÊN THỦY

Thượng Tọa Pháp Chất


Kinh Ngụy Tạo – Apocrypha

Tác giả Prof. KYOTO TOKUNO, Ph.D (hình trên)
Dịch sang Việt: PHẠM DOÃN

Giới chuyên môn Tây Phương dùng chữ APOCRYPHA – KINH ĐIỂN NGỤY TẠO để gọi văn học Phật giáo phát triển ở nhiều khu vực Á châu giả mạo những văn bản Phật giáo có gốc từ Ấn độ. Mớ bong bong của ngụy thư có nhiều nét chung, nhưng chúng không bao giờ thống nhất bằng cùng một kiểu mẫu (style) văn học hay cùng một nội dung.

Kinh điển ngụy tạo (Apocrypha) có đặc điểm chung là một loại văn học, vốn thuộc về các tôn giáo bản xứ, nhưng lại tự cho mình có nguồn gốc hoặc mối liên hệ với Phật giáo Ấn Độ. Điều này đòi hỏi phải đặt ra nhiều mức độ khác nhau về tính hợp chuẩn và độ tin cậy khi tham khảo nội dung của kinh điển.Một vài kinh ngụy tạo, đặc biệt của Phật giáo Đông Á, mạo nhận nó chính là giáo pháp của Đức Phật – Buddhavacana (Word of the Buddha) tức tự mạo nhận nó là KINH (Sutra). Kinh ngụy tạo đôi khi cũng tự mạo nhận là lời luận giảng về kinh từ một vị thày có tiếng tăm (hoặc có khi cũng vô danh) của Phật giáo Ấn Độ, tức nó tự mạo nhận là LUẬN (Sastra). Một số kinh ngụy tạo tuyên bố xuất phát từ tuệ giác của các đấng giác ngộ ở Ấn Độ hoặc là người được truyền thừa tuệ giác đó từ một dòng phái chính thức, ví dụ như trường hợp “các bộ Thánh Thư Quí Báu” (Gterma) của Tây Tạng cho là đã được dấu kín và rồi được khám phá lại bởi những người đủ cơ duyên. Một số kinh ngụy tạo được soạn thảo theo văn phong kinh điển kiểu kể chuyện, ví dụ như trường hợp bộ “Tiền thân Đức Phật” (Jataka) của khu vực Đông Nam Á. Như vậy cái phân biệt kinh ngụy tạo với Phật học bản xứ là kinh ngụy tạo luôn tuyên bố hoặc cố ý ám chỉ rằng nó xuất nguồn từ Ấn Độ. Sự tạo ra các văn bản ngụy tạo có mối liên hệ với bản chất của các bộ kinh Phật thật trong từng mỗi truyền thống. Các bộ kinh Trung Quốc hay Tây Tạng có nội dung luôn “để mở” hay “bỏ ngõ” với mục đích cho phép sự tiếp tục thêm vào dễ dàng các bản kinh mới từ Ấn Độ qua nhiều thế kỉ. Không còn nghi ngờ gì nữa, một tình huống như vậy đã tạo cảm hứng cho ý muốn tân trang các bản kinh và khích lệ sự sáng tạo ra các bản kinh gọi là kinh ngụy tạo. Kinh Pali của vùng Nam và Nam Á, trái lại đã được “cố định” rất sớm trong lịch sử, điều này khiến khó có thể thêm vào đó những nội dung nào khác.

Những đặc điểm chung ở trên đem đến một chỉ dẫn cho chức năng và mục đích của kinh ngụy tạo: Tích hợp tư liệu Ấn Độ vào những nội dung bản địa – đó có thể là tôn giáo, văn hóa xã hội, hoặc chính trị – bằng cách ấy nó xóa bỏ ý niệm rằng làm đồng hóa Phật giáo rất khó hoặc là không thể. Tác quyền trong văn bản truyền thống chính thức được mặc nhiên công nhận và thông qua để làm cho tôn giáo địa phương trở thành dễ hiểu đối với con người đương thời của vùng đất mới, nơi Đạo Phật được đưa vào. Thực tế lịch sử cho thấy, một vài văn bản giả đã đóng vai trò làm nhân tố phát triển nền văn hóa Phật giáo cục bộ địa phương, khi nó trở thành một phần của văn bản trong hay ngoài của kinh điển thực. Không phải tất cả kinh giả chỉ thuần túy nhằm mục đích phổ biến Phật giáo. Ví dụ, vài kinh giả Trung quốc đều cố ý đồng hóa những phong tục và cách thực hành tôn giáo có tính cục bộ địa phương bằng cách mạo nhận đấy là giáo pháp của Đức Phật.. Những ví dụ đó cho thấy (sức mạnh từ) thẩm quyền của thánh điển đã khiến sản sinh ra mảng văn học vượt ra ngoài giáo pháp thực sự của Đạo Phật, đồng thời tạo ra một loại hình văn bản thể hiện những nội dung tôn giáo cục bộ địa phương.

Trong bộ sưu tập các kinh giả, phải nói “kinh dị” nhất là các kinh giả của Đạo Phật Đông Á. Các kinh này mạo nhận cấp bậc cao nhất của truyền thống Ấn Độ bằng cách tự nhận là lời nói của chính Đức Phật. Hiển nhiên khi kinh ngụy tạo mạo nhận là thánh điển, nó không thể không bị phát hiện bởi các nhóm bảo thủ hay tư do trong cộng đồng Phật tử. Trong thời kỳ trung cổ các kinh giả trở thành đối tượng bị khinh bỉ nhưng ngược lại chúng cũng đã trở nên công cụ và lực lượng vật chất làm biến đổi ý nghĩa của Phật giáo.

Như vậy kinh ngụy tạo của đạo Phật Trung quốc là hình ảnh thu tóm tất cả sự phức tạp xung quanh các vấn đề lịch sử, lí lịch và chức năng của nó bao gồm một lãnh vực rộng hơn trong kinh điển Phật giáo.

Kinh ngụy tạo của đạo Phật Trung quốc

Kinh ngụy tạo của đạo Phật Trung Quốc được viết hầu như đồng thời với lúc khởi đầu các hoạt động dịch thuật kinh Phật vào giữa thế kỉ thứ 2 sau công nguyên. Theo ghi chép của Đại Tạng kinh Phật giáo, con số kinh ngụy tạo gia tăng liên tục qua các thế hệ cho đến ít nhất vào thế kỉ thứ tám. Các nhà làm danh mục phê bình kịch liệt các ngụy kinh, theo chuẩn mốc của họ, là “không có nguồn gốc rõ ràng” hoặc “đầy nghi vấn” hoặc lên án các ngụy kinh đã làm sói mòn sự toàn vẹn việc truyền bá kinh điển Phật giáo tại Trung quốc. Bất kể sự phối hợp của tập thể các nhà soạn danh mục, đồng thời với hội đồng của triều đình cố gắng loại bỏ các ngụy kinh bản xứ, mãi tận đến lúc kết tập cho lần in kinh lần thứ nhất (tại Trung Quốc) tức ấn bản của nhà Bắc Tống (971-983) thì việc tạo ngụy kinh mới giảm xuống rồi ngưng lại. Sự xuất bản các ngụy thư ở Trung quốc như vậy đã làm nên “hiện tượng” của thời kì gọi là “kinh điển viết dưới dạng bản thảo”. Khi những bản thảo viết tay có nguồn gốc địa phương lại có thể được chấp nhận là kinh và được xếp vào bộ thánh điển, thì giữa ngụy thư và kinh điển đã trở thành một phạm trù mơ hồ (không phân biệt được).

Khám phá của chuyên gia thời hiện đại về các kinh điển ngụy tạo cho thấy tính phức tạp và khó khăn khi xác quyết một văn bản về mức độ giả tạo kiến thức, cũng như khả năng làm nhái các văn bản Phật giáo, của tác giả các ngụy kinh. Thật không dễ dàng cho các chuyên gia thư mục xác định được tính chính thống của kinh điển. Phải có kiến thức rất rộng về Phật học mới có thể truy tìm những văn bản ngụy tạo đặc biệt khi chúng được tạo ra bởi những loại người thông hiểu lý thuyết và thực hành trong Phật giáo, nhất là người đó lại có thêm kỉ năng văn chương. Ngoài ra, trong nghiệp vụ đã có lúc phải cần đến sự thỏa thuận trong cẩn trọng, ví dụ trường hợp của Bộ Lịch Đại Tam Bảo Kí (Lidai Sanbao Ji – Record of the three Treasures) xuyên suốt các triều đại; 597- vì không có lí do khác hơn là một cuộc tranh cãi cần để tẩy uế bộ thánh điển sạch các yếu tố ngoại lai có thể làm Đạo Phật vướng vào sự chí trích của các đối thủ tôn giáo và tư tưởng như Đạo Lão và Đạo Khổng.

Vì khi tranh luận trong việc loại bỏ các yếu tố ngoại lai ra khỏi thánh điển có thể đưa Đạo Phật vướng vào sự chỉ trích của các đối thủ về mặt tôn giáo và tư tưởng như Đạo Lão và Đạo Khổng. Bộ Lịch Đại Tam Bảo Chí đã thêm vào nhiều nguồn tư liệu về tác giả và dịch giả không có thực, nhằm mục đích làm các văn bản của nó giống như của một bộ kinh thực sự chính thống. Và một khi các thuộc tính giả mạo được chấp nhận bởi bộ Thư Mục của triều đình (the Da-Zhou kanding zhongjing mulu – Danh mục kinh tạng, công bố bởi nhà Đại Chu năm 695) thì truyền thống Trung quốc buộc phải nhận thêm rất nhiều các văn bản giả tạo kiểu như thế vào bộ Đại Tạng Kinh. Bộ Khai Nguyên Thích Giáo Lục (Kaiyuan Shijiao Lu Record of Sakyamuni’s teaching), soạn vào đời Khai Nguyên năm 730- được cho là hay nhất trong tất cả các bộ Danh Mục Đại Tạng – Bộ này chỉ trích cả hai bộ Đại tạng trước đó. Nhưng chính bộ Khai Nguyên cũng không thể loại trừ tất cả những điều không chính xác trong quá khứ, điều này một phần cũng do ảnh hưởng nặng nề của truyền thống. Kinh ngụy tạo là một ví dụ lý tưởng cho sự lệch lạc giữa sự vận động và thỏa hiệp đạt được trong quá trình hình thành ra một truyền thống tôn giáo (bản xứ). Những kinh ngụy tạo này đã thêm vào chiều kích mới cho sự phát triển Đạo Phật Trung quốc một phần nhờ sự tình trạng tôn sùng kinh điển ở Trung quốc, nhưng quan trọng nhất là vì để đáp ứng nhu cầu cho chính tôn giáo và văn hóa tại Trung quốc.

Có khoảng 450 tựa đề kinh ngụy tạo Trung quốc liệt kê trong Danh Mục Đại Tạng kinh Nhưng thực ra tổng số tích lũy của ngụy thư viết ở Trung quốc gần đến con số 550, khi chúng ta tính cả hai loại bằng chứng văn học, ví dụ những văn bản không liệt kê trong danh mục nhưng lần lượt được tìm thấy trong tập hợp các văn bản Phật giáo và bản thảo tại Trung Quốc và Nhật Bản. Khoảng chừng một phần ba tổng số này còn tồn tại đến ngày nay, một con số lớn kinh ngạc đối với sự kiểm duyệt liên tục ngụy thư suốt thời Trung cổ. Tỉ lệ ngụy thư còn sót lại đã chứng minh cho tính “lợi hại” của kinh Phật ngụy tạo trong bản xứ và cũng chứng minh cho sự kiện người Trung Quốc tiếp tục tin dùng loại văn bản này, trong đó có cả nhà phân tích thông tuệ như Trí Di (538-597) [1], người hệ thống hóa trường phái Thiên Thai của Đạo Phật Trung Quốc. Sự bùng nổ của hiện tượng ngụy kinh tại Trung Quốc cũng đã thúc đẩy cho sự lan rộng kinh điển ngụy tạo tại các vùng khác thuộc Đông Á, mặc dù không nơi đâu lại nhiều bằng tại Trung Quốc.

Tập hợp các ngụy thư bao gồm cả hai loại: kinh ngụy tạo và các văn bản được bảo tồn như là nguồn tham khảo trong các bộ luận Trung Quốc. Kinh ngụy tạo cũng đã được tìm thấy trong bộ sưu tập các bản thảo thời trung cổ phát hiện trong hiện tại. Thứ nhất là kho cất dấu tại Đôn Hoàng ở Trung Á, được phát hiện trong thế kỉ 20, gồm các bản thảo từ thế kỉ thứ 5 đến thế kỉ thứ 11. Hai là các bản thảo kinh tìm thấy tại Nanatsu-dera ở Nagoya, Nhật Bản, được kết tập suốt thế kỉ 12, dựa vào các ấn bản kinh Phật trước đó. Vào năm 1990, phát hiện cho thấy có cả ngụy thư của Trung Quốc lẫn Nhật Bản. Điều kinh ngạc nhất trong lịch sử tìm kiếm là trong các bộ kinh được tìm thấy này là cuốn kinh Piluo Sanmei jing – the Scripture on the Absorption of Piluo, một cuốn kinh giả mạo nhưng được chứng thực trong danh mục Đại Tạng Kinh soạn bởi nhà sư học giả nổi tiếng Đạo An (312-385), trước đó thì kinh này không ai biết. Bản thảo kinh Phật tại Nhật Bản chỉ là bản sao của bộ ngụy thư có sớm nhất từ Trung Quốc. Các công cuộc tìm kiếm khác cũng không kém phần giá trị trong sự xác nhận toàn cảnh lịch sử của kinh ngụy tạo: Cả hai loại bản thảo tại Đôn Hoàng và tại Nanatsu-dera bao gồm nhiều tựa đề không thấy có trong các bảng danh mục Đại Tạng, bằng chứng chỉ ra rằng sự tự sáng tác ra kinh bản xứ còn nhiều hơn như trước đây người ta nghĩ. Hơn bao giờ hết, các học giả chuyên môn cần phải đề xuất ra hay phân loại một cách thuyết phục các kinh ngụy tạo tìm thấy ở Nanatsu-dera là soạn thảo của Nhật Bản dựa trên văn bản Ấn Độ, hay dựa trên kinh ngụy tạo ở Trung Quốc. Như vậy các ngụy thư còn tồn tại ở Nhật Bản được đóng vai trò là bằng chứng cho sự ảnh hưởng và phổ biến của loại văn bản còn tranh chấp nhưng rõ ràng “thực dụng” này.

Văn bản và nội dung

Tập hợp văn học ngụy tạo hiện còn tồn tại thách thức sự diễn đạt đơn giản, ví dụ mỗi văn bản có riêng một học thuyết hay một khuynh hướng thực hành, động lực, và mô thức văn học hay kĩ thuật. Vài kinh ngụy tạo rất khéo léo trong sự tổng hợp tài liệu của Phật giáo nguyên thủy (chính thống) từ Ấn Độ mà không nói bất cứ gì về nguồn gốc tộc hệ của chúng; tuy thế, một số kinh ngụy tạo khác tuyên truyền về những loại đức tin và những loại thực hành phổ biến tiêu biểu cho văn hóa bản địa, đồng thời thêm vào một cách vụng về cẩu thả những yếu tố Phật giáo nhằm mục đích giải thích cho cái tựa đề là “kinh” (tức Jing trong tiếng Trung Quốc). Đa số các kinh ngụy tạo Trung Quốc rơi vào hai cực đoan khi ca ngợi các đức tin và cách thực hành Phật giáo như là phương tiện để thu hoạch lợi ích vừa trần gian vừa tâm linh. Một số các nhà chuyên môn đã dự định thực hiện “phân loại hệ thống” (Typological classification) đối với tất cả các ngụy thư còn tồn tại, nhưng điều này sẽ còn khó khăn cho đến khi đã nghiên cứu toàn thể các ngụy thư và thấu hiểu các nội dung tôn giáo và văn hóa xã hội của chúng. Sau đây là những phê bình có chọn lọc về những nguyên cớ cho sự xuất hiện của các kinh giả tạo, điều này phản ánh cái cách mà giáo pháp của Đức Phật đã bị đóng khung và bị suy diễn.

Chúng ta bắt đầu bằng hai ví dụ kinh ngụy tạo từ học thuyết Đại Thừa ủng hộ một lý thuyết hay một cách thực hành không có phiên bản tương ứng trong Phật giáo Ấn Độ. Thứ nhất cuốn Khởi Tín Luận (Dasheng Qixin lun) tái tạo Phật giáo chính thống bằng cách tổng hợp ba khuynh hướng chính của học thuyết Ấn Độ: Tánh không (Sunyata), A Lại Da Thức (Alayavijnana) và Thai Tạng giới (Tatha Gatagarbha). Kinh này nhằm đặt ra một bản thể luận cho tâm trí con người, theo đó Tâm trí có thể đồng thời vừa vô minh vừa có giác tánh nội tại. Sau khi xuất hiện ở thế kỉ thứ sáu, bộ Luận Khởi Tín có lẽ đã trở nên ví dụ nổi bật của sự tác động của kinh ngụy tạo vào sự phát triển của hệ tư tưởng Phật giáo Trung Quốc, vì nó đã trở nên chất xúc tác cho sự hình thành các học thuyết của các giáo phái (pháp môn) bản xứ như Thiên Thai, Hoa Nghiêm, Thiền Tông (TQ). Văn bản ngụy thư cũng là ví dụ chủ yếu cho phương cách của một tác giả bản xứ chọn lọc phù hợp và tổng hợp một cách thông minh những văn bản Ấn Độ sao cho thích nghi hoàn hảo với bản chất tôn giáo Trung Quốc. Trường hơp thứ hai, cuốn Kinh Kim Cang Định (Jin’gang sanmei jing, Vajrasamadhi sutra) được tạo ra bằng sự pha trộn hỗn tạp tất cả các học thuyết Đại Thừa, nhằm cung cấp một nền tảng cho một hệ thống thực hành thiền và khẳng định hiệu quả giải thoát của hệ thống đó. Đây là một trong những những bản kinh lâu đời nhất của Thiền Tông của Trung Quốc và Đại Hàn, vì vậy có tính tiêu biểu lịch sử. Không giống trường hợp của các kinh ngụy tạo khác đã bàn đến trong bài viết này, một nghiên cứu cho rằng kinh này thực sự là tác phẩm của Đại Hàn từ thế kỉ thứ 7 (theo Buswell 1989). Bản ngụy kinh này, cùng với ngụy kinh tại Nhật bản đã đề cập ở phần trước, chính là thước đo cho mối liên hệ hữu cơ có được giữa Phật Giáo Trung Quốc với phần còn lại của Đông Á, và cũng cho thấy có sự kích động lan tràn của việc tạo tác kinh bản xứ ở khắp khu vực.

Một số kinh ngụy tạo thêm vào các nguồn dẫn và sự suy diễn với mục đích tăng cường một giá trị hay quan điểm nào đó của Đạo Phật với môi trường bản xứ. Giới luật, nền tảng của giải thoát Phật giáo, đã được kinh ngụy tạo thể hiện nổi bật như một chủ đề. Ví dụ như Kinh Phạm Võng (Fanwang Jing, Brahma’s bet sutra)). Kinh này thay đổi một phần giới luật của Bồ Tát đạo bằng cách thêm vào khái niệm Hiếu của Đạo Khổng, một xảo thuật lộ liễu phản lại cả truyền thống Trung Quốc cũng như nổ lực tương thích hai hệ thống giá trị quá khác biệt. Cũng phải nói đến những vấn nạn phát sinh khi đặt để những trói buộc có tính thế gian lên tăng đoàn và tăng sĩ. Sự pha trộn giữa giáo pháp và các mối quan tâm trần tục chính là điểm tiêu biểu cho các kinh ngụy tạo, như ta sẽ thấy dưới đây.

Có loại kinh ngụy tạo đưa ra giới luật nhấn mạnh một cách đặc biệt vào giới cư sĩ. Loại kinh như thế gồm các kinh như Piluo sanmei jing – the Scripture of the absorption of Piluo, Tiwei Jing – The scripture of Tiwei và Chingjing Faxing Jing – the Scripture of pure religious cultivation. Các ngụy kinh này dạy hướng dẫn đạo đức cơ bản cho cư sĩ, như ngũ giới, thập thiện, sự quan trọng của cúng dường tất cả được dựng trong học thuyết của Nghiệp và Tái sanh. Năm giới cư sĩ được cho là điều kiện đủ để đạt tới giác ngộ của Phật, một con đường cực kì đơn giản vạch ra để động viên sự tham gia của cộng đồng cư sĩ vào thực hành Đạo Phật. Những giới đó còn thường được coi như tối cao hơn năm đức của Khổng Giáo, hơn sự rối rắm siêu hình của thế giới quan cổ đại của người Trung Quốc, kể cả hệ thống âm dương, ngũ hành và năm tạng của Y học Lão Giáo. Khái niệm “Hiếu” thể hiện rất rõ trong kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân (Fumu enzhong jing – the Scripture on profound gratitude toward parent) đặt căn bản trên giáo huấn theo kiểu “24 ân phụ mẫu” của Khổng Tử. Ngụy thư tô đậm hành động cụ thể của người con bất hiếu và thúc đẩy anh ta phải báo đáp cha mẹ, phải hi sinh bằng cách cúng dường tam bảo (Phật, Pháp, Tăng). Loại kinh này là một trong những kinh ngụy tạo phổ biến nhất vào thời Trung cổ.

Luật nghiệp và tái sanh được đề cập ở trên là một chủ đề có khắp mọi nơi hay một hậu cảnh của kinh ngụy tạo. Văn bản được biết một cách phổ biến ví dụ như kinh Thập Điện Diêm Vương (the Shiwang Jing, the Scripture of the Ten Kings) minh họa giáo lý Đạo Phật Ấn Độ cho độc giả Trung Quốc bằng cách mô tả sự thanh tẩy sau khi chết. Sau khi chết, mỗi người phải lần lượt đi qua mười cửa địa ngục, mỗi địa ngục cai quản bằng một phán quan; số phận của của môt người sau khi chết tùy thuộc vào sự xét xử hành động của người đó lúc còn trên trần thế. Địa ngục kiểu phong kiến này là một sự đổi mới để phản chiếu cấu trúc chính trị-xã hội Trung Quốc. Ảnh hưởng rộng khắp của kinh này có thể được chuẩn hóa từ nhiều tranh ảnh, đá điêu khắc và tượng về Thập Điện Diêm Vương- với chuẩn mực trang phục, mũ mão truyền thống của các quan chức Trung Quốc- tất cả thấy ở nhiều nơi trong thời Trung cổ.

Các kinh ngụy tạo là sản phẩm ở những không gian và trong những thời gian đặc biệt, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi có sự phê phán tình trạng tôn giáo đó, hay sư phê phán toàn thể xã hội, cả cấp quốc gia mà chính sách của nó đã thực hiện đối với Đạo Phật. Những phê phán như thế đã thường thể hiện trong khái niệm về thuyết Mạt Thế gọi là Thời Mạt Pháp truyền vào từ các nguồn Ấn Độ.. Kinh Nhân Vương (Renwang Jing, Humane King sutra) mô tả sự thoái hóa tất cả các tầng lớp xã hội, thiên tai, dịch bệnh, quyền kiểm soát đất nước, sự suy đồi biến dạng Đạo Phật, buông lơi giới luật của Phật tử. Giải pháp được đề xuất cho khủng hoảng này là sự hoàn thiện Tuệ giác (trí huệ bát nhã), cái được tin là có thể khôi phục trật tự tôn giáo xã hội và ngay cả bảo vệ được sự diệt vong của đất nước. Kinh được phổ biến rộng trong thời Trung cổ của khu vực Đông Á, đặc biệt là trong giới cầm quyền ít nhất cũng là vì nó cũng khẳng quyết về việc bảo vệ quốc gia. Kinh Tỳ kheo Nguyệt Quang (Shoulo biqiu Jing – Scripture of Bhiksu Shoulo) đưa ra một giải pháp khác cho thời Mạt Pháp: Nó tiên tri một đấng cứu thế xuất hiện, Nguyệt Quang, vào lúc khủng hoảng và suy đồi đã đến lúc cực điểm. Một thông điệp cứu thế như vậy dĩ nhiên không thể không có cội nguồn từ Phật Giáo Ấn Độ- giáo phái thờ phật tương lai Di Lặc là một ví dụ- nhưng sự đề xuất một đấng cứu thế trong thế giới hiện tại có thể dễ bị giải thích như một sự lật đổ chính trị và là một thách thức cho nhà cầm quyền của chế độ thế tục. Kinh này là một kinh ngụy tạo đã bị thất lạc được tìm thấy tại Đôn Hoàng 1400 năm sau lúc có bằng chứng là nó được sáng tác.

Phần bài viết tới đây chỉ chạm đến một phần rất nhỏ câu chuyện về Kinh Phật Giáo ngụy tạo. Ngay cả khi đã được làm rõ, Kinh ngụy tạo vẫn chiếm chỗ quan trọng trong lịch sử Phật Giáo như một sự đổi mới và thích nghi để nối liền văn bản từ truyền thống Phật Giáo Ấn Độ với tôn giáo, văn hóa, xã hộ bản địa Trung Quốc. Tuy vậy chúng cũng cung cấp tài liệu vật chất cho các nghiên cứu liên văn hóa và nghiên cứu đối chiếu các thánh điển, các kinh trong các truyền thống tôn giáo khác nhau.

Chú thích của người dịch

[1] Trí Di (chữ Hán: 智顗; Wade-Giles: Chih-i; 538 – 597) được coi là Tổ thứ tư của Thiên Thai tông; đệ tử của Huệ Tư, Tổ thứ ba của Thiên Thai tông.
Ông tu trên núi Thiên Thai thuộc tỉnh Chiết Giang 22 năm cho đến khi mất để nghiên cứu Phật học. Tùy Dưỡng Đế đã ban cho ông danh hiệu Trí Giả, nên ông được người đời tôn xưng là Trí Giả đại sư hay Thiên Thai đại sư.
Hầu hết các sách tiếng Việt đều phiên tên ông là “Trí Khải“. Tuy nhiên tên đúng của ông phải là Trí Di. Encyclopædia Britannica (Từ điển Bách khoa Britannica) đã viết rõ về vấn đề này như sau, trong mục từ Chih-i:
Pinyin Zhiyi, also called Chih-k’ai Buddhist monk, founder of the eclectic T’ien-t’ai (Japanese: Tendai) Buddhist sect, which was named for Chih-i’s monastery on Mount T’ien-t’ai in Chekiang, China. His name is frequently but erroneously given as Chih-k’ai.

Source

Encyclopedia of Buddhism (Editor in Chief: Robert E. Buswell.Jr)

Apocrypha

by Kyoto Tokuno,

The term apocrypha has been used in Western scholarship to refer to Buddhist literature that developed in various parts of Asia in imitation of received texts from the Buddhist homeland of India. Texts included under the rubric of apocrypha share some common characteristics, but they are by no means uniform in their literary style or content. Apocrypha may be characterized collectively as a genre of indigenous religious literature that claimed to be of Indian Buddhist pedigree or affiliation and that came to acquire varying degrees of legitimacy and credence with reference to the corpus of shared scripture. Some apocrypha, especially in East Asian Buddhism, purported to be the BUDDHAVACANA (WORD OF THE BUDDHA) (that is, sutra) or the word of other notable and anonymous exegetes of Indian Buddhism (Sa stra). Others claimed to convey the insights of enlightened beings from India or of those who received such insights through a proper line of transmission, as in the case of Tibetan “treasure texts” (gterma) that were hidden and discovered by qualified persons. Still others were modeled after canonical narrative literature, as in the case of apocryphal JA TAKA (birth stories of the Buddha) from Southeast Asia. Thus, what separates apocrypha from other types of indigenous Buddhist literature was their claimed or implied Indian attribution and authorship. The production of apocryphal texts is related to the nature of the Buddhist CANON within each tradition. The Chinese and Tibetan canons remained open in order to allow the introduction of new scriptures that continued to be brought from India over several centuries, a circumstance that no doubt inspired religious innovation and encouraged the creation of new religious texts, such as apocrypha. The Pali canon of South and Southeast Asia, on the other hand, was fixed at a relatively early stage in its history, making it more difficult to add new materials.

The above general characterization offers a clue as to the function and purpose of apocrypha: They adapted Indian material to the existing local contexts—be they religious, socio cultural, or even political—thereby bridging the conceptual gulf that otherwise might have rendered the assimilation of Buddhism more difficult, if not impossible. The perceived authority inherent in the received texts of the tradition was tacitly recognized and adopted to make the foreign religion more comprehensible to contemporary people in the new lands into which Buddhism was being introduced. Indeed history shows that some apocryphal texts played seminal roles in the development of local Buddhist cultures as they became an integral part of the textual tradition both inside and outside the normative canon. But not all apocrypha were purely or even primarily aimed at promoting Buddhist causes. Some Chinese apocrypha, for example, were all about legitimating local religious customs and practices by presenting them in the guise of the teaching of the Buddha. These examples illustrate that the authority of SCRIPTURE spurred literary production beyond the confines of Buddhism proper and provided a form in which a region’s popular religious dimensions could be expressed in texts.

Of the known corpus of apocrypha, the most “egregious” case may be East Asian Buddhist apocrypha that assumed the highest order of Indian pedigree, by claiming to be the genuine word of the Buddha him- self. Naturally their claims to authenticity did not go unnoticed among either conservative or liberal factions within the Buddhist community. During the medieval period these texts became objects of contempt as well as, contrarily, materials of significant utility and force in the ongoing signification of Buddhism.

Thus Chinese Buddhist apocrypha epitomize the complexity of issues surrounding the history, identity, and function of Buddhist apocrypha as a broader genre of Buddhist literature.

Chinese Buddhist apocrypha

Chinese Buddhist apocrypha began to be written al- most contemporaneously with the inception of Buddhist translation activities in the mid-second century C.E. According to records in Buddhist CATALOGUES OF SCRIPTURES, the number of apocrypha grew steadily every generation, through at least the eighth century. Most cataloguers were vehement critics of apocrypha, as can be gauged from their description of them as either “spurious” or “suspected” scriptures, or from statements that condemned these scriptures as eroding the integrity of the Buddhist textual transmission in China. Despite the concerted, collective efforts of the cataloguers and, at times, the imperial court to root out these indigenous scriptures, it was not until the compilation of the first printed Buddhist canon, the Northern Song edition (971–983), that new textual creation waned and eventually all but ceased. The production of apocrypha in China was thus a phenomenon of the manuscript period, when handwritten texts of local origin could gain acceptance as scripture and even be included in the canon, the result being an enigmatic category of scripture that is at once inauthentic and yet canonical.

Modern scholarship’s discovery of such “canonical apocrypha” testifies to the complexity and difficulty of textual adjudication as well as to the authors’ sophisticated level of comprehension and assimilation of Buddhist materials. It was never easy for traditional bibliographical cataloguers to determine scriptural authenticity. Success in ferreting out apocryphal texts—especially when the texts in question were com- posed by authors with extensive knowledge of Buddhist doctrines and practice and with substantial literary skill—required extensive exposure to a wide range of Buddhist literature. In addition, the task was at times deliberately compromised—as in the case of the Lidai sanbaoji (Record of the Three Treasures throughout Successive Dynasties; 597)—for no other reason than the polemical need to purge from the canon any elements that might subject Buddhism to criticism from religious and ideological rivals, such as Daoists and Confucians. The Lidai sanbaoji added many false author and translator attributions to apocrypha in order to authenticate those texts as genuine scripture; and once its arbitrary attributions were accepted in a state-commissioned catalogue, the Da- Zhou kanding zhongjing mulu (Catalogue of Scriptures, Authorized by the Great Zhou Dynasty; 695), the Chinese tradition accepted the vast majority of those texts as canonical. The Kaiyuan shijiao lu (Record of Sakyamuni’s Teachings, Compiled during the Kaiyuan Era;

730)—recognized as the best of all traditional catalogues—was critical of both these predecessors, but even it was unable to eliminate all these past in- accuracies due in part to the weight of tradition. Canonical apocrypha are therefore ideal examples of the clash of motivations and compromises reached in the process of creating a religious tradition. These apocrypha thus added new dimensions to the evolv- ing Buddhist religion in China due in part to their privileged canonical status, but also, more importantly, because of their responsiveness to Chinese religious and cultural needs.

There are some 450 titles of Chinese apocryphal texts listed in the traditional bibliographical catalogues. In actuality, however, the cumulative number of apocrypha composed in China is closer to 550 when we take into account both other literary evidence, as well as texts not listed in the catalogues but subsequently discovered among Buddhist text and manuscript collections in China and Japan. Approximately one-third of this total output is extant today—a figure that is surprisingly large, given the persistent censorship to which apocrypha were subjected throughout the medieval period. This survival rate is testimony to their effective- ness as indigenous Buddhist scripture and attests to the continued reception given to these texts by the Chinese, even such knowledgeable exegetes as ZHIYI (538–597), the systematizer of the TIANTAI SCHOOL of Chinese Buddhism. The vitality of the phenomenon of apocrypha in China also catalyzed the creation of new scriptures in other parts of East Asia, though to nowhere near the same extent as in China proper.

The extant corpus of apocrypha includes both canonical apocrypha as well as texts preserved as citations in Chinese exegetical works. Apocrypha were also found in the two substantial medieval manuscript collections discovered in modern times. The first is the DUNHUANG cache of Central Asia discovered at the turn of the twentieth century, which included manuscripts dating from the fifth to eleventh centuries. The second is the Nanatsu-dera manuscript canon in Nagoya, Japan, which was compiled during the twelfth century based on earlier manuscript editions of the Buddhist canon. It was discovered in 1990 to have included apocrypha of both Chinese and Japanese origin. The most astonishing historical finding in this canon was the Piluo sanmei jing (The Scripture on the Absorption of Piluo), an apocryphon attested in the bibliographical catalogue compiled by the renowned monk-scholar DAO’AN (312–385), but previously un- known. The Japanese manuscript is the only extant copy of this extremely early Chinese apocryphon. Other findings are no less valuable in ascertaining the overall history of apocrypha: Both the Dunhuang and Nanatsu-dera manuscripts included many titles with no known record in the catalogues, evidence indicating that indigenous scriptural creation was even more prolific than had previously been recognized. More- over, scholars have suggested or identified convincingly some of the Nanatsu-dera apocrypha as Japanese compilations based on Indian texts or Chinese apocryphal materials. Thus the apocrypha extant in Japan serve as witness to the currency and impact of this contested, but obviously useful, material.

Texts and contents

The extant corpus of apocryphal literature defies simple description, as each text has its own unique doctrinal or practical orientation, motive, and literary style and technique. Some of the canonical apocrypha skill- fully synthesized orthodox Buddhist material from India without any apparent indication of their native pedigree; others, however, propagated popular beliefs and practices typical of local culture while including negligible Buddhist elements, save for the inclusion of the word sutra (jing) in the title. The majority falls somewhere between the two extremes, by promoting Buddhist beliefs and practices as the means of accruing worldly and spiritual merit. A few scholars have attempted to make typological classifications of all extant apocrypha, but these remain problematic until the corpus is thoroughly studied and understood in its religious and socio cultural contexts. What follows therefore is a selected review of some of the raison d’être of apocrypha, which are reflected in the ways in which Buddhist teachings are framed and presented.

We will begin with two examples of apocrypha that assembled MAHAYANA doctrine in ways that would support a theory or practice that had no exact counterpart in Indian Buddhism. First, the AWAKENING OF FAITH (DASHENG QIXIN LUN) reconstructed Buddhist orthodoxy by synthesizing three major strands of Indian doctrine—SUNYATA (EMPTINESS), ALAYA VIJNANA (storehouse consciousness), and TATHA GATAGARBHA (womb/embryo of Buddhas)—in order to posit an ontology of mind in which the mind could simultaneously be inherently enlightened and yet subject to ignorance. After its appearance in the sixth century, the Awakening of Faith became perhaps the most prominent example of the impact apocrypha had on the development of Chinese Buddhist ideology, as it became the catalyst for the development of the sectarian doc- trines of such indigenous schools as Tiantai, Huayan, and Chan. The text is also a prime example of the ways in which an indigenous author selectively appropriated and ingeniously synthesized Indian materials in order better to suit a Chinese religious context. Second, the Jin’gang sanmei jing (The Scripture of Adamantine Absorption, or Vajrasamadhi-sutra) is an eclectic amalgam of a wide range of Mahayana doctrine, which sought to provide a foundation for a comprehensive system of meditative practice and to assert the soteriological efficacy of that system. The scripture is also one of the oldest works associated with the CHAN SCHOOL in China and Korea, and is thus historically significant. Unlike other apocrypha discussed else- where in this entry, one study suggests that this sutra is actually a Korean composition from the seventh century (Buswell 1989). This scripture, along with Japanese apocrypha mentioned earlier, is thus a barometer of the organic relationship that pertained between Buddhism in China and the rest of East Asia and demonstrates the pervasive impetus for indigenous scriptural creation throughout the region.

Other apocrypha incorporated local references and inferences in order to better relate certain Buddhist values and stances to the surrounding milieu. PRECEPTS are the bedrock of Buddhist soteriology and figure prominently as a theme among apocrypha, as, for example, in the FANWANG JING (BRAHMA ’S NET SUTRA). This scripture reformulated the Mahayana bodhisattva precepts in part by correlating them with the Confucian notion of filial piety (xiao), a conspicuous maneuver that betrays both the Chinese pedigree of the text as well as its motive to reconcile two vastly different value systems. It also addressed problems arising from secular control over Buddhist institutions and membership—a blending of religious instruction and secular concerns that was not atypical of apocrypha, as we will see again below.

Other apocrypha that have precepts as a prominent theme specifically targeted the LAITY; such texts include the Piluo sanmei jing (The Scripture of the Absorption of Piluo), Tiwei jing (The Scripture of Tiwei), and Chingjing faxing jing (The Scripture of Pure Religious Cultivation). These apocrypha taught basic lay moral guidelines, such as the five precepts, the ten wholesome actions, and the importance of DANA (GIVING), all set within a doctrinal framework of KARMA (ACTION) and REBIRTH. These lay precepts are at times presented as the sufficient cause for attaining buddhahood, a radically simplified PATH that is no doubt intended to encourage the participation of the laity in Buddhist practice. These precepts are also often presented as being superior to the five constant virtues (wuchang) of Confucianism, or to any of the tangible and invisible elements of the ancient Chinese worldview, including the cosmological network of yin and yang, the five ma- terial elements, and the five viscera of Daoist internal medicine. The idea of filial piety is most conspicuous in the Fumu enzhong jing (The Scripture on Profound Gratitude toward Parents), which is based on the Confucian teaching of “twenty-four [exemplary types of] filial piety” (ershihsi xiao). The text highlights the deeds of an unfilial son and exhorts him to requite his parents’ love and sacrifice by making offerings to the three JEWELS (the Buddha, the dharma, and the SANGHA). The scripture has been one of the most popular apocrypha since the medieval period.

The law of karma and rebirth mentioned above is a ubiquitous theme or backdrop of apocrypha. The text commonly known as the Shiwang jing (The Scripture on the Ten Kings) illustrated the alien Buddhist law to a Chinese audience by depicting the afterlife in purgatory. After death, a person must pass sequentially through ten hell halls, each presided over by a judge; the individual’s postmortem fate depended on the judges’ review of his or her deeds while on earth. This bureaucratization of hell was an innovation that mirrored the Chinese sociopolitical structure. This scripture’s pervasive influence can be gauged from the many paintings, stone carvings, and sculptures of the ten kings—typically garbed in the traditional attire and headgear of Chinese officials—that were found in medieval East Asian Buddhist sites.

Given that apocryphal scriptures were products of specific times and places, it is no surprise that they also criticized not only the contemporary state of religion but also society as a whole, and even the state and its policies toward Buddhism. Such criticisms were often framed within the eschatological notion of the DECLINE OF THE DHARMA, which was adapted from Indian sources. The RENWANG JING (HUMANE KINGS SUTRA) described corruption in all segments of society, natural calamities and epidemics, state control and persecution of Buddhism, and the neglect of precepts by Buddhist adherents. The suggested solution to this crisis was the perfection of wisdom (prajña paramita ), whose efficacy would restore order in religion and society and even protect the state from extinction. The scripture was popular in medieval East Asia, especially among the ruling class, not least because of its assertion of state protection. The Shouluo biqiu jing (The Scripture of Bhiks u Shouluo) offered a different solution to eschatological crisis: It prophesized the advent of a savior, Lunar-Radiant Youth, during a time of utter disorder and corruption. Such a messianic message is of course not without precedent in Indian Buddhism—the cult of the future Buddha MAITREYA is the ubiquitous example—but the suggestion of a savior in the present world might easily be construed as politically subversive, and as a direct challenge to the authority of the secular regime. This scripture is one of those lost apocrypha that was discovered among the Dunhuang manuscript cache some fourteen hundred years after the first recorded evidence of its composition.

The preceding coverage has touched upon only a small part of the story of Buddhist apocrypha. Even this brief treatment should make clear, however, that apocrypha occupy a crucial place in the history of Buddhism as a vehicle of innovation and adaptation, which bridged the differences between the imported texts of the received Buddhist tradition and indigenous religion, society and culture. As such, they also offer substantial material for cross-cultural and comparative studies of scripture and canon in different religious traditions.

See also:
Daoism and Buddhism; Millenarianism and Millenarian Movements

Bibliography

Buswell, Robert E., Jr. The Formation of Ch’an Ideology in China and Korea: The Vajrasamadhi-Sutra, a Buddhist Apocryphon. Princeton, NJ: Princeton University Press, 1989.

Buswell, Robert E., Jr., ed. Chinese Buddhist Apocrypha. Honolulu: University of Hawaii Press, 1990.

Jaini, Padmanabh S., and Horner, I. B. Apocryphal Birth Stories (Paññasa-Jataka), 2 vols. London: Pali Text Society, 1985.

Kapstein, Matthew T. The Tibetan Assimilation of Buddhism: Conversion, Contestation, and Memory. Oxford: Oxford Uni- versity Press, 2000.

Makita, Tairyo. Gikyo kenkyu (Studies on Suspect Scriptures).Kyoto: Kyoto Daigaku Jinmon Kagaku Kenkyu sho, 1976.

Makita, Tairyo , and Ochiai, Toshinori, eds. Chugoku senjutsu kyoten (Scriptures Composed in China); Chugoku Nihon sen-jutsu kyoten: kanyaku kyoten (Scriptures Composed in China and Japan, Scriptures Translated into Chinese [Extractions]); and Chugoku Nihon senjutsu kyoten: senjutsusho (Scriptures and Commentaries Composed in China and Japan). Nanatsu-dera koitsu kyo ten kenkyu sosho (The Long Hidden Scriptures of Nanatsu-dera, Research Series), Vols.1–5. Tokyo: Daito Shuppansha, 1994–2000.

Mochizuki, Shinko. Bukkyo kyo ten seiritsushi ron (Study on the Development of Buddhist Scriptures). Kyoto: Ho zo -kan,1946.

Orzech, Charles D. Politics and Transcendent Wisdom: The Scrip- ture for Humane Kings in the Creation of Chinese Buddhism. University Park: Pennsylvania State University Press, 1998.

Teiser, Stephen F. The Scripture on the Ten Kings and the Making of Purgatory in Medieval Chinese Buddhism. Honolulu: University of Hawaii Press, 1994.

Tsukamoto, Zenryu . Tsukamoto Zenryu chosakushu , Vol. 2: Hokucho bukkyo shi kenkyu (Collected Works of Tsukamoto Zenryu , Vol. 2: Studies on the Buddhist History of North- ern Dynasties). Tokyo: Daito Shuppansha, 1974.

Yabuki, Keiki. Meisha yoin: kaisetsu (Echoes of the Singing Sands: Explanations). Tokyo: Iwanami Shoten, 1933.

Zürcher, Erik. “Prince Moonlight: Messianism and Eschatology in Early Medieval Chinese Buddhism.” T’oung-pao 68 (1982), 1–59.


Thể nhập THIỀN ĐỊNH và THIỀN TUỆ (bản mới update)

Hai bài Thuyết Trình về Thiền được trình bày tại
Hội Nghị Phật Giáo Thế Giới

Thể Nhập
Thiền Định (Samatha)

Thiền Tuệ (Vipassanā)

Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayadaw

Tiến Sĩ Mehm Tin Mon

Tâm Chánh dịch

Thiền Samatha – Vipassanā giờ đây có thể
thực hành thành công như chỉ dẫn của Đức Phật

 

 

Sabbadānaṁ dhammadānaṁ jināti

Sabbaṁ rasaṁ dhammaraso jināti

Sabbaṁ ratiṁ dhammaratī jināti

Taṇhakkhayo sabbadukkhaṁ jināti.

Pháp thí, thắng mọi thí!

Pháp vị, thắng mọi vị!

Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!

Ái diệt, dứt mọi khổ!

 

 

Đây là Món Quà Pháp, không dùng để bán.

Người dịch chỉ giữ bản quyền dịch, việc ấn tống, sao chép không cần xin phép người dịch. Toàn bộ nội dung quyển sách này đặt tại trang web: http://booktranslating.wordpress.com/

Giới Thiệu Tác Giả

Tiểu Sử Ngài Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayadaw[1]

Tôn giả Āciṇṇa được nhiều người biết đến với danh hiệu là “Tôn giả Pa-Auk Tawya Sayadaw” (và trong các trường hợp ít nghi thức hơn thì gọi là “Pa-Auk Sayadaw”. “Sayadaw” trong tiếng Miến Điện là một danh xưng tôn kính có nghĩa là “vị thầy đáng kính”.

Tôn giả Āciṇṇa sanh năm 1934 ở làng Leigh-Chaung, huyện Hinthada, ở vùng châu thổ cách thủ đô Yangon khoảng một trăm dặm về phía tây bắc. Vào năm 1944, lúc mười tuổi, ngài xuất gia làm sa-di (sāmanera) ở một thiền viện trong làng. Trong suốt thập niên tiếp theo, ngài theo đuổi đời sống của một vị sa-di, học Kinh Điển Pāḷi (bao gồm Luật (Vinaya), Kinh (Sutta) và Vi Diệu Pháp (Abhidhamma)) dưới sự chỉ dạy của nhiều vị thầy khác nhau. Ngài đã đậu ba kỳ thi về ngôn ngữ Pāḷi trong khi vẫn còn là một sa-di.

Năm 1954, vào tuổi hai mươi, Sayadaw thọ cụ túc giới làm một Tỷ-kheo. Ngài tiếp tục nghiên cứu Kinh Điển Pāḷi dưới sự hướng dẫn của các vị trưởng lão uyên bác. Năm 1956, ngài thi đậu kỳ thi Dhammācariya danh tiếng. Học vị này tương đương với bằng Cử nhân Phật Học Pāḷi và được phong danh hiệu “Pháp Sư”.

Trong suốt tám năm tiếp theo, Sayadaw du hành khắp nước Myanmar để tiếp tục nghiên cứu học hỏi Giáo Pháp (Dhamma) từ các bậc danh sư khác nhau. Năm 1964, vào mùa an cư mùa mưa (vassa) thứ mười, ngài chuyển sự chú tâm sang hành thiền mãnh liệt và thực hành “hạnh đầu đà ngụ trong rừng” trong suốt mười sáu năm tiếp theo. Ngài vẫn tiếp tục nghiên cứu Kinh Điển Pāḷi dù giờ đây ngài đã tìm ra và đã đạt được những chỉ dẫn từ các vị thiền sư tôn kính thời bấy giờ.

Năm 1981, Sayadaw nhận được tin nhắn từ ngài trụ trì Rừng Thiền Pa-Auk, Tôn giả Aggapañña. Ngài trụ trì sắp thị tịch và mời Tôn giả Āciṇṇa trông coi thiền viện. Năm ngày sau, Tôn giả Aggapañña qua đời. Là vị trụ trì mới của thiền viện, Tôn giả Āciṇṇa được biết đến là ngài “Pa-Auk Tawya Sayadaw”. Dù vẫn trông coi hoạt động của thiền viện, Sayadaw vẫn dành nhiều thời gian độc cư, hành thiền trong cốc tre ở đỉnh đồi của khu rừng vốn bao phủ một vùng đồi hoang vắng chạy dọc chân rặng núi Taung Nyo. Khu vực đó, sau này, trở thành Thiền Viện Khu Thượng.

Từ năm 1983, cả người xuất gia lẫn thế tục đã tìm đến học thiền với ngài Sayadaw. Thiền sinh ngoại quốc bắt đầu đến thiền viện vào đầu những năm 1990. Khi danh tiếng của ngài Sayadaw vang xa vững chắc, Thiền Viện Khu Thượng dần được mở rộng từ một cái cốc đơn giản và một ít đệ tử thành hơn hai trăm năm mươi cốc (kuti) (cốc của thiền sinh) nằm trong rừng; một tòa thiền đường hai tầng cho nam và một thư viện (với văn phòng, phòng vi tính, và tăng xá nằm ở tầng trệt); một trạm xá; một nhà thương; một sảnh đi bát khất thực; một nhà ăn có hai tầng lầu; và một sảnh tiếp khách và trú ngụ cho ngài Sayadaw. Ở Thiền Viện Khu Hạ, cho bên nữ, cơ sở vật chất gồm hơn 180 cốc (kuti) một nhà bếp mới và một thiền đường ba tầng lầu (với khu vực ngủ ở tầng trệt) và một khu nhà tập thể năm tầng lầu.

Hiện tại (tháng 5/2010), trong dịp khóa thiền tích cực do ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw chủ trì, có gần hai ngàn vị tăng, tu nữ và thiền sinh thế tục cả người Myanmar và ngoại quốc đang tu tập tại Rừng Thiền Pa-Auk. Riêng thiền sinh người Việt Nam có gần tám mươi vị. Tính luôn người thế tục, vào dịp lễ, số người ở thiền viện đôi khi lên đến vài ngàn người.

Năm 1997, ngài Sayadaw xuất bản 5 tập sách khổng lồ với tựa đề là “Lộ Hành Đến Niết-bàn” (Nibbānagāmini Paṭipadā), giải thích chi tiết toàn bộ quá trình giảng dạy và được hỗ trợ bằng các trích dẫn phong phú từ Kinh Điển Pāḷi – hiện chỉ có ấn bản tiếng Myanmar và Sinhalese (tiếng Sri Lanka). Vào ngày 4/1/1999, với sự ghi nhận thành tựu của ngài Sayadaw, chính phủ Myanmar dành tặng ngài danh hiệu Aggamahākammaṭṭhānācariya, nghĩa là “Đệ Nhất Đại Thiền Sư”.

Ngài Sayadaw nói lưu loát tiếng Anh và có giảng dạy và chỉ đạo các khóa thiền bên ngoài Myanmar từ năm 1997. Các thông tin cập nhật về lịch trình giảng dạy của ngài Sayadaw có thể tham khảo tại trang web http://www.dhammaweb.net/
Tiểu Sử Tiến Sĩ Mehm Tin Mon[2]

Ông sanh ra ở làng Kamawet, huyện Mudon, tiểu bang Mon, nước Liên Bang Myanmar vào ngày 13/1/1934.

Cha mẹ ông là những người sùng kính đạo Phật. Họ là người dân tộc Mon và sống bằng nghề nông.

Ông theo học Đại Học Yangon năm 1951. Trong kỳ thi giữa khóa tổ chức năm 1953, ông đạt điểm cao nhất về Toán và Hóa Học và ông được tặng Huy chương Vàng Đại Học tên là Hoe Wah Kain cũng như Học bổng Đại Học.

Trong kỳ thi Cử Nhân Khoa Học tổ chức năm 1955, ông đứng đầu xuất sắc về Vật Lý, Hóa Học và Toán Học Thuần Túy. Ông lại được tặng Huy Chương Vàng Đại Học tên là Esoof Bimiah.

Năm 1956, ông đậu Cử Nhân Danh Dự Kỳ Thi Hóa Học với kết quả mỹ mãn và ông được trao Huy Chương Vàng Đại Học lần thứ ba tên là U Shwe Lay.

Năm 1957, ông đến Hoa Kỳ để học Đại Học Illinois theo Học bổng Nhà nước của Chính phủ Liên Bang Myanmar. Ở đây, ông cũng được tặng Học Bổng Đại Học cho hai năm liên tiếp do kết quả xuất sắc trong năm. Ông lấy bằng Thạc sĩ Khoa học năm 1958 và bằng Tiến Sĩ năm 1960. Ông cũng là thành viên của Hội Hóa học Danh dự Quốc gia Phi Lambda Upsilon và Hội Nghiên Cứu Khoa Học Sigma Xi.

Trong suốt thời gian 36 năm phục vụ đất nước từ năm 1956 đến 1992, bên cạnh các chức vụ giảng viên, trưởng khoa và giáo sư Hóa ở nhiều trường Đại Học và Học Viện, ông còn đứng đầu Hội Phật Học của Viện Dược (I), Hội Phật Học của Viện Giáo Dục và Hội Phật Học của Đại Học Mawlamyine. Ông cũng làm thư ký và sau đó là chủ tịch Trung Ương Hội Phật Học của các trường Đại Học và Học Viện ở Yangon từ năm 1983 đến 1986. Ông thành công trong việc gây dựng quỹ và xây dựng tòa nhà Dhammayone và thánh tháp (Pagoda) trong Đại Học Mawlamyine.

Tiến Sĩ Mehm Tin Mon còn xuất sắc trong các kỳ thi tôn giáo. Ông đứng đầu Kỳ Thi Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) ở hai cấp độ là Phổ Thông và Danh Dự lần lượt vào năm 1981 và 1983. Năm 1984, ông lại đứng đầu Kỳ Thi Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga). Các kỳ thi này được Bộ Tôn Giáo Myanmar tổ chức hàng năm.

Tiến Sĩ Mehm Tin Mon đã viết hơn ba mươi đầu sách về giáo dục cũng như về Phật Học. Ông du hành khắp Myanmar để giảng dạy Phật Pháp và tổ chức các lớp học tích cực về Vi Diệu Pháp. Ông được tặng thưởng danh hiệu Mahā Saddhamma Jotikadhaja (nghĩa là Bậc Đại Nhân Làm Chói Sáng Ngọn Cờ Chánh Pháp) của Chính Phủ Liên Bang Myanmar vào năm 1994 vì những đóng góp vượt bậc của ông đối với sự truyền bá Phật Pháp.

Tiến Sĩ Mehm Tin Mon được bổ nhiệm làm Cố Vấn của Bộ Tôn Giáo từ ngày 1/8/1993 và ông phục vụ Nhà nước với tư cách này từ đó cho đến nay.

Lời Người Dịch

Trước khi đi vào nội dung quyển sách, người dịch mong muốn chia sẻ với quý độc giả một số hiểu biết qua Kinh Điển của cá nhân mình về con đường tu tập để giải thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử. Nếu những hiểu biết này có điều làm quý độc giả không hoan hỷ, mong quý vị từ bi thứ lỗi.

Trong Kinh Kotigāma[3], Đức Phật giảng về nguồn gốc chúng sanh phải sanh tử luân hồi như sau:

- Này các Tỷ-kheo, do không giác ngộ, do không thông đạt bốn Thánh đế mà Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này. Thế nào là bốn?

Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo, nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này. Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Khổ tập nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này. Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Khổ diệt nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này. Do không giác ngộ, do không thông đạt Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, nên Ta và các Ông lâu ngày phải dong ruổi, lưu chuyển như thế này.

Như vậy, do không giác ngộ và không thông đạt Bốn Thánh Đế nên chúng ta cứ phải trôi lăn trong vòng sanh tử luân hồi. Và Đức Thế Tôn đã giảng rằng để đoạn tận khổ đau, thoát khỏi sanh tử luân hồi, chúng ta cần phải giác ngộ toàn bộ Bốn Thánh Đế trong Kinh Ngôi Nhà có Nóc Nhọn[4] như sau:

Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ tập, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ diệt, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau”; sự kiện này không xảy ra.

Ví như, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Không xây dựng tầng dưới của ngôi nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của ngôi nhà”, sự kiện này không xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ tập, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ diệt, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau”; sự kiện này không xảy ra.

Ví như, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi xây dựng tầng dưới của căn nhà có nóc nhọn, tôi sẽ xây dựng tầng trên của ngôi nhà”; sự kiện này có xảy ra. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ, sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ tập, sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ diệt, sau khi như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ đoạn tận khổ đau“; sự kiện này có xảy ra.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ tập”, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ diệt”, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

Và Đức Phật đã giảng thế nào là Bốn Thánh Đế trong Kinh Như Lai Thuyết[5] như sau:

Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỷ-kheo. Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn[6] là khổ.

Ðây là Thánh đế về Khổ tập, này các Tỷ-kheo, chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.

Ðây là Thánh đế về Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước.

Ðây là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, này các Tỷ-kheo, chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Như vậy, để chứng ngộ Thánh đế về Khổ Diệt (Niết-bàn) cũng như giác ngộ toàn bộ Bốn Thánh Đế, chúng ta phải thực hành Thánh Đế về Con đường đưa đến Khổ Diệt. Và Đức Phật đã giảng về Khổ diệt đạo Thánh đế trong Kinh Đại Niệm Xứ[7] như sau:

Này các Tỷ kheo, thế nào là Khổ diệt đạo Thánh đế. Ðó là bát chi Thánh đạo, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.

Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh tri kiến? Này các Tỷ kheo, tri kiến về Khổ, tri kiến về Khổ tập, tri kiến về Khổ diệt, tri kiến về Khổ diệt đạo. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh tri kiến.

Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh tư duy? Tư duy về ly dục, tư duy về vô sân, tư duy về bất hại. Này các tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh tư duy.

Này các Tỷ kheo thế nào là Chánh ngữ? Tự chế không nói láo, tự chế không nói hai lưỡi, tự chế không ác khẩu, tự chế không nói lời phù phiếm. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh ngữ.

Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh nghiệp? Tự chế không sát sanh, tự chế không trộm cướp, tự chế không tà dâm. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh nghiệp.

Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh mạng? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, sinh sống bằng chánh mạng. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh mạng.

Này các Tỷ kheo, và thế nào là Chánh tinh tấn? Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo, đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn trừ diệt, vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn khiến cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn khiến cho an trú, không cho băng hoại, khiến cho tăng trưởng, phát triển, viên mãn. Vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh tinh tấn.

Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh niệm? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; quán cảm thọ trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; quán tâm trên các tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; quán pháp trên các pháp, tinh cần tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh niệm.

Này các Tỷ kheo, thế nào là Chánh định? Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Tỷ kheo ấy diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tỷ kheo ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Tỷ kheo ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ kheo, như vậy gọi là Chánh định.

Như vậy, Đức Phật đã dạy Khổ Diệt Đạo Thánh Đế chính là Bát Thánh Đạo, vậy thì trong Giáo Pháp của Đức Phật có con đường nào khác ngoài Bát Thánh Đạo nữa hay không? Trong Kinh Đại-Bát-Niết-Bàn[8], Đức Phật đã dạy về điều này.

- Này Subhadda, trong pháp luật nào không Bát Thánh đạo, thời ở đây không đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng không đệ nhị Sa-môn, cũng không đệ tam Sa-môn, cũng không đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào Bát Thánh đạo, thời ở đây đệ nhất Sa-môn, cũng đệ nhị Sa-môn, cũng đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này Bát Thánh Ðạo, thời này Subhadda, ở đây đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng đệ nhị Sa-môn, cũng đệ tam Sa-môn, cũng đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những vị Tỷ-kheo này sống chơn chánh, thời đời này không vắng những vị A-la-hán.

Như vậy, không một chúng sanh nào có thể chứng ngộ Thánh đế về Khổ diệt (Niết-bàn) mà lại không cần thực hành đúng đắn Bát Thánh Đạo. Chúng ta không thể chứng ngộ Niết-bàn với “Một Đạo” là Chánh Niệm hay “Hai Đạo” là Chánh Niệm và Tỉnh Giác (một “đạo” mới) hay “Bảy Đạo” là Tám Đạo trừ Chánh Định. Với ba-la-mật chân thật đã viên mãn và trí tuệ của một vị Phật Toàn Giác, Đức Phật đã không hề liên hệ gì đến cái gọi là “Thất Thánh Đạo” dành riêng cho người có ba-la-mật đặc biệt nào, từ Đức Phật cho đến ngài Sāriputta, ngài Mahā Moggallāna và cho đến các vị Thường Thanh Văn. Tuy nhiên, với trí tuệ phàm nhân, chúng ta hoàn toàn có thể thêm bớt, sửa đổi đạo lộ giải thoát và cho rằng các đạo lộ “tân kỳ” ấy cũng dẫn đến Niết-bàn. Tất nhiên, với sự tu tập theo pháp môn “tân kỳ” ấy, chúng ta sẽ rất dễ dàng và nhanh chóng chứng đắc Niết-bàn, và Niết-bàn ấy đương nhiên cũng là Niết-bàn “tân kỳ”, tức là nó không có liên hệ gì đến sự đoạn tận khổ đau, chấm dứt sanh tử luân hồi. Và cùng với sự sáng tạo ra pháp môn mới, chúng ta chính thức trở thành một vị tổ mới trong Đạo Phật. Tóm lại, để có thể chứng ngộ Niết-bàn – sự diệt tận hoàn toàn năm thủ uẩn (Khổ Đế) và các nhân sanh ra năm thủ uẩn (Khổ Tập Đế), sự an lạc tối hậu, có bản chất là thường, lạc và vô ngã – như lời Đức Phật chỉ dạy, chúng ta không thể không nỗ lực tu tập đúng đắn chỉ duy nhất Bát Thánh Đạo theo lời dạy của Đức Phật.

Trong Kinh Định[9], Đức Phật đã giảng làm thể nào để như thật rõ biết Bốn Thánh đế như sau:

- Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có định, như thật rõ biết (pajānāti). Và như thật rõ biết gì?

Như thật rõ biết: “Ðây là Khổ”. Như thật rõ biết: “Ðây là Khổ tập”. Như thật rõ biết: “Ðây là Khổ diệt”. Như thật rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có định, như thật rõ biết. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ”. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ tập”. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Khổ diệt”. Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: “Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt”.

Như vậy, nếu không có Chánh Định, chúng ta sẽ không thể viên mãn được Bát Thánh Đạo cũng như không thể như thật rõ biết Khổ Đế, Khổ Tập Đế và càng không thể chứng ngộ Niết-bàn. Vai trò quyết định của Chánh Định đối với sự giải thoát lại được Đức Phật chỉ dạy một lần nữa trong Kinh Đại-Bát-Niết-bàn[10], trước khi Ngài nhập Vô Dư Niết-bàn như sau:

Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt bốn Pháp mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Giới mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Ðịnh mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Tuệ mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh giải thoát mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử.

Như vậy, chúng ta không thể chấm dứt tử sanh luân hồi nếu không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Giới Học. Cũng tương tự như vậy đối với Thánh Định Học và Thánh Tuệ Học. Do vậy, chúng ta cần phải thực hành viên mãn toàn bộ ba Thánh Học này mà không thể bỏ sót hay phỉ báng bất kỳ Thánh Học nào. Với sự thực hành viên mãn toàn bộ ba Thánh Học này mà chúng ta mới giác ngộ và chứng đạt được Thánh Giải Thoát. Với sự giác ngộ và chứng đạt toàn bộ bốn Pháp này mà chúng ta giải thoát được khỏi sanh tử luân hồi và đoạn tận được khổ đau.

Vì những lý do trên, nếu không dựa trên nền tảng Chánh Định (Thánh Định) nói riêng và Bát Thánh Đạo nói chung thì tất cả các phương pháp tu tập với thân và tâm chỉ là các giải pháp tâm lý trị liệu hay là các phương cách tự kỷ ám thị hoặc là các cách trị bệnh, tăng cường sức khỏe mà thôi. Mặc dù các giải pháp tâm lý trị liệu có thể giúp ta ngăn ngừa một số phiền não hay một số hành động bất thiện, cũng như các phương cách tự kỷ ám thị có thể giúp ta đạt được ít nhiều sự an lạc; nhưng tựu chung tất cả các phương pháp này đều không thể giúp ta giải thoát khỏi sanh tử luân hồi.

Mỗi một đề mục thiền đều phải có đối tượng của nó. Với thiền Định thì đó chính là các pháp tục đế (khái niệm). Còn đối tượng của thiền Tuệ chính là đặc tính của các pháp chân đế, tức là đặc tính vô thường, khổ và vô ngã của cả năm thủ uẩn (Khổ Đế) và các nhân của chúng (Khổ Tập Đế). Điều này có nghĩa rằng không thể thực hành thiền Tuệ hay sát-na định (khanikasamādhi) của thiền Tuệ với đối tượng là đặc tính của các khái niệm như: chân tay, bụng, hơi thở, ánh sáng… Tương tự, ta cũng không thể thực hành thiền Tuệ hay sát-na định (khanikasamādhi) của thiền Tuệ với đối tượng là đặc tính của các khái niệm đã được ta gán (tự kỷ ám thị) cho cái tên mới là sắc, là danh mà lại không trực tiếp rõ thấy biết các đặc tính, phận sự, biểu hiện và nhân gần của chúng. Thiền Tuệ chỉ có thể được tiến hành trên đặc tính của các đối tượng mà nhờ ánh sáng trí tuệ của tâm có định, ta rõ thấy chúng là 28 sắc chân đế, 81 tâm hiệp thế, 52 tâm sở (Khổ Đế) và các nhân của chúng (Khổ Tập Đế) mà thôi. Chính do chúng ta thực hành thiền Tuệ, mà vào lúc đó, chúng ta chỉ thấy các danh – sắc chân đế cùng với các nhân của chúng, nhờ đó các khái niệm tục đế bị vắng mặt. Vào lúc thực hành thiền Tuệ, chúng ta thấy biết được toàn bộ vũ trụ này không là gì cả ngoại trừ danh và sắc cùng với các nhân của chúng. Chúng ta không thể nào tìm thấy đâu là bàn, ghế, đâu là chồng, vợ,… nữa mà thay vào đó là các thực thể danh – sắc (năm uẩn) cùng với các nhân của chúng sanh diệt liên tục theo mỗi sát-na thời gian và theo nhân duyên của chúng. Chính nhờ việc rõ thấy các thực thể danh chân đế và sắc chân đế, phá vỡ tính khối mà đặc tính vô ngã được hiển hiện rõ ràng. Và chúng ta chỉ thấy bàn ghế, chồng vợ,… trở lại khi nào chúng ta xuất khỏi thiền Tuệ mà thôi. Tất cả các pháp môn có đối tượng là các pháp tục đế (khái niệm) đều không thể liễu tri như thật đặc tính vô ngã. Chừng nào chúng ta còn thấy bàn, ghế là bàn, ghế thì chừng đó chúng ta đều luôn tự biết rằng chúng là của ta, hoặc của bạn ta, hoặc của chùa ta, hoặc của nước ta, hoặc của trái đất ta, hoặc của vũ trụ ta. Do vậy, chừng nào chúng ta còn thấy bàn, ghế, hơi thở, bụng, ánh sáng… thì chừng đó chúng ta chỉ có thể tưởng quán đặc tính vô thường, khổ, vô ngã của các khái niệm mà thôi; và chừng đó không thể nói rằng chúng ta đang tuệ quán đặc tính vô thường, khổ, vô ngã của các pháp hữu vi được. Cho đến khi nào chúng ta thành tựu được Tuệ Xác Định Danh-Sắc và đang thực hành thiền Tuệ thì lúc ấy chúng ta mới xua đuổi được tà kiến là thân kiến cho rằng có cái ta, có cái của ta, có cái tự ngã của ta. Riêng đối với các vị Arahant, là những bậc đã tận diệt toàn bộ mười kiết sử, ngoài lúc ngủ và ngoài lúc tác ý đến các pháp tục đế (khái niệm), thì các ngài chẳng bao giờ ngừng thấy sự sanh – diệt hoặc chỉ sự diệt của danh-sắc và các nhân của chúng, sự việc này kéo dài suốt ngày lẫn đêm và năm này qua tháng nọ.

Khi thực hành thiền tuệ, thấy biết được danh sắc và các nhân của chúng thôi thì chưa đủ mà còn phải rõ thấy, giác ngộ được các đặc tính vô thường, khổ và vô ngã của chúng. Vì các thực thể danh – sắc cùng với các nhân của chúng sanh diệt liên tục theo mỗi sát-na thời gian và theo nhân duyên của chúng mà tất cả các pháp hữu vi[11] là vô thường. Do tất cả các pháp hữu vi luôn bị đàn áp bởi sự sanh – diệt nhanh chóng và liên tục (vô thường) mà tất cả các pháp hữu vi đều là khổ. Chính vì không có một thực thể nào tồn tại tương đối vững bền cũng như không có một tự ngã nào ưa thích sự khổ; và hơn nữa, chẳng có một tự ngã nào là vật sở hữu, chịu sự điều khiển, tạo tác của chúng ta mà tất cả các Pháp[12] đều là vô ngã. Ngoài ra, chúng ta không chỉ tham ái và chấp thủ năm uẩn ở thực tại hiện tiền mà thôi, chúng ta còn tham ái và chấp thủ chúng ở cả quá khứ và tương lai. Do vậy, chúng ta không chỉ thực hành thiền tuệ với đối tượng là đặc tính của pháp hữu vi trong hiện tại mà chúng ta còn phải tuệ tri chúng ở cả quá khứ và tương lai. Do chúng ta tuệ tri đặc tính của tất cả các pháp hữu vi trong cả ba thời quá khứ, hiện tại và tương lai là vô thường, khổ và vô ngã mà ta dần đi đến sự ly tham, quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước đối với chúng.

Với sự giảng dạy về sự tu tập Định học và Tuệ học, trong Kinh Đại Niệm Xứ[13], Đức Phật đã giảng về Bốn Niệm Xứ.

Này các Tỷ kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn niệm xứ.

Thế nào là bốn? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời.

Như vậy, con đường độc nhất đi đến giải thoát là phải thực hành viên mãn cả Bốn niệm xứ. Đức Phật đã không liên hệ gì đến sự thực hành chỉ với một trong bốn niệm xứ là có thể đưa đến chứng ngộ Niết-bàn. Với sự thực hành lần lượt Bát Thánh Đạo về Thiền Định (Định học) có đối tượng là tục đế và Bát Thánh Đạo về Thiền Tuệ (Tuệ học) có đối tượng là Khổ Đế và Khổ Tập Đế, hành giả sẽ dần đi đến viên mãn Bát Thánh Đạo (Đạo Đế) Hiệp Thế. Với sự viên mãn Bát Thánh Đạo Hiệp Thế, Bát Thánh Đạo (Đạo Đế) Siêu Thế vốn lấy Niết-bàn (Khổ Diệt Đế) làm đối tượng sẽ ngay tức khắc được sanh khởi. Do Bát Thánh Đạo Siêu Thế có ba chi đạo về Giới là Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, ba chi đạo về Định là Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định và hai chi đạo về Tuệ là Chánh Tri Kiến và Chánh Tư Duy đồng sanh khởi có phận sự là tận diệt các phiền não mà Thánh Giải Thoát được thành tựu. Với sự viên mãn tam học Giới, Định, Tuệ và chứng ngộ Thánh Giải Thoát, hành giả chứng ngộ toàn vẹn Bốn Thánh Đế và thoát khỏi sanh tử luân hồi:

Này các Tỷ-kheo, khi Thánh Giới được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Ðịnh được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Tuệ được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Giải thoát được giác ngộ, được chứng đạt, thời tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa.[14]

Ngược lại, nếu chỉ tu tập với mỗi niệm thân hay niệm thọ hay niệm tâm hay niệm pháp, hành giả không thể thực hành viên mãn đầy đủ Định học cũng như không thể giác ngộ, không thể thông đạt sắc thủ uẩn[15], thọ thủ uẩn[16], tưởng thủ uẩn[17], hành thủ uẩn[18] và thức thủ uẩn[19] (Khổ Đế) và các nhân của chúng (Khổ Tập Đế) vốn là đối tượng của Tuệ học. Do không thể giác ngộ, không thể thông đạt năm uẩn (Khổ Đế) và các nhân của chúng (Khổ Tập Đế), chúng ta không thể chứng ngộ được Niết-bàn. Lại nữa, năm uẩn này không hề bao gồm trong nhau. Ví dụ, thọ uẩn không bao gồm trong nó sắc uẩn hay tưởng uẩn hay hành uẩn hay thức uẩn… Do vậy, chúng ta không thể nói rằng chỉ cần rõ biết một uẩn thì có nghĩa là rõ biết luôn cả các uẩn còn lại. Điều này cũng có thể ví như việc chúng ta biết chạy xe gắn máy (các loại) thì không có nghĩa là chúng ta biết chạy xe hơi nếu chúng ta chưa học lái xe hơi. Cụ thể, nếu chỉ thực hành niệm thân với đối tượng là sắc chân đế (quán sắc), hành giả chỉ có được trí tuệ hiểu biết về sắc chân đế mà thôi và không thể nào có được sự hiểu biết về các uẩn khác cũng như các nhân của năm uẩn. Còn nếu hành giả thực hành niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp với đối tượng không phải là đặc tính của 28 sắc chân đế, 81 tâm hiệp thế, 52 tâm sở (Khổ Đế) cùng với các nhân của chúng (Khổ Tập Đế) thì có nghĩa là hành giả đang thực hành tâm lý trị liệu kết hợp với tự kỷ ám thị mà thôi. Tuy rằng trong lộ trình tâm đắc đạo, theo bản chất, quy luật của tâm, các tâm tuệ minh sát còn là hiệp thế chỉ có thể bắt một trong ba đặc tính là vô thường hay khổ hay vô ngã của Khổ Đế hay Khổ Tập Đế (pháp hữu vi) làm đối tượng của nó, tức là lúc đó hành giả đang thực hành một trong bốn niệm xứ; nhưng trong quá trình tu tập thiền minh sát, hành giả cần phải tu tập thấu suốt, thông đạt ba đặc tính của cả Khổ Đế và Khổ Tập Đế, tức cả bốn niệm xứ, ở các lộ trình tâm khác nhau. Tóm lại, nếu không tu tập cả bốn niệm xứ một cách có hệ thống theo kinh điển, hành giả không thể giác ngộ được Bốn Thánh Đế để chấm dứt cái khổ sanh tử luân hồi.

Trong Kinh Tượng Pháp[20] (Kinh Giả Mạo Diệu Pháp), Đức Phật có giảng về việc Diệu Pháp bị giả mạo như sau:

Ở đây, khi nào các người ngu có mặt, chính họ làm diệu pháp biến mất.

Này Kassapa, có năm thối pháp khiến cho diệu pháp bị hỗn loạn và biến mất. Thế nào là năm?

Ở đây, này Kassapa, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống không tôn kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư, sống không tôn kính, không tùy thuận Chánh Pháp, sống không tôn kính, không tùy thuận Chúng Tăng, sống không tôn kính, không tùy thuận Học Giới, sống không tôn kính, không tùy thuận đối với Thiền Định.

Thật kỳ lạ là Đức Phật dạy về Tam học Giới, Định, Tuệ nhưng lại bảo chỉ riêng việc sống không tùy thuận Giới học và Định học là làm tiêu hoại Diệu Pháp. Trong khi đó, chúng ta ai cũng muốn thoát khổ nhanh nhất mà lại tốn ít công sức nhất và với trí tuệ phàm nhân của mình, nhiều người trong số chúng ta thấy rằng chỉ có Tuệ học mới là cứu cánh. Tuệ học là pháp luôn được mọi người kính trọng và mong được thực hành. Với suy luận như vậy, Tuệ học xứng đáng được coi là chỉ dấu cho Diệu Pháp. Và như vậy, trong khi coi Tuệ học là cứu cánh, ta dễ dàng từ bỏ Giới học và Định học. Tuy nhiên, trong Chánh Pháp, không thể thực hành Định học tốt đẹp mà lại không cần tu tập tốt Giới học, và càng không thể tiến hành Tuệ học mà lại không cần viên mãn Định học:

Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.[21]

Như vậy, khi sống không tôn kính, không tùy thuận Giới học và Định học thì tự động, ta không thể thực hành được Tuệ học. Và cái mà ta gọi là tu tập Tuệ mà không cần dựa trên nền tảng Giới và Định thì chẳng phải là Định mà cũng chẳng phải là Tuệ; do vậy mà Diệu Pháp sẽ bị hỗn loạn và biến mất.

Nhưng làm thế nào chúng ta có thể nhận biết được Chánh Pháp? Trong Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn[22], Đức Thế Tôn đã giảng về điều này.

- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bốn Ðại giáo pháp, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Các Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, Thế Tôn giảng như sau:

- Này các Tỷ-kheo, có thể có Tỷ-kheo nói: “Này Hiền giả, tôi tự thân nghe từ miệng Thế Tôn, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm“. Và này các Tỷ kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh“. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ nhất, các Ngươi hãy thọ trì.

Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia, có Tăng chúng ở với các vị Thượng tọa, với các Thủ chúng. Tôi tự thân nghe từ miệng Tăng chúng, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm“. Và này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh“. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ hai, các Ngươi hãy thọ trì.

Này các Tỷ-kheo, có thể có vị Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo Thượng tọa ở, những vị này là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe từ miệng những vị Thượng tọa ấy, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, và nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm“. Và, này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời ấy phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh“. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ ba, các Ngươi hãy thọ trì.

Này các Tỷ-kheo, có thể có Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia, có một vị Thượng tọa, vị này là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe từ Thượng tọa, tự thân lãnh thọ; như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, và nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời của Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm“. Và này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời ấy phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh“. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ tư, các Ngươi hãy thọ trì.

Vì chỉ có Đức Phật mới có đầy đủ trí tuệ để rõ biết và chỉ dạy về các chân lý nên tất cả các lời dạy theo ý kiến cá nhân, không phù hợp với Kinh điển của các vị pháp sư, các vị thiền sư hay các vị được người đời cho là Thánh Tăng đều là tà kiến. Có một điều mà chúng ta cần phải lưu ý ở đây là các vị Thánh Tăng thực sự thì không bao giờ đi ngược lại lời dạy của Đức Phật dù cho có phải hy sinh tính mạng của mình. Những cái gọi là phương tiện giáo hóa chúng sanh, đi ngược lại Kinh điển Nguyên Thủy của các vị thầy tổ không thể được xem là Pháp Bảo. Ngược lại, chính những lời dạy phù hợp với Kinh điển và các Chú giải Pāḷi của quý ngài ấy mới là những điều mà chúng ta nên tôn kính, nương tựa và thực hành nghiêm túc. Trong vô vàn các pháp môn mang danh nghĩa Đạo Phật hay nằm ngoài Đạo Phật, chúng ta không thể có đủ thời gian để tu tập viên mãn tất cả các pháp môn ấy để biết rằng nó không đưa đến sự chấm dứt tử sanh luân hồi. Trên thực tế, để được gọi là một pháp môn thì nó luôn luôn phải có một nền tảng lý thuyết và các loại thực chứng khác nhau. Và trong Đạo Phật thì chỉ có một pháp môn duy nhất, một con đường duy nhất để đoạn tận cái khổ tử sanh luân hồi, đó là Bát Thánh Đạo. Chúng ta không nên vì các kinh nghiệm thực chứng kỳ lạ của các pháp môn khác mà bỏ qua việc liên tục so sánh lý thuyết và thực chứng tu tập chúng so với Kinh Điển. Vì lý do này mà chúng ta cần phải dùng trí tuệ Pháp Học để biết được đâu là Chánh Pháp để chúng ta có thể tu tập đúng đắn và chấm dứt cái khổ sanh tử luân hồi trong thời gian ngắn nhất. Như vậy, trong khi Đức Thế Tôn, Bậc Ứng Cúng, Đấng Chánh Đẳng Giác hết lòng tán dương, cổ vũ việc tu tập Thánh Định và Bát Thánh Đạo[23] nói riêng cũng như Chánh Pháp nói chung; là các đệ tử của Đức Thế Tôn, chúng ta không nên tạo bất kỳ ác nghiệp nào liên hệ đến sự phỉ báng, xuyên tạc, chối bỏ Giáo Pháp của Đức Thế Tôn; đồng thời chúng ta cũng không a dua, mù quáng chạy theo các loại pháp môn có mang hay không mang danh nghĩa Đạo Phật của thế gian.

Ngày nay, trong xu thế thực hành cái gọi là thiền Tuệ (Vipassanā) mà không dựa trên nền tảng Chánh Định (thiền Định) ngày càng phát triển, ngài Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayadaw và Tiến Sĩ Mehm Tin Mon là một trong số ít người vẫn kiên định với lộ trình tu tập tam học Giới, Định và Tuệ của Đức Phật. Được phép dịch thuật của cả hai ngài đồng tác giả, tôi xin trân trọng giới thiệu quyển sách quý này. Đây là quyển sách trình bày rất tóm lược về Thiền Định và Thiền Tuệ dựa trên Kinh điển và các Chú giải Pāḷi của ngài Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayadaw và Tiến Sĩ Mehm Tin Mon.

Tuy đã nỗ lực tối đa nhưng tôi biết rằng bản dịch này vẫn còn nhiều sai sót, rất mong nhận được sự chỉ dạy và ý kiến đóng góp của quý độc giả. Mọi ý kiến đóng góp xin gởi email về địa chỉ booktranslating@gmail.com

Xin chân thành cảm ơn Sư Pháp Thông đã xem xét bản dịch. Xin cảm ơn cô Aggañani và em Bùi Quang Minh đã dành thời gian sửa chữa bản thảo bản dịch.

Công đức này xin dâng đến bố mẹ và anh trai của tôi là người đã bảo bọc và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc học tập và tìm hiểu Phật Pháp.

Cầu mong tất cả các chúng sanh đều được tiến hóa trong ánh hào quang của Chánh Pháp và mau chóng chứng ngộ Niết-bàn.

Idaṃ vo ñātinaṃ hotu, sukhitā hontu ñātayo.

Cầu mong phước thiện này thành tựu đến thân bằng quyến thuộc của tôi. Cầu mong thân bằng quyến thuộc được an lạc lâu dài.

Imaṃ puññabhāgaṃ mātā-pitu-ācariya-ñāti-mittānañceva sesasabbasattānañca dema, sabbepi te puññapattiṃ laddhāna, sukhitā hontu.

Tôi xin thành tâm chia sẻ phần phước thiện này đến tất cả các chúng sinh, nhất là cha mẹ, thầy tổ, bà con, thân bằng quyến thuộc, bè bạn, cùng tất cả chư thiên và nhân loại. Cầu mong tất cả hoan hỷ thọ nhận phần phước thiện này và được an lạc lâu dài.

Idaṃ me puññaṃ nibbānassa paccayo hotu.

Nguyện cho phước thiện này là duyên để tôi chứng ngộ Nibbāna.

Phật Ðản 2554, Dương Lịch 2010, TP. Hồ Chí Minh

Tâm Chánh

Hai bài Thuyết Trình về Thiền được trình bày tại
Hội Nghị Phật Giáo Thế Giới tổ chức tại Yangon, Myanmar

Thể Nhập
Thiền Định (Samatha)

Thiền Tuệ (Vipassanā)

Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayadaw

Tiến Sĩ Mehm Tin Mon

Lời Nói Đầu

Hai bài thuyết trình có tựa đề “Thể Nhập Thiền Định (Samatha Bhāvanā)” và “Thể Nhập Thiền Tuệ (Vipassanā Bhāvanā)” đã được đọc và thảo luận với sự quan tâm to lớn tại Hội Nghị Phật Giáo Thế Giới tổ chức tại Yangon, Myanmar, từ ngày 9/12 đến ngày 11/12 năm 2004, đã được in và xuất bản dưới hình thức cuốn sách hiện tại này vì sự lợi lạc của công chúng là những người muốn biết một sự giải thích ngắn gọn và súc tích về các khía cạnh thực hành của Đạo Phật được gọi là Samatha-Vipassanā.

Hai bài thuyết trình thực sự miêu tả tóm tắt cốt yếu về Thiền Định và Thiền Tuệ đang được hướng dẫn theo từng chi tiết một cách nghiêm ngặt theo đúng Giáo Pháp của Đức Phật tại các Trung Tâm Rừng Thiền Phật Học Quốc Tế Pa-Auk trên toàn nước Myanmar.

Cuốn sách này giới thiệu với độc giả cách thọ trì đúng đắn thiền Samatha-Vipassanā (Định-Tuệ) như đã được Đức Phật giảng dạy, tu tập chánh định và thấu suốt vào các pháp chân đế được gọi là “Paramattha”, xác định từng pháp chân đế một cách chính xác theo đặc tính, phận sự, biểu hiện và nhân gần nhất của nó, thẩm sát các mối quan hệ nhân-quả của Lý Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda) là cái đã vẽ nên vòng tái sanh một cách hoàn hảo và quán tất cả danh và sắc (nāma-rūpa), các nhân và các quả, bên trong và bên ngoài thuộc về quá khứ, hiện tại và vị lai là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta) theo nhiều cách khác nhau.

Nội dung và phạm vi của hai bài thuyết trình sẽ mô tả một cách rõ ràng rằng thiền Samatha-Vipassanā đang được giữ gìn và thực hành hoàn toàn ở nguyên bản thuần khiết ở nước Liên Bang Myanmar. Thực vậy, Myanmar gìn giữ và bảo vệ toàn bộ giáo pháp của Đức Phật cả về pháp học lẫn pháp hành (Pariyatti Paṭipatti) và có thể chia sẻ với thế giới vì sự lợi lạc của toàn thể nhân loại.

Thọ trì Thiền Định để tu tập chánh định và thực hành Thiền Tuệ để tu tập trí tuệ đến mức độ cao nhất nghĩa là đi trên con đường cao thượng nhất dẫn đến an lạc vĩnh cửu và hạnh phúc bất diệt gọi là Nibbāna. Mọi người được chào đón tham gia vào nhiệm vụ cao thượng đầy hoan hỷ này, điều mà chắc chắn sẽ đem lại lợi ích to lớn ngay trong kiếp sống này.

]œ

Hội Nghị Phật Giáo lần thứ tư,
Yangon, Myanmar

từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 12 năm 2004

Thể Nhập Thiền Định
(Samatha Bhāvanā)

 

 

Tôn Giả Āciṇṇa, Dhammācariya – Pháp Sư,

Aggamahākammaṭṭhānācariya – Đệ Nhất Đại Thiền Sư

Trưởng Ban Thiền Sư và Cố Vấn Thiền
Trung Tâm Rừng Thiền Phật Học Quốc Tế Pa-Auk, Myanmar

 

Tiến Sĩ Mehm Tin Mon,

Mahā Saddhamma Jotikadhaja – Bậc Đại Nhân Làm Chói Sáng Ngọn Cờ Chánh Pháp

Giáo sư Đại Học Quốc Tế Truyền Bá
Phật Giáo Nguyên Thủy

Chủ tịch Liên đoàn Bảo Hộ Giáo Pháp Đức Phật
của Rừng Thiền Quốc Tế Pa-Auk

 


Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn,
Bậc Ứng Cúng, Đấng Chánh Đẳng Giác

TÓM LƯỢC

Mục tiêu của Định Học (Samādhi-sikkhā) là để làm thanh tịnh tâm khỏi các triền cái (nīvaraṇa) và các phiền não (kilesa) khác để chứng đạt tâm thanh tịnh (cittavisuddhi) và làm tâm mạnh mẽ để thọ trì hiệu quả thiền Vipassanā.

Theo Kinh Ánh Sáng (Āloka Sutta[24]) và Kinh Ngủ Gục (Pacalāyamāna Sutta[25]), trí tuệ kết hợp với ngay từ chuẩn bị định (parikamma-samādhi) thì bắt đầu tỏa ánh sáng. Chúng tôi thấy rằng ánh sáng trở nên sáng hơn khi định tăng trưởng và ở mức độ cận định (upacāra samādhi), nó trở nên sáng chói và xuyên thấu đến nỗi có thể thấu suốt vào nội tạng bên trong và rồi đến các pháp chân đế (paramattha). Không có chánh định (sammāsamādhi) thì không thể quan sát được các pháp chân đế bằng thắng trí và do vậy không thể thực hành đúng đắn thiền vipassanā được. Đặc biệt, tứ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) được thấy là vũ khí tốt nhất để thọ trì hiệu quả thiền vipassanā.

Toàn bộ bốn mươi đề mục thiền định (samatha) mà Đức Phật mô tả được xem là để làm phát sanh chánh định đã được miêu tả trong kinh điển Pāḷi. Niệm Hơi Thở[26] (Ānāpānassati) được nhận thấy là phù hợp với nhiều hành giả để tu tập định đến bậc tứ thiền. Không giống như các đề mục thiền khác, niệm hơi thở (ānāpānassati) trở nên vi tế hơn ở các giai đoạn cao hơn cho đến khi không còn rõ ràng nữa. Như vậy, niệm mạnh và trí tuệ sắc bén là thiết yếu. Cũng vậy, tín (saddhā) mạnh mẽ, tấn (vīriya) dũng mãnh, nhẫn nại, định (samādhi) mãnh liệt, sự hướng dẫn đúng đắn và chánh trí (paññā) là cần thiết để tu tập niệm hơi thở (ānāpānassati) thành công.

Bất kỳ sự sai lệch nào khỏi các chỉ dẫn của Đức Phật đều được xem là sự trì hoãn tiến bộ. Sự giải thích đúng đắn các thiền tướng (nimitta), việc quân bình ngũ căn (indriya) và các yếu tố giác ngộ (Bojjhaṅga) và việc tu tập năm pháp thuần thục cho mỗi bậc thiền được xem là bắt buộc.

Với sự hỗ trợ của tứ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) niệm hơi thở (ānāpānassati), một hành giả có thể tu tập bốn Thiền Bảo Hộ[27] đến mức độ được yêu cầu một cách rất nhanh chóng để thọ hưởng tất cả các lợi ích. Cũng vậy, hành giả có thể dễ dàng tu tập mười biến xứ (kasiṇa[28]) để chứng đạt bốn thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) và rồi tiến lên chứng đắc bốn thiền vô sắc giới (arūpāvacara jhāna).

Thiền Xác Định Tứ Đại[29] (Catudhātuvavatthāna) được thấy là hữu hiệu nhất để tu tập cận định một cách nhanh chóng. Sau đó, hành giả có thể phân biệt tất cả 32 thân phần[30] (koṭṭhāsa) cả nội thân lẫn ngoại thân. Sau đó, với việc quán xét tính bất tịnh của bộ xương[31] ở nội thân hay ngoại thân, hành giả có thể tu tập sơ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna). Lại nữa, với việc lấy màu trắng của hộp sọ của hành giả ngồi trước mặt làm biến xứ (kasiṇa) trắng[32], hành giả cũng có thể tu tập tứ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna). Bậc thiền này được nhận thấy là tỏa ánh sáng rực rỡ hơn tứ thiền niệm hơi thở (ānāpānassati) và nó phục vụ như là một vũ khí tốt hơn để thọ trì thiền Vipassanā.

]

BÀI THUYẾT TRÌNH CHÍNH

Giới Thiệu

Chúng tôi vui mừng công bố tin tốt lành rằng nhiều hành giả là những người đã và đang hành thiền ở các Trung Tâm Rừng Thiền Phật Học Quốc Tế Pa-Auk của chúng tôi có thể tu tập chánh định (sammā-samādhi) bằng cách thọ trì thiền niệm hơi thở (Ānāpānassati) hoặc thiền xác định tứ đại (Catudhātuvavatthāna). Sau đó, họ có thể tiến đến thọ trì thành công bốn Thiền Bảo Hộ và tất cả mười Thiền Biến Xứ (Kasiṇa).

Yêu Cầu Tu Tập Định (Samādhi) Tâm

Bát Thánh Đạo bao gồm giới học (sīla-sikkhā), định học (samādhi-sikkhā) và tuệ học (paññā-sikkhā).

Giới học làm thanh tịnh tâm khỏi các phiền não thô và mãnh liệt (vītikkama-kilesa). Định học làm thanh tịnh tâm khỏi các phiền não sanh khởi và chao động (pariyuṭṭhāna-kilesa). Tuệ học làm thanh tịnh tâm khỏi các phiền não ngủ ngầm (anusaya-kilesa).

Như vậy, sau khi tu tập và gìn giữ giới thanh tịnh, các phiền não ám ảnh (pariyuṭṭhāna kilesa), bao gồm năm triền cái (nīvaraṇa), cứ vẫn tiếp tục làm chao động và giáng vào tâm, khiến tâm trạo cử và tán loạn.

Do vậy, Đức Phật khích lệ các đệ tử của Ngài trong Kinh Pháp Cú là phải tu dưỡng và thuần phục tâm để thọ hưởng an lạc và hạnh phúc.

Tâm khó thấy, tế nhị,

Theo các dục quay cuồng.

Người trí phòng hộ tâm,

Tâm hộ, an lạc đến.[33]

Trong Kinh Định (Samādhi Sutta[34]), Đức Phật khích lệ các Tỷ-kheo tu tập định để có thể như thật rõ thấy các pháp như chúng thực sự là.

“Samādhiṁ bhikkhave bhāvetha
Samāhito bhikkhave bhikkhu
yathābhūtaṁ pajānāti”

“Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập định. Tỷ-kheo có định sẽ liễu tri đúng như thật các pháp (Bốn Thánh Đế) như chúng thực sự là.”

Theo kinh nghiệm của chúng tôi, ngay cả khi hành giả có thể tập trung tâm mình vào đề mục thiền một cách liên tục trong một giờ hoặc hơn nữa, thì hành giả ấy vẫn chưa thể nhìn thấu vào trong cơ thể để thấy các cơ quan nội tạng của mình, đừng nói chi đến các pháp chân đế (paramattha), trừ khi hành giả ấy chứng đắc ít nhất là cận định (upacāra samādhi).

Khi một hành giả thật sự chứng đắc cận định hoặc bậc thiền (jhāna), hành giả ấy có thể thấu suốt vào trong cơ thể của mình để thấy các cơ quan nội tạng như thịt, gân, xương, gan, tim… và rồi thấu suốt hơn nữa để thấy các pháp chân đế. Như vậy, hành giả ấy có thể thọ trì thiền minh sát (vipassanā) một cách đúng đắn.

Như vậy, để hoàn thành định học, để tu dưỡng và thuần hóa tâm đến chánh định, và để tiến lên thiền Vipassanā một cách đúng đắn, chúng ta cần tu tập định tâm.

Theo lời tuyên bố của Đức Phật trong Kinh Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna Sutta[35]), chánh định (sammāsamādhi) là tương đương với định hợp với bất kỳ một trong bốn bậc thiền thiện sắc giới (rūpāvacara kusala jhāna).

Theo trình bày của Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi-magga[36]):

Citta visuddhi nāma sa upacāra aṭṭha-samāpattiyo

Cận định cũng như định hợp với bất kỳ một trong tám thiền chứng được gọi là tâm thanh tịnh

Như vậy, cận định nên được bao gồm trong chánh định. Một hành giả dùng hoặc cận định hoặc định bậc thiền (jhāna) như là nền tảng của thiền Vipassanā và thọ trì thiền Vipassanā xác định danh và sắc là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta). Định kết hợp với minh sát tuệ (vipassanāñāṇa) theo cách này được gọi là “khanikasamādhi” (sát-na định).

Đức Phật miêu tả bốn mươi đề mục thiền cho thiền định (samatha bhāvanā). Bất kỳ một trong bốn mươi đề mục thiền này đều có thể được chọn để tu tập chánh định, với điều kiện là các chỉ dạy của Đức Phật được tuân thủ một cách đúng đắn dưới sự hướng dẫn của một vị thiền sư có đủ năng lực.

Thọ Trì Niệm Hơi Thở (Ānāpānassati)

Niệm Hơi Thở (Ānāpānassati) là một trong những đề mục thiền hiệu quả nhất để tu tập định một cách nhanh chóng. Nó nhận được nhiều sự tán dương của Đức Phật[37],[38] và được sử dụng ở nhiều trung tâm thiền như là đề mục thiền đặc biệt (pārihāriya kammaṭṭhāna) để tu tập định. Nếu thực hành một cách đúng đắn theo chỉ dẫn của Đức Phật, nó có thể tu tập tâm đến tứ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) theo hệ thống thiền (jhāna) bốn bậc.

Niệm Hơi Thở (Ānāpānassati) nên được tu tập theo bốn bước theo Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm (Ānāpānassati Sutta), đó là, (1) nhận biết hơi thở dài, (2) nhận biết hơi thở ngắn, (3) nhận biết toàn thân hơi thở, (4) an tịnh hơi thở. Trong thực hành, theo hướng dẫn được đưa ra trong các Chú giải, đầu tiên hành giả được dạy nhận biết hơi thở vào (assāsa) và hơi thở ra (passāsa) bằng phương pháp Đếm[39] (Gaṇanānaya) để phát triển niệm một cách nhanh chóng.

Hành giả (yogi) nên nhận biết hơi thở vào và hơi thở ra nhờ sự xúc chạm nhẹ nhàng của chúng ở đầu mũi hoặc lỗ mũi hay ở môi trên, bất kỳ chỗ nào mà sự xúc chạm là rõ ràng trong khi hành giả ngồi thẳng lưng, buông lỏng với mắt nhắm và thở một cách bình thường.

Chỉ khi hành giả thực hành niệm hơi thở (ānāpānassati) bằng cách an trú niệm trên hơi thở ở điểm xúc chạm rõ ràng với hơi thở vào và hơi thở ra thì hành giả mới hoàn thành đầy đủ định niệm hơi thở (ānāpānassati) và thiền[40]

Hành giả nên tập trung tâm mình ở một điểm (điểm xúc chạm) trên hơi thở để phát triển nhất tâm (ekaggatā), là một tâm sở đại diện cho định (samādhi). Hành giả không nên để tâm mình lang thang đến các đối tượng giác quan khác hay bất kỳ cảm giác thân thể nào không phải là đề mục niệm hơi thở (ānāpānassati).

Phương Pháp Đếm

Trong việc đếm hơi thở, hành giả nên thở vào, thở ra và đếm một; thở vào, thở ra và đếm hai, và cứ thế tiếp tục đến tám với sự tôn kính Bát Thánh Đạo. Khi tâm vẫn lặng lẽ gắn chặt vào hơi thở khoảng một giờ đồng hồ trong mỗi thời ngồi thiền, hành giả có thể dừng việc đếm và tiếp tục nhận biết hơi thở một cách lặng lẽ. Khi hành giả có thể tập trung vào hơi thở trong một giờ hay hơn nữa ở mỗi thời ngồi thiền, hành giả ấy nên tiến đến bước tiếp theo.

Nhận Biết Chiều Dài Hơi Thở Cũng Như Toàn Thân Hơi Thở

Chiều dài hơi thở nên được xác định bằng khoảng thời gian diễn ra hơi thở. Nếu dùng nhiều thời gian để thở vào hay thở ra thì hơi thở đó diễn ra dài. Nếu dùng ít thời gian để thở vào hay thở ra thì hơi thở đó diễn ra ngắn.

Hơi thở có thể là dài hay ngắn trong một lúc hay toàn thời ngồi thiền. Bất kể nó là gì, sau khi hành giả nhận biết chiều dài của hơi thở, hành giả cũng nên nhận biết toàn thân hơi thở từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc ở điểm xúc chạm của nó ở đầu mũi hoặc ở lỗ mũi hoặc ở môi trên. Hành giả không nên theo hơi thở đi vào phía trong hay ra bên ngoài. Hành giả nên hành động như một người gác cổng.

Một người gác cổng không kiểm tra từng người ở bên trong hay bên ngoài đô thị vì chúng không phải là việc của anh ta. Nhưng người gác cổng xem xét từng người khi người đó đến cổng. Tương tự, hành giả không quan tâm đến hơi thở đã vào trong hay ra ngoài mũi vì nó không phải là việc của hành giả. Nhưng mối quan tâm của hành giả chính là mỗi lần hơi thở vào hay hơi thở ra đến nơi cửa lỗ mũi.

Hành giả cũng nên hành động như một người thợ xẻ gỗ. Người thợ xẻ tập trung sự chú ý của mình vào các răng cưa ở điểm tiếp xúc với khúc gỗ mà không quan tâm đến các răng cưa đang tiến lại gần hoặc đi ra xa, mặc dù khi chúng làm như vậy, không phải là anh ta không thể biết chúng.

Theo cách tương tự, hành giả an trú niệm trên hơi thở ở điểm xúc chạm với lỗ mũi hoặc với môi trên mà không quan tâm đến hơi thở vào và hơi thở ra khi chúng tiến lại gần hay đi ra xa, mặc dù khi chúng làm như vậy, không phải là hành giả không thể biết chúng.

Khi hành giả có thể tập trung tâm mình một cách lặng lẽ và chú tâm vào lúc bắt đầu, lúc giữa và lúc cuối của hơi thở vào và hơi thở ra trong một giờ đồng hồ hoặc hơn nữa ở mỗi thời ngồi thiền, hành giả nên tiến lên bước thứ tư.

An Tịnh Hơi Thở

Khi hành giả chú tâm quan sát hơi thở vào và hơi thở ra để nhận biết toàn thân hơi thở, hơi thở của hành giả sẽ càng trở nên nhẹ nhàng và vi tế hơn. Trong khi các đề mục thiền khác trở nên càng rõ ràng hơn ở các giai đoạn cao hơn, niệm hơi thở (ānāpānassati) thì không như vậy. Thực tế, khi hành giả tiếp tục tu tập, hơi thở càng trở nên vi tế hơn đối với hành giả ở mỗi giai đoạn cao hơn, và thậm chí đến lúc mà nó không còn rõ ràng hay biểu hiện nào nữa.

Khi hơi thở trở nên không còn rõ ràng nữa, hành giả không nên đứng dậy khỏi chỗ ngồi và bỏ đi. Hành giả nên tiếp tục ngồi thiền như trước và tạm thời thay hơi thở thực tại bằng nơi mà hơi thở bình thường vẫn xúc chạm như là đề mục hành thiền.

Khi hành giả chú tâm theo cách này, niệm của hành giả sẽ tăng trưởng từ từ và hơi thở sẽ xuất hiện trở lại không lâu sau đó. Rồi hành giả nên tiếp tục tập trung sự chú ý vào hơi thở vào và hơi thở ra ở điểm xúc chạm để nhận biết toàn thân hơi thở.

Sự Xuất Hiện Tướng Của Định

Trong niệm hơi thở, có tất cả ba loại tướng hay hình ảnh (nimitta) của thiền có thể đạt được. Chúng là chuẩn bị tướng (parikamma-nimitta), học tướng (uggahanimitta) và tợ tướng (paṭibhāga-nimitta).

Hơi thở vào và hơi thở ra tự nhiên có thể được lấy làm chuẩn bị tướng. Hình ảnh màu xám tối xuất hiện ở một mức độ định tâm nhất định cũng được coi là chuẩn bị tướng.

Một hình ảnh trắng như bông gòn hoặc sợi tơ xuất hiện ở mức độ định cao hơn được gọi là học tướng. Đây là một mô tả chung. Hình ảnh về màu sắc và hình dạng khác cũng có thể xuất hiện. Các tướng khác nhau có thể xuất hiện với những người khác nhau vì sự khác biệt về tưởng.

Khi định phát triển sâu hơn, hình ảnh hay tướng có thể trở nên rất trong sáng và sáng rực như sao hôm. Dấu hiệu này được lấy làm tợ tướng. Lại nữa, tướng có thể xuất hiện ở các hình dạng khác nhau như một ngôi sao hôm, một viên ruby tròn, một viên ngọc trai, một hạt bông tơ, một dải băng lụa, một luồng khói, dĩa mặt trăng v.v.

Mặc dù nghiệp xứ hơi thở (ānāpāna kammaṭṭhāna) chỉ là một đề mục thiền và một loại thiền đơn độc nhưng nó cho ra nhiều dạng tướng (nimitta) khác nhau vì sự khác biệt về tưởng của những người khác nhau, và cũng vì sự thay đổi của tưởng theo thời gian của cùng một người.

Thông thường, tướng có màu thuần trắng như một khối bông gòn được gọi là học tướng. Nó không trong sáng như thủy tinh. Khi tướng thay đổi từ màu thuần trắng sang một tướng trong sáng và sáng rực như sao hôm hoặc như một mảnh thủy tinh trong sáng và sáng rực, nó được gọi là tợ tướng.

Khi tướng xuất hiện ở hình dạng một viên ruby, tướng mà giống như viên ruby không trong sáng là học tướng, còn nếu đó là viên ruby trong sáng thì là tợ tướng. Hành giả nên hiểu theo cách tương tự cho các tướng còn lại.

Thiền tướng có thể xuất hiện trong một bước trước đó hoặc nó có thể xuất hiện ở trước mặt. Hành giả không nên chú ý đến các tướng này vì chúng không ổn định. Thiền tướng nên xuất hiện ở điểm xúc chạm của hơi thở với lỗ mũi. Một vài tướng có thể kéo dài từ lỗ mũi vào trong hoặc ra ngoài như một cái que. Trong các trường hợp này, hành giả không nên để tâm mình đi theo tướng vào trong hay ra ngoài; hành giả nên giữ tâm thiền đắm chìm vào tướng hiện diện gần lỗ mũi nhất.

Khi tâm thiền vẫn gắn chặt một cách lặng lẽ với tướng trong một, hai… giờ đồng hồ ở mỗi thời ngồi thiền, tướng sẽ dần dần và từ từ trở nên càng trong sáng và sáng rực hơn. Khi tướng đặc biệt trong sáng và sáng rực, nó trở thành tợ tướng.

Tu Tập An Chỉ (appanā)

Từ thời điểm tợ tướng xuất hiện, các triền cái (nīvaraṇa) bị diệt trừ khỏi tâm. Các phiền não còn lại bị đè nén. Tâm được thanh tịnh và niệm (sati) vẫn bám chặt vào tợ tướng hơi thở (ānāpānapaṭibhāga nimitta) một cách chăm chú và khắng khít.

Một lưu ý nên được chỉ ra ở đây. Trong cả hai bước, khi mà học tướng và sau đó là tợ tướng trở nên ổn định và đồng nhất với hơi thở vào và hơi thở ra, và hành giả đang cố gắng an trú niệm của mình một cách vững chắc và lặng lẽ trên tướng, hành giả nên tránh xem xét tướng rồi lại xem xét hơi thở. Hành giả nên dừng hoàn toàn việc xem xét hơi thở như trước đây, và gắn chặt tâm thiền của mình vào tướng hơi thở (ānāpāna nimitta) một cách trọn vẹn.

Trong trường hợp tướng (nimitta) biến mất, hành giả nên quan sát hơi thở vào và hơi thở ra như trước đây. Khi tướng (nimitta) xuất hiện trở lại và trở nên ổn định, hành giả lại chỉ nên cố gắng nhận biết tướng (nimitta) mà thôi. Nếu hành giả thực hành theo cách này, tướng (nimitta) sẽ vững chắc và định sẽ dần tăng trưởng đến cận định.

Trong thực tế, giống như chánh cung hoàng hậu hết lòng chăm sóc để bảo vệ phôi thai một vị chuyển luân thánh vương tương lai, và giống như người nông dân chăm chỉ bảo vệ ruộng lúa gạo và lúa mạch với các hạt chín, cũng vậy hành giả nên bảo vệ cẩn thận tợ tướng hơi thở (ānāpāna paṭibhāga nimitta).

Hành giả nên quán xét (reflect) trên tợ tướng ấy lặp đi lặp lại nhiều lần. Bằng cách quán xét lặp lại như vậy, hành giả nên cố gắng bảo vệ cận định để nó không bị mất đi. Hành giả nên quân bình ngũ căn (indriya) bằng cách giữ chúng dưới sự kiểm soát của niệm và cân bằng tinh tấn (vīriya) với định (samādhi) và tín (saddhā) với tuệ (paññā).

Hành giả cũng nên quân bình thất giác chi (Bojjhaṅga). Vào lúc tâm thiền lơi lỏng khỏi đối tượng thiền (tợ tướng) và tinh thần lui sụt, hành giả nên tu tập ba giác chi liên quan đến trạch pháp (dhammavicaya), tinh tấn (vīriya) và hỷ (pīti). Bằng cách làm như vậy, hành giả giữ vững được tinh thần và nâng cao ý chí đang lơi lỏng của mình lên.

Mặt khác, khi tâm thiền quá hăng hái, trạo cử và phóng dật vì các lý do như tinh tấn quá mức, hành giả nên tu tập ba giác chi liên quan đến tịnh (passaddhi), định (samādhi) và xả (upekkhā). Bằng cách làm như vậy, hành giả chế ngự được tâm hăng hái và trạo cử của mình và ngăn chặn sự phóng tâm.

Niệm (sati) kiểm soát và bảo vệ đối tượng thiền không bị lạc mất. Nó cũng kiểm soát và bảo vệ tâm thiền nhận biết liên tục đối tượng thiền và không để bị rơi khỏi thiền. Như vậy, nó luôn luôn cần thiết vào mọi lúc (sabbathīka).[41]

Khi hành giả có thể tu tập định để có thể an trú tâm thiền của mình một cách lặng lẽ và vững chắc trên đối tượng tợ tướng rất trong sáng và sáng rực trong một, hai… giờ đồng hồ, tướng trở nên trong sáng và sáng rực phi thường ở giai đoạn an chỉ định đầy đủ. Xuất khỏi an chỉ định, hành giả nên chuyển sự chú ý đến sắc ý vật hay tâm cơ (hadaya-vatthu, heart-base) trong trái tim. Nếu hành giả thực hành nhiều lần, hành giả có thể phân biệt dễ dàng bằng trí tuệ của mình ý môn (bhavaṅga citta – tâm hữu phần hay tâm hộ kiếp) sáng trong vốn nương vào sắc ý vật để khởi sanh. Hành giả cũng có thể phân biệt bằng trí tuệ của mình tợ tướng xuất hiện ở nơi ý môn.

Rồi hành giả nên cố gắng tu tập định để nó tăng trưởng ngày càng cao hơn và quan sát ý môn cùng với tợ tướng, hành giả nên quán xét các thiền chi vốn lấy tợ tướng làm đối tượng của chúng. Hành giả sẽ dần phân biệt được chúng bằng trí tuệ của mình mà không gặp nhiều khó khăn.

Năm Thiền Chi

1. Tầm (vitakka): hướng và đặt tâm trên tợ tướng.

2. Tứ (vicāra): duy trì tâm và quán xét lặp đi lặp lại trên tợ tướng.

3. Hỷ (pīti): hân hoan, vui thích hoặc sung sướng với tợ tướng.

4. Lạc (sukha): cảm giác an vui, thích thú hạnh phúc với tợ tướng.

5. Nhất tâm (ekaggatā): hợp nhất và an trú tâm lặng lẽ trên tợ tướng.

Khi các thiền chi được phát triển đầy đủ, khi đó có thể công nhận rằng sơ thiền thiện sắc giới (rūpāvacara kusala jhāna) đã phát sanh nơi hành giả. Sau đó, hành giả nên nhập vào bậc thiền (jhāna) thường xuyên mà không phải suy xét nó nhiều. Hành giả cũng nên thực hành tu tập năm pháp thuần thục đối với sơ thiền.

Năm Pháp Thuần Thục

1. Thuần thục quán xét chi thiền do tâm hướng ý môn (Āvajjanavasī) – khả năng phân biệt các thiền chi bằng trí tuệ liên kết với tâm hướng ý môn (manodvārāvajjana citta);

2. Thuần thục trong nhập định (Samāpajjanavasī) – khả năng nhập vào bậc thiền (jhāna) bất cứ khi nào hành giả muốn;

3. Thuần thục việc quyết định thời gian nhập định (Adhiṭṭhānavasī) – khả năng trú trong an chỉ thiền (jhāna) trong khoảng thời gian bất kỳ mà hành giả muốn;

4. Thuần thục trong xuất định (Vuṭṭhānavasī) - khả năng xuất khỏi bậc thiền (jhāna) an chỉ vào cuối thời gian đã định;

5. Thuần thục quán xét chi thiền theo tốc hành tâm (Paccavekkhaṇavasī) – khả năng xét duyệt các thiền chi bằng trí tuệ liên kết với các tốc hành tâm (javana citta)

Sau khi hành giả thuần thục theo năm cách đối với sơ thiền, hành giả có thể tu tập nhị thiền bằng cách loại bỏ chi thiền tầm (vitakka) và tứ (vicāra). Lại nữa sau khi thuần thục theo năm cách đối với nhị thiền, hành giả có thể tu tập tam thiền bằng cách loại bỏ tiếp chi thiền hỷ (pīti). Tương tự, sau khi thuần thục theo năm cách đối với tam thiền, hành giả có thể tu tập tứ thiền bằng cách loại bỏ tiếp chi thiền lạc (sukha). Hành giả cũng có thể làm vững chắc sự chứng đạt tứ thiền (jhāna) bằng cách phân biệt các thiền chi (xả – upekkhā nhất tâm – ekaggatā) và các đặc tính riêng biệt khác của tứ thiền (jhāna).

Bốn Thiền Bảo Hộ (Caturārakkha-kammaṭṭhāna)[42]

Bốn đề mục thiền bảo hộ là:

1. Thiền Tâm Từ (Mettā-bhāvanā): tu tập tâm từ;

2. Niệm ân đức Phật (Buddhānussati): quán tưởng ân đức Phật;

3. Quán bất tịnh (Asubha bhāvanā): quán tưởng sự bất tịnh;

4. Niệm sự chết (Maraṇānussati): quán tưởng sự chết.

Bốn đề mục thiền này phục vụ như là Nhất thiết xứ Nghiệp xứ – “sabbatthaka kammaṭṭhāna”; nghĩa là, các đề mục thiền đáng được mong muốn trong tất cả các lý do. Tu tập chúng để bảo hộ bản thân hành giả khỏi các hiểm nguy (kilesa – phiền não) bên trong và các hiểm nguy bên ngoài.

Tu Tập Thiền Tâm Từ (Mettā-Bhāvanā)[43]

Để lấy chính mình làm ví dụ nhằm tu tập sự cảm thông và quan tâm đến người khác, trước tiên hành giả phải làm ngập tràn từ tâm với bản thân mình một lúc như sau.

(1) Ahaṁ avero homi,

(2) Avyāpajjo homi,

(3) Anīgho hoti,

(4) Sukhī attānaṁ pariharāmi.

1. Cầu mong cho tôi thoát khỏi hận thù,

2. Cầu mong cho tôi thoát khỏi khổ tâm,

3. Cầu mong cho tôi thoát khỏi khổ thân,

4. Cầu mong cho tôi được an vui, hạnh phúc.

Tiếp theo hành giả nên tu tập tâm từ hướng đến thầy tế độ hoặc vị giáo thọ hoặc một người tương tự mà hành giả kính mến và kính trọng và có cùng giới tính với hành giả. Hành giả nên hồi tưởng đến sự rộng lượng và những lời trìu mến… của người đó để khơi dậy lòng yêu thương và quý mến, cũng như giới hạnh, sự hiểu biết… của người đó để khơi gợi lòng tôn kính và kính trọng. Rồi hành giả nên tu tập tâm từ hướng đến người đó theo cách sau.

Ayaṁ sappuriso

1. Avero hotu,

2. Avyāpajjo hotu,

3. Anīgho hotu,

4. Sukhī attānaṁ pariharātu.

Cầu mong con người hiền thiện này

1. thoát khỏi hận thù,

2. thoát khỏi khổ tâm,

3. thoát khỏi khổ thân,

4. được an vui và hạnh phúc.

Nếu hành giả đã chứng đắc tứ thiền (jhāna) bằng việc thực hành Niệm hơi thở (Ānāpānassati), trước tiên, hành giả phát triển bậc thiền (jhāna) ấy bằng cách quán xét tợ tướng của niệm hơi thở (ānāpānassati). Khi ánh sáng của bậc thiền bắt đầu trở nên rất sáng rực và chói lọi, hành giả xuất khỏi thiền ấy và tập trung tâm mình vào người mà hành giả yêu mến và tôn kính. Người đó sẽ xuất hiện rõ ràng trong ánh sáng chói lọi. Hành giả nên hình dung người đó ở khoảng cách 1,8m trước mặt mình. Rồi tập trung sự chú ý vào người đó, hành giả tu tập tâm từ theo bốn cách như đã đề cập ở trên.

Việc tu tập tâm từ sẽ tiến triển một cách trôi chảy và nhanh chóng khi nó có được sự hỗ trợ mạnh mẽ của tứ thiền hơi thở. Sau khi tu tập tâm từ theo bốn cách, hành giả chọn một cách, ví dụ “Cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi khổ tâm”. Hành giả nên hình dung ra dáng vẻ hạnh phúc nhất của người đó và quán xét lặp đi lặp lại “Cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi khổ tâm”.

Khi tâm của hành giả lặng lẽ, yên lặng, bình lặng và tập trung tốt vào hình dáng của nhân vật đáng kính trong một giờ đồng hồ hoặc hơn nữa, hành giả nên kiểm tra các thiền chi trong ý môn của mình. Nếu tất cả năm thiền chi xuất hiện rõ ràng trong con mắt trí tuệ của hành giả, lúc đó có thể công nhận rằng hành giả đã chứng đạt sơ thiền tâm từ (mettābhāvanā). Hành giả nên thực hành để đạt được năm pháp thuần thục đối với bậc thiền (jhāna) này và rồi tu tập nhị thiền và tam thiền tâm từ (mettā jhāna) như đã mô tả trong niệm hơi thở (ānāpānassati).

Theo hướng dẫn được đưa ra trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga)[44]Mahāṭikā[45], hành giả nên tu tập tâm từ đến tam thiền (jhāna) hướng đến từng người. Vì có bốn cách tu tập thiền tâm từ, hành giả nên chứng đạt tam thiền (jhāna) theo từng cách.

Khi hành giả đạt được thành công như cách mô tả ở trên, hành giả nên tu tập tâm từ theo cách tương tự hướng đến người đáng kính và đáng quý mến khác. Hành giả nên tu tập thành công tâm từ hướng đến ít nhất mười người như vậy.

Rồi hành giả nên tu tập tâm từ theo cách tương tự hướng đến những người rất thân yêu bao gồm cha mẹ, anh em trai, chị em gái, bà con họ hàng và bạn bè, từng loại người một. Đối tượng phải cùng giới tính với hành giả và phải chứng đắc tam thiền theo từng cách một trong bốn cách tu tập tâm từ.

Tiếp theo, hành giả nên tu tập tâm từ theo cách tương tự hướng đến ít nhất mười người không thương, không ghét và rồi đến những người thù địch, từng người một. Trước khi hành giả tu tập tâm từ (mettā) hướng đến một kẻ thù, đầu tiên hành giả nên tu tập tâm từ với người đáng kính và đáng quý mến khác, rồi đến người thân yêu, và rồi đến những người không thương, không ghét. Khi tâm hành giả mềm mại, dễ uốn nắn và được khéo tu tập, và ánh sáng của thiền là rất mạnh và chói sáng, rồi hành giả hình dung ra người thù địch trong ánh sáng của thiền và tu tập tâm từ hướng đến người đó.

Nếu hành giả không thể đắc thiền vì sự phẫn uất đối với kẻ thù, hành giả phải xua đuổi sự phẫn uất bằng cách quán xét theo mười cách đã được miêu tả trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[46]). Hành giả nên tu dưỡng tâm từ (mettā) theo cách này hướng đến tất cả các kẻ thù, từng người một.

Khi hành giả có thể tu tập tâm từ (mettā) một cách bình đẳng hướng đến bốn loại người:

1. Atta: bản thân hành giả,

2. Pīya: người thân yêu bao gồm những người đáng kính và đáng quý mến,

3. Majjhatta: người trung tính tức là người không thương, không ghét,

4. Verī: kẻ thù hay người mà hành giả căm ghét.

và khi hành giả có thể phá bỏ ranh giới khác biệt giữa chúng, lúc đó hành giả được nói là đã phá bỏ ranh giới giữa mọi người hoặc chứng đạt sự phá bỏ ranh giới (sīmāsambheda).

Như vậy, tướng và cận hành đạt được bởi hành giả đồng thời với việc phá bỏ các ranh giới. Nhưng khi việc phá bỏ ranh giới có kết quả, hành giả đạt tới an chỉ định theo cách mô tả trước đây mà không có khó khăn gì bằng cách tu dưỡng và phát triển cũng tướng đó lặp đi lặp lại.

Theo Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga), việc chứng đạt sự phá bỏ ranh giới (sīmāsambheda) chỉ thành công với hành giả nào mà tâm của vị ấy đã đạt đến bậc thiền (jhāna) khi tu tập tâm từ (mettā) hướng đến bốn loại người. Lại nữa, sự tu tập 528 cách từ tâm chỉ có thể thành tựu trọn vẹn trong tâm những ai đã đạt được an chỉ định và đã chứng đắc sự phá bỏ ranh giới (sīmāsambheda). Giờ đây, hành giả có thể tu tập 528 loại tâm từ (mettā) như được miêu tả trong Phân Tích Đạo (Paṭisambhidā Magga[47]) và an trú trong trạng thái vi diệu tỏa khắp mọi hướng với tâm từ.

Niệm Ân Đức Phật (Buddhānussati)[48]

Đối với hành giả đã chứng đạt tứ thiền bằng cách thực hành Niệm hơi thở (Ānāpānassati), trước tiên, hành giả nên phát triển đến tứ thiền, là thiền đi cùng với ánh sáng rất rực rỡ và xuyên thấu. Với sự trợ giúp của ánh sáng này, hành giả hồi tưởng hoặc hình dung một bức tượng Phật mà hành giả tôn kính và kính trọng. Khi hành giả thấy pho tượng một cách rõ ràng trong ánh sáng, hành giả nên đảnh lễ và xem rằng đó chính là Đức Phật đang tại thế.

Rồi hành giả nên đổi sự chú ý từ hình ảnh Đức Phật sang các ân đức Phật và quán xét các ân đức ấy lặp đi lặp lại. Hành giả lần lượt quán xét tất cả chín ân đức Phật, và rồi chọn ra một ân đức mà hành giả thích nhất và quán tưởng nó lặp đi lặp lại, ví dụ “arahaṁ, arahaṁ”. Khi định của hành giả tăng trưởng, hình ảnh Đức Phật biến mất trong khi tâm hành giả vẫn tập trung trên ân đức riêng biệt ấy. Khi đó, hành giả không nên cố gắng hồi tưởng hay tìm kiếm hình ảnh Đức Phật; hành giả chỉ nên tập trung tâm mình trên ân đức ấy mà thôi.

Với sự hỗ trợ mạnh mẽ của định tứ thiền, hành giả sẽ sớm chứng đạt cận định ở đề mục Niệm Ân Đức Phật (Buddhānussati). Khi tâm hành giả vẫn lặng lẽ tập trung vào ân đức trong một giờ đồng hồ hay hơn nữa mà không có bất kỳ sự xao lãng nào, hành giả nên suy xét các thiền chi. Hành giả sẽ nhận thấy rằng mình đã đạt được cận định vì có thể thấy các chi thiền là lặng lẽ và được khéo tu tập.

Một hành giả chứng đạt cận định đề mục thiền Niệm Ân Đức Phật (Buddhānussati), đạt được tín tâm và tôn kính trọn vẹn nơi Đức Phật, có được niệm, tuệ tốt, nhiều hỷ và lạc. Hành giả cảm thấy như thể đang sống trong sự hiện diện của Đức Phật và vì vậy có thể tránh các hành động tà hạnh. Thân của hành giả thấm và an trú vào ân đức Phật, nơi mà đã trở nên đáng cung kính như tháp thờ xá-lợi. Như vậy, hành giả được bảo vệ khỏi tất cả các hiểm nguy.

Quán Bất Tịnh (Asubha Bhāvanā)[49]

Quán bất tịnh cũng là một đề mục thiền rất hữu ích. Đề mục này được nhiều lời tán dương của Đức Phật vì nó là đề mục thiền để chinh phục tham ái (rāga). Thực vậy, con quỷ tham ái (rāga) sợ nhất là sự bất tịnh vì nó bị chế ngự bởi tưởng bất tịnh (asubha-saññā).

Lại nữa, với hành giả đã chứng đạt tứ thiền (jhāna) hơi thở (ānāpāna), hành giả ấy có thể tu tập dễ dàng và nhanh chóng sơ thiền quán bất tịnh (asubha bhāvanā). Trước tiên, hành giả phát triển đến tứ thiền đã chứng đắc. Khi thiền trí hợp với định tứ thiền tỏa ánh sáng rất rực rỡ, chói lọi theo mọi hướng phát sáng xung quanh, hành giả hồi tưởng tướng của xác chết ghê tởm nhất có cùng giới tính như hành giả đã thấy trước đây. Hành giả cố gắng quan sát xác chết đó dưới ánh sáng sáng rực ấy.

Khi hành giả có thể thấy xác chết rõ ràng dưới ánh sáng sáng rực, xuyên thấu, hành giả tập trung tâm thiền của mình một cách lặng lẽ trên xác chết ở vị trí gớm ghiếc nhất, cố gắng phân biệt tướng bất tịnh nơi xác chết như đã được chỉ dẫn trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[50]).

Hành giả quán xét lặp đi lặp lại tướng bất tịnh: “paṭikūla, paṭikūla” hoặc “bất tịnh, bất tịnh”. Khi tâm thiền vẫn lặng lẽ gắn chặt trên tướng bất tịnh trong một, hai giờ đồng hồ…, tướng của xác chết thay đổi từ học tướng sang tợ tướng. Tướng xác chết mà hành giả thấy rõ ràng như thể hành giả đang nhìn xác chết với cặp mắt mở là học tướng. Tướng này xuất hiện như một cảnh tượng gớm guốc, xấu xí, dễ sợ và khủng khiếp.

Khi tợ tướng phát sanh, tác ý thiền (bhāvanā-manasikāra) sẽ được khéo tu tập và cao thượng, và tướng của xác chết trở nên lặng lẽ và vững chắc. Như vậy, tợ tướng xuất hiện như một người đàn ông giàu có với tứ chi tròn trĩnh nằm nghỉ sau khi ăn uống no nê.[51]

Quan sát tợ tướng, hành giả quán xét là “paṭikūla, paṭikūla” hoặc “bất tịnh, bất tịnh” nhiều lần cho đến khi tâm thiền vẫn an trú lặng lẽ trên tướng được một, hai giờ đồng hồ hoặc hơn nữa. Rồi hành giả suy xét năm thiền chi để nhận thấy chúng hiển hiện rõ ràng. Đến đây có thể cho rằng hành giả đã chứng đắc sơ thiền. Hành giả nên thực hành tốt để đạt được năm pháp thuần thục đối với bậc thiền này.

Một hành giả mà đã đắc bất kỳ một trong mười đề mục thiền xác chết thì đạt được tưởng bất tịnh (asubha-saññā) và có thể trấn áp được tham ái (lobha) của mình. Như vậy, hành giả thoát khỏi tham ái, say mê, phù phiếm và giống như một vị A-la-hán.

Niệm Sự Chết (Maraṇānussati)

Theo hướng dẫn được đưa ra trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[52]) và Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna Sutta), hành giả, là người tu tập thành công sơ thiền bằng cách quán xét sự bất tịnh của một xác chết (asubha-bhāvanā), có thể dễ dàng chuyển sang thiền Niệm Sự Chết.

Đầu tiên, hành giả hồi tưởng học tướng hoặc tợ tướng của xác chết mà hành giả đã tu tập trước đây. Rồi hành giả quán xét sự bất tịnh của nó để tu tập đến sơ thiền quán bất tịnh (asubha-bhāvanā). Như vậy, sau đó, hành giả xuất khỏi thiền ấy và quán xét bản chất của sự chết “Thân này của ta đây có bản chất phải bị tiêu hoại. Ta chắc chắn sẽ chết. Ta không thể tránh khỏi cái chết.”

Hành giả nên liên tục tập trung sự chú ý vào bản chất cái chết của chính mình, an trú niệm về sự chết và phát triển ý thức kinh cảm cùng với hiểu biết về sự chết. Hành giả sẽ sớm quan sát bằng cặp mắt của tâm rằng xác chết ghê tởm là thi thể của bản thân hành giả thay vì xác chết bên ngoài kia. Sau đó, hành giả phân biệt bằng trí tuệ bản chất của sự cắt đứt mạng căn (jīvitindriya) ở nơi xác chết của chính mình.

Và tập trung tâm thiền vào đối tượng là sự cắt đứt mạng căn (life-faculty) hay nói cách khác là sự chấm dứt tâm hữu phần (bhavaṅga) vốn là tâm liên kết với mạng (jīvita) căn, hành giả quán xét lặp đi lặp lại một trong các cách mà hành giả thích nhất sau đây.

1. Maraṇaṁ me dhuvaṁ, jīvitaṁ me adhvaṁ.

Cái chết của ta là chắc chắn, còn mạng sống của ta là không chắc chắn.

2. Maraṇaṁ me bhavissati.

Cái chết của ta chắc chắn sẽ xảy ra.

3. Maraṇapariyosānaṁ me jīvitaṁ

Mạng sống của ta sẽ chấm dứt trong cái chết.

4. Maraṇaṁ maraṇaṁ

Chết, chết.

Hành giả nên hăng hái, phấn đấu tập trung tâm thiền vào đối tượng là sự cắt đứt mạng căn trong xác chết của chính mình trong một giờ, hai giờ hay nhiều hơn. Nếu thành công, hành giả sẽ thấy rằng các chi thiền trở nên rõ ràng. Khi đối tượng thiền là bản chất của sự chết và sự khủng khiếp làm thức tỉnh ý thức kinh cảm, chỉ có cận định (upacārajhāna) phát sanh.

Vì lợi lạc của thiền niệm sự chết (Maraṇānussati), hành giả đạt được tưởng về sự ghê tởm và tan biến ảo tưởng với tất cả các loại hiện hữu; vị ấy cắt đứt sự dính mắc với cuộc sống và các tài vật; tránh xa việc làm xấu ác và nhiều tích trữ; hành giả tu tập tưởng về vô thường (anicca-saññā) và kết quả là tưởng về khổ (dukkha-saññā) và tưởng về vô ngã (anatta-saññā). Cuối cùng, hành giả phát triển ý thức kinh cảm (saṁvegađộng tâm) để nhanh chóng thọ trì hành thiền.

Tu Tập Định Bằng Các Biến Xứ (Kasiṇa)

Hành giả là người đã chứng đạt Chánh định (Sammāsamādhi) bằng thiền niệm hơi thở (ānāpānassati) thì có thể dễ dàng và nhanh chóng thọ trì các thiền biến xứ (kasiṇa) để tu tập bốn bậc thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) theo các phương thức được mô tả trong Visuddhi Magga[53] hay Thanh Tịnh Đạo[54]. Hành giả không cần chuẩn bị các dụng cụ đặc biệt cho mười biến xứ (kasiṇa). Hành giả có thể quan sát các đối tượng có sẵn để tu tập mười biến xứ (kasiṇa).

Để tu tập biến xứ đất (kasiṇa pathavī), hành giả vẽ một vòng tròn đường kính khoảng ba tấc hay sáu tấc bằng một cái que trên một mảnh đất sạch. Hành giả đứng ở khoảng cách thích hợp với vòng tròn, nơi mà hành giả có thể thấy toàn bộ vòng tròn với mắt mở vừa phải. Hành giả phát triển định (đệ tứ thiền sắc giới, rūpāvacara jhāna) mà hành giả đã chứng đạt bằng cách quán xét tợ tướng của niệm hơi thở (ānāpānassati) đến khi ánh sáng sáng rực, chói lọi tỏa ra. Hành giả xuất khỏi thiền (jhāna), tập trung chú ý vào đất bên trong vòng tròn, quán xét lặp đi lặp lại “pathavī, pathavī” hay “đất, đất”.

Hành giả, với sự hỗ trợ của tứ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna), có một trí nhớ tuyệt vời. Hành giả có thể đạt được học tướng của kasiṇa đất trong khoảng mười phút. Sau đó, hành giả có thể đi đến thiền đường và quán xét học tướng như là “pathavī, pathavī” hoặc “đất, đất” đến khi tợ tướng trong sáng, trơn phẳng và sáng rực phát sanh. Khi tợ tướng trở nên vững chắc, hành giả từ từ mở rộng hay phóng to nó bằng sức mạnh của ý chí theo cách sau “Mong rằng tợ tướng lớn thêm một ngón tay, hai ngón tay,… và cứ thế” cho đến khi nó mở rộng ra vô tận theo tất cả các hướng. Bây giờ, hành giả tập trung tâm mình trên tợ tướng đã được mở rộng và quán xét “pathavī, pathavī” hay “đất, đất” cho đến khi an chỉ định (jhāna) xuất hiện. Hành giả thực hành để đạt được năm pháp thuần thục đối với sơ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) này. Sau đó, hành giả có thể tu tập bốn bậc thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) theo cách tương tự như đã miêu tả trong niệm hơi thở (ānāpānassati).

Phương thức tương tự có thể được dùng để tu tập chín biến xứ (kasiṇa) còn lại. Sau khi tu tập bốn bậc thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) trong tất cả các biến xứ (kasiṇa), hành giả có thể tiến lên tu tập bốn bậc thiền vô sắc giới (arūpāvacara jhāna) từ chín biến xứ (kasiṇa) ngoại trừ biến xứ hư không (ākāsa kasiṇa) như đã được miêu tả trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[55]).

Hành giả cũng có thể thực hành theo mười bốn cách đặc biệt để tu tập thần thông hiệp thế (lokiya abhiññā).[56]

Kết Luận

Đúng là có thể tu tập các đề mục thiền mà Đức Phật đã miêu tả về thiền định (samatha bhāvanā), để đạt được kết quả trọn vẹn như đã được đề cập trong Kinh điển Phật học cần phải tuân thủ các chỉ dạy của Đức Phật một cách chính xác và tích cực.

Niệm hơi thở (Ānāpānassati) được xem là một đề mục thiền tốt để tu tập định một cách hiệu quả đến bậc tứ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna) trong một thời gian tương đối ngắn. Sau khi đạt được chánh định thông qua một đề mục thiền, hành giả có thể dễ dàng tiến lên tu tập các đề mục thiền khác, với điều kiện là hành giả không trệch khỏi các chỉ dạy của Đức Phật.

Chúng tôi cũng thấy rằng “catudhātuvavatthāna” (thiền tứ đại) là đề mục thiền hiệu quả nhất để tu tập cận định trong thời gian ngắn nhất. Khi một người thực sự đạt được cận định, người đó đạt được thanh tịnh tâm (cittavisuddhi). Theo Kinh Ánh Sáng (Āloka Sutta) và Kinh Ngủ Gục (Pacalāyamāna Sutta), tâm hợp với cận định (upacāra samādhi) sẽ tỏa ánh sáng rực rỡ và xuyên thấu. Với sự trợ giúp của ánh sáng này, hành giả có thể quan sát tất cả 32 thân phần (koṭṭhāsa) của chính hành giả cũng như của người khác. Như vậy, hành giả có thể dễ dàng thọ trì thân hành niệm (kāyagatāsati) để tu tập sơ thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna). Rồi bằng cách tập trung tâm của hành giả vào màu trắng của hộp sọ của một hành giả đang ngồi phía trước mình, hành giả có thể thọ trì thiền biến xứ trắng (odāta kasiṇa) để tu tập bốn bậc thiền sắc giới (rūpāvacara jhāna).

Tứ thiền biến xứ (kasiṇa) trắng được xem là đi cùng với ánh sáng sáng rực hơn tứ thiền niệm hơi thở (ānāpānassati). Như vậy, nó phục vụ như một nền tảng duy nhất để thọ trì thiền minh sát (vipassanā).

Tham khảo

Tất cả các chỉ dẫn tham khảo dựa vào Ấn Bản của Hội Đồng Phật Giáo Myanmar lần thứ sáu.

A.        Aṅguttara Nikāya (Tăng Chi Bộ Kinh)

Abh.A     Chú giải Abhidhamma (Vi Diệu Pháp)

D.        Dīgha Nikāya (Trường Bộ Kinh)

D.Ti    Phụ chú giải Dīgha Nikāya (Trường Bộ Kinh)

Dh.      Dhamma Pada (Kinh Pháp Cú)

M.       Majjhima Nikāya (Trung Bộ Kinh)

S.        Saṁyutta Nikāya (Tương Ưng Bộ Kinh)

Ps.       Paṭisambhidā Magga (Phân Tích Đạo)

Vbh.    Vibhaṅga

Vs.      Visuddhi Magga (Thanh Tịnh Đạo)

Vs.Ti   Phụ chú giải Visuddhi Magga (Thanh Tịnh Đạo)

]œ

Hội Nghị Phật Giáo lần thứ tư,

Yangon, Myanmar

từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 12 năm 2004

Thể Nhập
Thiền Tuệ (Vipassanā)

 

 

Tôn Giả Āciṇṇa, Dhammācariya – Pháp Sư,

Aggamahākammaṭṭhānācariya – Đệ Nhất Đại Thiền Sư

Trưởng Ban Thiền Sư và Cố Vấn Thiền
Trung Tâm Rừng Thiền Phật Học Quốc Tế Pa-Auk, Myanmar

 

Tiến Sĩ Mehm Tin Mon,

Mahā Saddhamma Jotikadhaja – Bậc Đại Nhân Làm Chói Sáng Ngọn Cờ Chánh Pháp

Giáo sư Đại Học Quốc Tế Truyền Bá
Phật Giáo Nguyên Thủy

Chủ tịch Liên đoàn Bảo Hộ Giáo Pháp Đức Phật
của Rừng Thiền Quốc Tế Pa-Auk

 

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn,
Bậc Ứng Cúng, Đấng Chánh Đẳng Giác

TÓM LƯỢC

Vì thiền Vipassanā liên hệ đến các pháp chân đế (paramattha), danh và sắc, cả bên trong lẫn bên ngoài, được phân tích bằng trí tuệ hợp với chánh định vào trong các thực thể pháp – các tâm (citta), các tâm sở (cetasika) và các sắc (rūpa) – và mỗi pháp chân đế này được xác định theo các đặc tính, phận sự, biểu hiện và nhân gần của nó để tu tập đúng đắn “Tuệ Xác Định Danh-Sắc” (Nāmarūpa-paricchedañāṇa) và “Kiến Thanh Tịnh” (Diṭṭhivisuddhi)[57]. Tính khối của nhóm danh (ý) và nhóm sắc (rūpakalāpa) cần phải được phá vỡ (ghana-vinibbhoga) để thấu suốt vào các pháp chân đế và đặc tính vô ngã (anatta).[58],[59]

Tiếp theo, có bốn nhân – nghiệp (kamma), tâm (citta), thời tiết (utu), dưỡng chất (āhāra) – sanh ra sắc, và các nhân sanh lộ trình tâm ở sáu môn được phân biệt bằng thắng trí. Cũng vậy, các nhân và các quả của Lý Duyên Khởi (paṭiccasamuppāda) được phân biệt và xác minh để làm sáng tỏ tất cả các hoài nghi[60] thuộc về quá khứ, đến hiện tại và đến tương lai, và để tu tập “Tuệ Phân Biệt Các Nhân Của Danh-Sắc” (Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên) (Paccayapariggahañāṇa) và “Đoạn Nghi Thanh Tịnh” (Kaṅkhā-vitaraṇa-visuddhi). Điều này được chỉ rõ trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[61]) và Chú giải Vi Diệu Pháp (Abhidhamma[62]) rằng không ai có thể giải thoát khỏi vòng khổ đau mà không cần phân biệt mối liên hệ nhân quả trong Lý Duyên Khởi.

Lại nữa, khi thọ trì thiền Vipassanā, tất cả danh và sắc, các nhân và các quả, bên trong và bên ngoài thuộc về quá khứ, hiện tại và vị lai lần lượt được xác định là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta) như hướng dẫn trong Phân Tích Đạo bản Pāḷi (Paṭisambhidā Magga Pāḷi[63]), Tương Ưng Kinh bản Pāḷi (Saṁyutta Pāḷi[64]), Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[65],[66]),… Nhiều phương pháp thực hành được sử dụng cho việc thẩm sát, phân biệt và xác định các hành theo nhiều cách để đạt được kết quả như miêu tả trong kinh điển, để tu tập mười minh sát tuệ (Vipassanāñāṇa), để thành tựu cấp độ thanh tịnh tâm cao hơn, và để chứng ngộ mục tiêu cao thượng nhất của sự giải thoát là điều vẫn còn có thể trong Giáo Pháp (sāsana) của Đức Phật.

Trong quá trình 21 năm (từ năm 1983 đến 2004), nhiều hành giả từ Myanmar và hải ngoại đã thọ trì các khóa thiền Định-Tuệ (samatha-vipassanā) ở các Trung Tâm Rừng Thiền Phật Học Quốc Tế Pa-Auk của chúng tôi và nhiều người đạt được thành công tuyệt vời với sự hài lòng to lớn. Tất cả mọi người đều được chân thành chào đón đến hành thiền tại các trung tâm mở cửa quanh năm này.

]

BÀI THUYẾT TRÌNH CHÍNH

Giới Thiệu

Chúng tôi vui mừng công bố tin tốt lành rằng nhiều hành giả từ Myanmar và hải ngoại đang thọ trì thiền vipassanā thành công đến từng chi tiết nhỏ như được miêu tả trong Kinh Điển Phật Học và Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga) ở các Trung Tâm Rừng Thiền Phật Học Quốc Tế Pa-Auk của chúng tôi.

Với sự trợ giúp của ánh sáng sáng rực, xuyên thấu tỏa ra từ tâm hợp với chánh định (sammāsamādhi), hành giả thấu suốt vào các pháp chân đế (paramattha), là các pháp tạo nên tâm và thân, xác định từng tâm (citta), từng tâm sở (cetasika), và từng loại sắc chân đế (rūpa) bằng phương tiện là đặc tính (lakkhaṇa), phận sự (kicca), biểu hiện (paccupaṭṭhāna) và các nhân gần (padaṭṭhāna) tương ứng của chúng và rồi phân biệt các nhân sanh ra danh-sắc này bao gồm các mối quan hệ nhân quả trong Lý Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda). Sau đó, hành giả quán xét ba đặc tính (tam tướng) của các hành theo nhiều cách đặc biệt như đã được miêu tả trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga) để tu tập đúng đắn minh sát tuệ (vipassanāñāṇa) theo từng tuệ một để có thể chứng đạt mục tiêu tối hậu của thiền vipassanā – chứng ngộ Niết-bàn.

Thanh Tịnh Tâm

Theo Kinh Trạm Xe (Rathavinīta Sutta[67]) và Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[68]), tâm được thanh tịnh một cách có hệ thống theo bảy giai đoạn:

1. Sīla-visuddhi: thanh tịnh giới,

2. Citta-visuddhi: thanh tịnh tâm bằng định,

3. Diṭṭhi-visuddhi: Kiến thanh tịnh,

4. Kaṅkhāvitaraṇa-visuddhi: Đoạn Nghi thanh tịnh,

5. Maggāmagga-ñāṇa-dassana-visuddhi: Đạo và Phi Đạo Tri kiến thanh tịnh,

6. Paṭipadā-ñāṇadassana-visuddhi: Đạo Hành Tri Kiến thanh tịnh,

7. Ñāṇadassana-visuddhi: Tri Kiến thanh tịnh.

Thanh Tịnh Tâm Khỏi Tà Kiến (Kiến Thanh Tịnh)

Sau khi thành tựu thanh tịnh giới (sīlavisuddhi) bằng cách chăm chỉ tuân thủ tứ thanh tịnh giới (catupārisuddhi sīla) và thành tựu thanh tịnh tâm (cittavisuddhi) bằng cách tu tập chánh định, thiền sinh hay hành giả (yogī) nên tiến lên giai đoạn thứ ba của thanh tịnh là Kiến Thanh Tịnh (diṭṭhi-visuddhi). Ở đây, hành giả phải từ bỏ thân kiến (tà kiến về thân) (sakkāyadiṭṭhi) hoặc ngã kiến (atta diṭṭhi) nghĩ rằng có tồn tại “ta”, “người”, “cái tôi”, “linh hồn” hoặc “tự ngã”. Để làm điều này, hành giả phải phân tích chính thân và tâm của mình thành các thực thể pháp và xác định từng thực thể sắc chân đế (đất (pathavī), nước (āpo), lửa (tejo)…) và từng thực thể danh chân đế (tâm (citta) và tâm sở (cetasika)) để thấy biết một cách sâu sắc rằng chỉ có năm thủ uẩn (upādānakkhandha) tồn tại và rằng không có linh hồn, không có cái tôi, hay tự ngã nào thực sự tồn tại.

Như vậy, hành giả phải thực hiện nhiệm vụ xác định danh-sắc khi hành giả bước vào lĩnh vực thiền Vipassanā. Để bắt đầu với cái dễ hơn, xác định sắc được hướng dẫn đầu tiên trong các trung tâm thiền của chúng tôi.

Xác Định Sắc (Quán Sắc)
(Rūpa-kammaṭṭhāna hay Rūpa-pariggaha)

Theo Đại Kinh Gopālaka (Mahā Gopālaka Sutta[69]), tất cả các sắc đại chủng (bhūtarūpa) và sắc y đại sinh (upādārūpa) phải được xác định để tiến đến chứng đạt tuệ Đạo (Magga-ñāṇa).

Đầu tiên, hành giả phát triển chánh định mà hành giả đã chứng đạt được, và rồi xác định bốn sắc đại chủng bằng thiền xác định tứ đại (catudhātuvavatthāna). Hành giả xác định đất (pathavī) (yếu tố lan rộng) bằng cách phân biệt các đặc tính của nó là cứng, thô, nặng, mềm, trơn mịn, nhẹ, nước (āpo) (yếu tố kết dính) bằng cách phân biệt các đặc tính của nó là kết dính và chảy, lửa (tejo) (yếu tố nhiệt) bằng cách phân biệt các đặc tính của nó là nóng và lạnh, và gió (vāyo) (yếu tố chuyển động) bằng cách phân biệt các đặc tính của nó là đẩy và hỗ trợ.

Bắt đầu ở một nơi trên thân thể của hành giả, nơi mà đặc tính cứng rõ ràng, hành giả quán xét bản chất của tính cứng trong từng phần của toàn thân cơ thể. Hành giả làm tương tự cho mười một yếu tố còn lại. Hành giả thực hành để phân biệt tất cả mười hai đặc tính, từng đặc tính một theo thứ tự lặp đi lặp lại đến khi có thể phân biệt tất cả các đặc tính gần như đồng thời. Rồi, hành giả tập trung tâm trên mười hai đặc tính, là đại diện cho tứ đại, đến khi phát sanh cận định (upacāra samādhi). Vào lúc này, hành giả chỉ nhận biết tứ đại mà không phải là thân thể của mình nữa.

Khi hành giả giữ tâm tập trung trên tứ đại, một màu xám, rồi màu trắng và rồi một khối trong sáng như thủy tinh hay băng đá nói chung xuất hiện. Khối trong sáng này đại diện cho các pasāda rūpa (tịnh sắc hay sắc thần kinh). Khi hành giả tiếp tục phân biệt tứ đại trong khối trong sáng, khối đó vỡ thành các hạt rất nhỏ là các nhóm sắc (tức tổng hợp sắcrūpa-kalāpa) vốn sanh và diệt rất nhanh chóng. Hành giả tiếp tục phân biệt tứ đại trong các hạt nhỏ bằng trí tuệ như đã phân biệt tứ đại trong thân thể mình. Sau đó, hành giả nên phân biệt sắc y đại sinh (sở tạo sắc) trong các hạt nhỏ này. Hành giả nên phân tích các hạt nhỏ theo ngũ môn (pañca-dvāra).

Hành giả có thể xác định theo cách tương tự cho 54 loại sắc ở mỗi môn: nhĩ (tai) môn, tỷ (mũi) môn, thiệt (lưỡi) môn, thay thần kinh nhãn bằng thần kinh nhĩ, thần kinh tỷ và thần kinh thiệt một cách tương ứng. Trong thân môn chỉ có 44 loại sắc (rūpa) vì chỉ có 5 loại nhóm sắc (rūpa kalāpa) hiện diện, đó là, thân-thập-sắc, tánh-thập-sắc và 3 loại nhóm sắc tám. Các loại hạt nhỏ (nhóm sắc) nào mà có chứa các tịnh sắc (pasāda-rūpa) thì trong suốt còn các loại khác thì không trong suốt.

Bảng 1: Xác Định Sắc Ở Nhãn Môn

1. Nhãn-thập-sắc 2. Thân-thập-sắc 3. Tánh-thập-sắc 4. Tâm-bát-sắc 5. Thời tiết-bát-sắc 6. Dưỡng chất-bát-sắc
1. đất (pathavī) 1. đất (pathavī) 1. đất (pathavī) 1. đất (pathavī) 1. đất (pathavī) 1. đất (pathavī)
2. nước (āpo) 2. nước (āpo) 2. nước (āpo) 2. nước (āpo) 2. nước (āpo) 2. nước (āpo)
3. lửa (tejo) 3. lửa (tejo) 3. lửa (tejo) 3. lửa (tejo) 3. lửa (tejo) 3. lửa (tejo)
4. gió (vāyo) 4. gió (vāyo) 4. gió (vāyo) 4. gió (vāyo) 4. gió (vāyo) 4. gió (vāyo)
5. màu (vaṇṇa) 5. màu (vaṇṇa) 5. màu (vaṇṇa) 5. màu (vaṇṇa) 5. màu (vaṇṇa) 5. màu (vaṇṇa)
6. mùi (gandha) 6. mùi (gandha) 6. mùi (gandha) 6. mùi (gandha) 6. mùi (gandha) 6. mùi (gandha)
7. vị (rasa) 7. vị (rasa) 7. vị (rasa) 7. vị (rasa) 7. vị (rasa) 7. vị (rasa)
8. dưỡng chất (ojā) 8. dưỡng chất (ojā) 8. dưỡng chất (ojā) 8. dưỡng chất (ojā) 8. dưỡng chất (ojā) 8. dưỡng chất (ojā)
9. mạng căn (jīvita rūpa) 9. mạng căn (jīvita rūpa) 9. mạng căn (jīvita rūpa)
10. nhãn tịnh sắc (cakkhu-pasāda) 10. thân tịnh sắc (kāya-pasāda) 10. sắc tánh (bhāva-rūpa)
nghiệp sanh, trong suốt nghiệp sanh, trong suốt nghiệp sanh, mờ tâm sanh, mờ thời tiết sanh, mờ vật thực sanh, mờ

Xác Định Danh (Quán Danh)
(Nāma-kammaṭṭhāna hay Nāma-pariggaha)

Danh (nāma) nghĩa là tâm (hay tâm vương) (citta) và tâm sở (hay sở hữu tâm) (cetasika) cấu thành ý. Theo Chú giải Vi Diệu Pháp (Abhidhamma[70]), hàng ngàn tỷ ý sanh khởi tuần tự trong mỗi giây, và tâm (citta) và tâm sở (cetasika) không có hình thể và dáng vẻ. Như vậy, điều này có thể được hỏi rằng: “Làm thế nào mà hành giả có thể quan sát được danh?”

Thắng Pháp Tập Yếu Luận (Abhidhamma Saṅgaha) miêu tả rằng tâm hộ kiếp (tâm hữu phần tức bhavaṅga citta) đóng vai trò là ý môn, và tiến trình nhận thức ở ý môn – cũng là thứ không có hình sắc – có thể bắt cảnh quá khứ bao gồm các tâm (citta), các tâm sở (cetasika) và các sắc (rūpa). Như vậy, danh và sắc có thể được quan sát bởi các tâm (citta) sanh ở ý môn (manodvārika citta) khi chúng hợp với chánh định.

Để phân biệt danh, trước tiên, hành giả phải quan sát

(1) căn cứ vật lý (vatthu) mà danh nương vào và

(2) cảnh được bắt bởi tâm (citta) và tâm sở (cetasika).[71]

Để làm sáng tỏ, danh nên được phân biệt qua sáu môn theo tiến trình tâm[72] (còn gọi là tiến trình nhận thức hay lộ trình tâm).

Theo Chú giải Vi Diệu Pháp (Abhidhamma[73]), cảnh sắc xuất hiện trong nhãn môn và ý môn đồng thời; cảnh thanh xuất hiện ở nhĩ môn và ý môn đồng thời; và cứ thế tương tự. Như vậy, đầu tiên hành giả tu tập chánh định đến lúc ánh sáng sáng rực và xuyên thấu tỏa ra. Hành giả quan sát đồng thời nhãn môn (nhãn tịnh sắc tức cakkhupasāda) và ý môn (bhavaṅga citta), và sau đó quan sát thấy một cảnh sắc đập vào hai môn đồng thời. Rồi hành giả phân biệt tiến trình tâm sanh khởi như sau.

-Bh-”Tī-Na-Da-Pa-Ca-Sp-St-Vo-Ja-Ja-Ja-Ja-Ja-Ja-Ja-Td-Td”-Bh-

Bh: dòng bhavaṅga – dòng hữu phần (hộ kiếp);

Tī: atīta-bhavaṅga - hữu phần vừa qua từ lúc cảnh đập vào môn đến lúc cảnh xuất hiện ở môn;

Na: bhavaṅga-calana - hữu phần rúng động sanh khởi khi cảnh xuất hiện ở môn;

Da: bhavaṅgu-paccheda - hữu phần dứt dòng; dòng hữu phần bị cắt đứt sau tâm (citta) này và lộ trình tâm (vīthi-citta) bắt đầu sanh khởi;

Pa: pañcadvārāvajjana – tâm hướng ngũ môn; nó bắt lấy hoặc chú ý đến cảnh ngũ (tức cảnh sắc, cảnh thanh, cảnh khí, cảnh vị và cảnh xúc);

Ca: cakkhu-viññāṇa - nhãn thức; nó thấy cảnh sắc;

Sp: sampaṭicchana - tâm tiếp thâu; nó nhận cảnh do nhãn thức chuyển đến;

St: santīraṇa – tâm quan sát; nó xem xét cảnh;

Vo: voṭṭhapana - tâm đoán định; nó xác định cảnh là tốt hay xấu;

Ja: javana - tốc hành tâm (tâm đổng lực); nó biết cảnh và hưởng cảnh;

Td: tadālambana - tâm Thập Di (tâm Ðồng sở duyên – tâm Đăng ký – tâm Na cảnh); nó theo sau các tốc hành tâm (javana citta) và tiếp tục hưởng cảnh;

Bh: dòng bhavaṅga – dòng hữu phần (hộ kiếp).

Tương tự, lộ trình tâm sanh khởi ở nhĩ môn, tỷ môn, thiệt môn và thân môn khi các cảnh xuất hiện ở các môn tương ứng. Chúng ta chỉ cần đổi nhãn thức thành nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức hoặc thân thức trong các lộ trình tâm tương ứng.

Sau khi kết thúc mỗi lộ trình tâm trong năm lộ trình tâm trên, nhiều ý môn lộ trình tâm (lộ ý môn) sanh khởi lấy cảnh ngũ quá khứ để thẩm sát chi tiết các điểm đặc trưng (kích thước, hình dáng, tên gọi) của cảnh. Thực vậy, phận sự của tâm giống như một chiếc siêu máy tính lưu trữ hàng ngàn tỷ dữ liệu cảnh trần trong dòng tâm và nhận dạng từng cảnh trần được quan sát hiện tại bằng cách so sánh với dữ liệu đã lưu trữ.

Lộ ý môn độc lập cũng sanh khởi khi cảnh pháp xuất hiện ở ý môn như sau:

-Bh- “Na-Da-Ma-Ja-Ja-Ja-Ja-Ja-Ja-Ja-Td-Td”-Bh-

Các ký hiệu có biểu thị như đã miêu tả trước đây. “Ma” đại diện cho tâm hướng ý môn (manodvārāvajjana), giống với tâm đoán định (voṭṭhapana). “Td” sẽ bị vắng mặt đối với những cảnh lớn. Nó chỉ xuất hiện khi cảnh là rất lớn và rất rõ ràng.

Sau khi phân biệt từng tâm trong lộ trình tâm, rồi hành giả thẩm sát các tâm sở phối hợp với từng tâm. Hành giả thẩm sát xem đặc tính xúc (phassa) làm nên xúc chạm giữa tâm và cảnh có hiện diện trong mỗi tâm hay không. Tiếp theo, hành giả thẩm sát xem đặc tính thọ (vedanā), tức là sự cảm giác hay cảm thấy cũng như sự thọ hưởng cảm thọ, hiện diện trong mỗi tâm. Theo cách này, hành giả có thể phân biệt tất cả các tâm sở phối hợp với từng tâm như được biểu diễn ở bảng 2.

Bảng 2: Các Tâm Sở Phối Hợp Với Từng Tâm

Tâm hướng ngũ môn (Pañcadvārāvajjana)

Nhãn thức (Cakkhuviññāṇa)

Tâm tiếp thâu (Sampaṭicchana)

Tâm quan sát (Santīraṇa)

Tâm hướng ý môn (Manodvārāvajjana)

10 tâm sở (cetasika) 7 tâm sở (cetasika) 10 tâm sở (cetasika) 10 tâm sở (cetasika) 11 tâm sở (cetasika)
1. tâm 1. tâm 1. tâm 1. tâm 1. tâm
2. xúc (phassa) 2. xúc (phassa) 2. xúc (phassa) 2. xúc (phassa) 2. xúc (phassa)
3. thọ (vedanā) 3. thọ (vedanā) 3. thọ (vedanā) 3. thọ (vedanā) 3. thọ (vedanā)
4. tưởng (saññā) 4. tưởng (saññā) 4. tưởng (saññā) 4. tưởng (saññā) 4. tưởng (saññā)
5. tư (cetanā) 5. tư (cetanā) 5. tư (cetanā) 5. tư (cetanā) 5. tư (cetanā)
6. nhất hành (ekaggatā) 6. nhất hành (ekaggatā) 6. nhất hành (ekaggatā) 6. nhất hành (ekaggatā) 6. nhất hành (ekaggatā)
7. mạng quyền (jīvitindriya) 7. mạng quyền (jīvitindriya) 7. mạng quyền (jīvitindriya) 7. mạng quyền (jīvitindriya) 7. mạng quyền (jīvitindriya)
8. tác ý (manasikāra) 8. tác ý (manasikāra) 8. tác ý (manasikāra) 8. tác ý (manasikāra) 8. tác ý (manasikāra)
9. tầm (vitakka) 9. tầm (vitakka) 9. tầm (vitakka) 9. tầm (vitakka)
10. tứ (vicāra) 10. tứ (vicāra) 10. tứ (vicāra) 10. tứ (vicāra)
11. thắng giải (adhimokkha) 11. thắng giải (adhimokkha) 11. thắng giải (adhimokkha) 11. thắng giải (adhimokkha)
12. hỷ* (pīti*) 12. cần (vīriya)

Như được miêu tả trong Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), có đến 21 tâm sở (cetasika) có thể phối hợp với các tâm căn tham, có đến 20 tâm sở (cetasika) có thể phối hợp với các tâm căn sân, có đến 33 tâm sở (cetasika) có thể phối hợp với các tâm hữu phần (bhavaṅga citta) và có đến 34 tâm sở (cetasika) có thể phối hợp với các tâm đại thiện (mahākusala citta). Sau khi phân biệt từng tâm sở (cetasika) phối hợp với từng tâm (citta), hành giả có thể phân biệt tất cả các tâm sở (cetasika) phối hợp với từng tâm (citta) hầu như đồng thời.

Đặc Tính Vô Ngã Trở Nên Rõ Ràng

Thật quan trọng là việc phân tích từng nhóm danh (ý) và từng nhóm sắc (rūpakalāpa) thành các thực thể pháp để biết các pháp chân đế (paramattha), để thành tựu “ghana vinibbhoga”, phá vỡ tính khối (phân tích nhóm hay hiểu biết phân tích từng cá thể trong một nhóm), và để thấu suốt đặc tính vô ngã hay không có linh hồn (anatta).[74],[75]

Đặc tính vô ngã (anatta) chỉ được biết trong Giáo Pháp Đức Phật; nó không được biết ngoài Giáo Pháp của Đức Phật (Buddha sāsana).[76]

Đặc tính vô ngã (anatta) không rõ ràng và không nhận biết được vì nó bị che phủ bởi “ghana” (tính khối như nhóm hay tảng). Nếu “ghana” có thể bị phá vỡ hoặc được phân tích, đặc tính vô ngã (anatta) trở nên rõ ràng và hiển nhiên như nó thực sự là.[77],[78] (Abhi. ṭha-2,47)

Khi hành giả đã xác định hết tất cả các tâm, tâm sở và các sắc nội thân ở nơi tâm và thân mình, hành giả xác định danh-sắc ngoại thân theo cách tương tự để biết rằng mọi người được tạo thành từ năm uẩn.

Năm Thủ Uẩn (upādānakkhandha) phải được thẩm sát trong thiền Vipassanā là:

1. Rūpupādānakkhandha: sắc thủ uẩn bao gồm 28 loại sắc (rūpa);

2. Vedanupādānakkhandha: thọ thủ uẩn bao gồm các tâm sở thọ (vedanā cetasika) phối hợp với 81 tâm hiệp thế (lokiya citta);

3. Saññupādānakkhandha: tưởng thủ uẩn bao gồm các tâm sở tưởng (sañña cetasika) phối hợp với 81 tâm hiệp thế (lokiya citta);

4. Saṅkhārupādānakkhandha: hành thủ uẩn bao gồm 50 tâm sở hiệp thế (lokiya cetasika) ngoại trừ tâm sở thọ (vedanā) và tâm sở tưởng (saññā);

5. Viññāṇupādānakkhandha: thức thủ uẩn bao gồm 81 tâm hiệp thế (lokiya citta).

Khi hành giả thấu hiểu rõ ràng rằng chỉ có năm uẩn sanh và diệt một cách rất nhanh chóng, không ngừng và không có một thực thể tồn tại riêng biệt nào có thể được gọi là “người”, “cái tôi”, “linh hồn” hoặc “tự ngã” cả, hành giả có thể xua đuổi được tà kiến là “thân kiến” (sakkāya-diṭṭhi) và chứng đạt kiến thanh tịnh (diṭṭhi-visuddhi).

Tuệ Xác Định Danh-Sắc

Trí tuệ xác định từng tâm (citta), từng tâm sở (cetasika) và từng loại sắc (rūpa) theo các đặc tính, phận sự, biểu hiện và nhân gần của chúng được gọi là “nāmarūpa-pariccheda-ñāṇa” – Tuệ Xác Định Danh-Sắc.

Đoạn Nghi Thanh Tịnh (Kaṅkhāvitaraṇa-visuddhi)

Hành giả sau khi đã xác định danh-sắc cả bên trong lẫn bên ngoài thì phải phân biệt sâu hơn các nhân sanh ra các danh-sắc này. Nếu không, hoài nghi hoặc tà kiến có thể nảy sinh nơi hành giả. Như vậy, hành giả phân biệt bốn nhân: nghiệp (kamma), tâm (citta), thời tiết (utu), dưỡng chất (āhāra) sanh ra sắc.

Phân Biệt Các Nhân Sanh Ra Sắc

Sau khi phát triển ánh sáng thiền chói lọi và xuyên thấu, hành giả tập trung chú ý trên tâm (citta) đang sanh khởi nơi trái tim dựa vào tâm căn cũng như trên ngón tay trỏ của mình. Khi hành giả định co ngón tay trỏ và thực sự co ngón tay đó, hành giả có thể quan sát hàng ngàn sắc do tâm sanh (cittaja-rūpa) được sanh bởi các tâm (citta) khiến ngón tay co lại. Thực vậy, hành giả có thể hiểu rằng tất cả các chuyển động của cơ thể mình được gây ra bởi sắc do tâm sanh (cittaja-rūpa).

Tiếp theo, hành giả tập trung chú ý vào một nhóm sắc (rūpa-kalāpa) và phân biệt một chuỗi các nhóm sắc do thời tiết sanh (utuja rūpakalāpa) được sanh ra bởi sắc thời tiết - utu (lửa-tejo) trong nhóm (kalāpa). Hành giả cũng có thể phân biệt một dòng các nhóm sắc do vật thực sanh (āhāraja rūpakalāpa) được sanh bởi sắc dưỡng chất (āhāra) trong nhóm (kalāpa) khi kết hợp với dưỡng chất bên ngoài. Khi hành giả có thể phân biệt nghiệp (kamma) gây ra kiếp hiện tại, hành giả cũng có thể quan sát các sắc do nghiệp sanh (kammaja rūpa) đang được sanh liên tục bởi nghiệp (kamma) ấy.

Phân Biệt Các Nhân Sanh Ra Danh

Tiếp theo, hành giả thẩm sát với chánh tư duy (sammāsaṅkappa) và chánh kiến (sammādiṭṭhi) các nhân sanh ra danh. Lại nữa, với sự trợ giúp của ánh sáng thiền chói lọi, xuyên thấu, hành giả phân biệt rõ ràng rằng lộ trình tâm nhãn môn phát sanh bởi xúc chạm giữa nhãn môn và cảnh sắc; lộ trình tâm nhĩ môn phát sanh bởi xúc chạm giữa nhĩ môn và cảnh thanh, và cứ tương tự như vậy.[79]

Mười Sáu Loại Hoài Nghi Gắn Với Quá Khứ, Tương Lai Và Hiện Tại

Giờ đây vẫn có năm loại hoài nghi hoặc không chắc chắn về quá khứ: “Ðời trước có ta phải không? Ðời trước không có ta phải không? Ðời trước ta là gì? Ðời trước ta như thế nào? Ðời trước của ta từ đâu sanh lại?” Cũng vậy, tồn tại năm loại hoài nghi về tương lai: “Ðời sau ta có phải không? Ðời sau không có ta phải không? Ðời sau ta là gì? Ðời sau ta như thế nào? Ðời sau ta chết sẽ sanh về đâu?” Cũng vậy có sáu loại hoài nghi về hiện tại: “Là ta chăng? Không phải là ta chăng? Hiện giờ ta là cái gì? Hiện giờ ta như thế nào? Từ kiếp sống nào ta sanh ra ở kiếp này? Nếu ta chết ta sẽ sanh về đâu?”[80],[81]

Phân Biệt Quan Hệ Nhân Quả Của Lý Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda)

Để làm sáng tỏ mười sáu loại hoài nghi này, hành giả phải phân biệt một cách sâu sắc quan hệ nhân-quả của Lý Duyên Khởi hay Y Tương Sinh (Paṭiccasamuppāda). Đức Phật nhắc nhở ngài Ānanda rằng chúng sanh phải trải qua các vòng luân hồi, hết kiếp này đến kiếp khác bởi vì họ không hiểu biết đúng đắn và thấu suốt quan hệ nhân quả của Lý Duyên Khởi.[82]

Cũng vậy, trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[83]) và Chú giải Vi Diệu Pháp (Abhidhamma[84]), điều đó được chỉ rõ là: “Không một ai, dù là trong giấc mơ, thoát ra khỏi vòng luân hồi khổ sở, trừ phi người ấy với thanh gươm tuệ được khéo mài trên đá định cao thượng, chặt đứt cỗ xe luân hồi (saṁsāra), mà lại không có năng lực thấu suốt quan hệ nhân quả theo Lý Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda) của cỗ xe luân hồi”.

Như vậy, quan hệ nhân quả của Lý Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda) phải được phân biệt và xác minh bằng tuệ minh sát để làm sáng tỏ tất cả các hoài nghi và làm thẳng lại tất cả các tà kiến. Theo chỉ dẫn được đưa ra trong Chú giải Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[85]):

(1) Năm nhân quá khứ – tức là, vô minh (avijjā), hành nghiệp (saṅkhāra), tham ái (taṇhā), chấp thủ (upādāna) và nghiệp hữu (kamma-bhava) – phải được thẩm sát và phân biệt trước tiên, và sự phát sanh năm quả hiện tại – tức là, thức quả (vipāka viññāṇa), danh-sắc (nāma-rūpa), lục nhập (saḷāyatana), xúc (phassa) và thọ (vedanā) – do năm nhân quá khứ phải được quan sát rõ ràng bằng trí tuệ của thiền minh sát.

(2) Năm nhân hiện tại – tức là, vô minh, tham ái, chấp thủ, hành nghiệp, và nghiệp hữu phải được phân biệt tiếp theo và sự phát sanh năm quả tương lai – tức là, thức quả, danh-sắc, lục nhập, xúc và thọ – do năm nhân hiện tại phải được quan sát rõ ràng bằng trí tuệ của thiền minh sát. Ở đây các nhân tạo thành chân lý về nguyên nhân của khổ (samudaya-sacca) và các quả tạo thành chân lý về khổ (dukkha-sacca).

Do vậy, hành giả phải quan sát với trí tuệ

(1) sự sanh của chân lý về khổ (dukkha sacca) ở hiện tại bởi chân lý về nguyên nhân của khổ (samudaya sacca) ở quá khứ,

(2) sự sanh của chân lý về khổ (dukkha sacca) ở tương lai bởi chân lý về nguyên nhân của khổ (samudaya sacca) ở hiện tại.

Để thành tựu mục tiêu này, hành giả, là người có thể phân biệt sự sanh và diệt của danh-sắc cả bên trong lẫn bên ngoài, phát triển chánh định và quan sát chi tiết danh-sắc của mình trong khi đang cúng dường vật thực đến tượng Phật. Rồi hành giả đi đến thiền đường, quan sát sự sanh và diệt của danh-sắc và truy ngược lại đến khi có thể phân biệt sự sanh và diệt của danh-sắc khi đang cúng dường vật thực đến tượng Phật. Nếu hành giả có thể thấy danh-sắc như đã thấy khi cúng dường vật thực đến Đức Phật, lúc đó hành giả có thể phân biệt danh-sắc ở quá khứ gần.

Sau đó, hành giả có thể tiếp tục truy ngược lại chuỗi danh-sắc để quan sát sự sanh và diệt của danh-sắc của chính mình trong các sự việc nổi bật diễn ra ngày hôm qua, hai ngày trước đó, – một tuần trước, hai tuần trước, – một tháng trước hai tháng trước, – một năm trước, hai năm trước, – đến khi có thể phân biệt được danh-sắc vào lúc thụ thai trong bụng mẹ của mình.

Như vậy, bây giờ, hành giả biết năm quả hiện tại gắn liền với sự hiện hữu hiện tại: tâm tục sanh (kiết sanh thức) và các tâm sở phối hợp, các sắc do nghiệp sanh (kammaja rūpa) và lục nhập, xúc của căn với cảnh và thọ quả.

Sau đó, hành giả tiếp tục truy ngược lại chuỗi danh sắc đến ngay kiếp sống trước. Hành giả có thể thật sự quan sát kiếp quá khứ của mình, các sự kiện quan trọng và các hành động đã làm trong kiếp sống đó. Sau đó, hành giả tập trung tâm mình trên danh-sắc khởi sanh lúc sắp lâm chung khi tướng cận tử (maraṇāsanna nimitta) đang xuất hiện. Từ tướng này, hành giả phân biệt các hành nghiệp và nghiệp làm duyên cho sự phát sanh kiếp sống hiện tại. Hành giả cũng có thể phân biệt ba lực hỗ trợ, đó là, vô minh, tham ái và chấp thủ, từ tâm đi cùng. Tiếp theo, hành giả cố gắng phân biệt năm nhân quá khứ có sanh ra năm quả hiện tại hay không. Hành giả có thể thấy sự sanh của năm quả do năm nhân nếu chúng thực sự thể hiện quan hệ nhân quả.

Sau đó, hành giả truy ngược lại chuỗi danh sắc trong kiếp quá khứ của mình đến khi phân biệt được tâm tục sanh, các tâm sở phối hợp, các sắc do nghiệp sanh (kammaja rūpa), lục nhập, xúc của căn với cảnh và thọ quả. Rồi hành giả tiến lên truy ngược lại chuỗi danh-sắc ngược đến kiếp sống quá khứ thứ hai để tìm thấy năm nhân trong kiếp sống đó gây ra năm quả ở kiếp sống quá khứ thứ nhất. Nếu hành giả thành công, hành giả có thể tiến đến tìm kiếm quan hệ nhân quả của kiếp sống quá khứ thứ ba và kiếp quá khứ thứ hai.

Hành giả cũng phải phân biệt quan hệ nhân quả của kiếp hiện tại này với kiếp tương lai. Như vậy, hành giả lại cúng dường vật thực đến Đức Phật, thực hiện một ước nguyện về những gì mình muốn ở kiếp sống tiếp theo. Nếu hành giả nguyện ước trở thành một thiên nhân, lúc đó suy nghĩ rằng kiếp thiên nhân thực sự có tồn tại là vô minh, nguyện ước trở thành một thiên nhân là tham ái và chấp thủ vào ước nguyện đó là chấp thủ (upādāna). Thiện tâm của hành giả và ý muốn cúng dường vật thực đến Đức Phật là hành nghiệp, và hạt giống nghiệp (kamma) đã gieo trong dòng danh và sắc của hành giả là nghiệp hữu (kamma-bhava). Như vậy, bây giờ, hành giả đã gieo năm nhân làm duyên cho kiếp sống mới sanh ra.

Sau đó, hành giả cố gắng chăm chú quan sát kiếp sống mới sẽ sanh ra vì năm nhân hiện tại. Thông thường, hành giả quan sát một kiếp sống mới mà có thể là hoặc không là kiếp sống mà hành giả ước nguyện. Dù sao đi nữa, hành giả phân biệt tâm tục sanh và các tâm sở phối hợp, sắc do nghiệp sanh (kammaja-rūpa) và lục nhập, xúc của căn với cảnh và thọ quả vào lúc tái sanh kiếp sống mới. Hành giả cố gắng phân biệt xem năm nhân hiện tại có sanh ra năm quả ở tương lai hay không. Nếu chúng thật sự là quan hệ nhân quả, hành giả có thể quan sát sự sanh của năm quả tương lai vì năm nhân hiện tại. Hành giả tiếp tục phân biệt quan hệ nhân quả của kiếp tương lai thứ nhất và kiếp tương lai thứ hai theo cách tương tự, và cứ thế tiếp tục đến khi hành giả quan sát thấy rằng không còn kiếp tương lai nào nữa.

Như vậy, bây giờ, hành giả đã phân biệt thành công quan hệ nhân quả của Lý Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda) ở ba thời là các kiếp quá khứ, kiếp hiện tại, các kiếp tương lai theo nghĩa năm nhân và năm quả:

Năm nhân có trong đời quá khứ;

Năm quả chúng ta tìm thấy trong đời hiện tại;

Năm nhân chúng ta đang tạo ra bây giờ,

Năm quả chúng ta sẽ gặt hái ở đời tương lai.[86]

Hành giả phân biệt xa hơn nữa quan hệ nhân quả của Lý Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda) từ kiếp sống này đến kiếp sống khác theo nghĩa một nhân và một quả là

(1) do duyên vô minh (avijjā), hành nghiệp (saṅkhāra) sanh;

(2) do duyên hành nghiệp, thức quả (vipāka viññāṇa) sanh;

(3) do duyên thức quả, các tâm sở (cetasika) (danh – nāma) phối hợp và sắc do nghiệp sanh (kammaja-rūpa) sanh;

(4) do duyên danh-sắc (nāma-rūpa), lục nhập (saḷāyatana) sanh;

(5) do duyên lục nhập, xúc (phassa) với cảnh sanh;

(6) do duyên xúc, thọ (vedanā) sanh;

(7) do duyên thọ, tham ái (taṇhā) sanh;

(8) do duyên tham ái, chấp thủ (upādāna) sanh;

(9) do duyên thủ, nghiệp hữu (kamma-bhava) và sanh hữu (upapatti-bhava) sanh;

(10) do duyên nghiệp hữu (trong kiếp hiện tại) sanh (jāti) (trong kiếp tương lai) sanh;

(11) do duyên sanh, già-chết (jarā-marana), sầu (soka), bi (parideva), khổ (dukkha), ưu (domanassa) và ai oán (upāyāsa) sanh.[87]

Sau khi phân biệt rõ ràng tất cả các quan hệ nhân quả từ kiếp sống quá khứ xa nhất đến kiếp sống tương lai cuối cùng, hành giả có thể quan sát toàn bộ chuỗi sanh và diệt của danh-sắc mở rộng từ kiếp quá khứ xa nhất đến kiếp tương lai cuối cùng. Như vậy, hành giả có thể thoát khỏi tất cả 16 hoài nghi đã được miêu tả trước đây cũng như các tà kiến như “Vô nhân kiến” (Ahetuka-diṭṭhi), “Tà kiến Đấng Tạo Hóa” (Visama-hetuka-diṭṭhi), “Vô hành kiến” (Akiriya-diṭṭhi), “Vô quả kiến” (Natthika-diṭṭhi), “Thường kiến” (sassata-diṭṭhi), và “Đoạn kiến” (Uccheda-diṭṭhi).

Tuệ Phân Biệt Các Nhân Của Danh-Sắc (Nāma-Rūpa)

Khi hành giả phân biệt các nhân của danh-sắc theo cách này nghĩa là bằng quan hệ nhân quả của Lý Duyên Khởi và từ bỏ hoài nghi về ba thời kỳ, lúc đó tất cả trạng thái quá khứ, tương lai và hiện tại được hiểu biết theo đúng mối liên kết chết và tái sanh. Điều này đánh dấu trạng thái Đoạn Nghi Thanh Tịnh (Kaṅkhāvitaraṇa-visuddhi). “Tuệ Phân Biệt Các Nhân Của Danh-Sắc” (Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên) được biết là “Paccaya-pariggaha-ñāṇa”.

Đạo Và Phi Đạo Tri Kiến Thanh Tịnh (Maggāmagga-ñāṇadassana-visuddhi)

Sau khi xác định các tâm (citta), tâm sở (cetasika) và sắc (rūpa) cả ở nội thân và ngoại thân, và sau khi phân biệt các quan hệ nhân quả của Lý Duyên Khởi, hành giả đã sẵn sàng thọ trì đúng đắn thiền vipassanā. Tuy nhiên, hành giả phải làm sáng tỏ hơn nữa trí tuệ về các pháp chân đế bằng cách xác định lại từng pháp một theo bốn khía cạnh: theo các đặc tính riêng (lakkhaṇa), phận sự (rasa), biểu hiện (paccupaṭṭhāna), và nhân gần (padaṭṭhāna) cho sự sanh của chúng như đã được chỉ dẫn trong Kinh Đại Niệm Xứ (Mahā Satipaṭṭhāna Sutta[88]), các Chú Giải.[89],[90]

Sau khi xác định từng tâm (citta), từng tâm sở (cetasika) và từng sắc (rūpa), hành giả nhận thấy trí tuệ về pháp chân đế trở nên rất rõ ràng.

Thọ Trì Thiền Vipassanā

Bây giờ, hành giả có thể thọ trì thiền Vipassanā bằng cách bắt đầu với cái dễ dàng hơn. Đầu tiên, hành giả phân biệt 18 loại sắc thực (nipphanna rūpa) ở sáu môn và 42 thân phần (koṭṭhāsa) và quán bản chất vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta) gắn liền với từng sắc (rūpa) trong từng môn cũng như từng thân phần.

Hành giả phân biệt bản chất sanh và diệt của từng sắc (rūpa) bằng trí tuệ của mình và quán bản chất vô thường là “anicca, anicca” (vô thường, vô thường), cả nội thân lẫn ngoại thân. Hành giả phân biệt bản chất không ngừng bị hành hạ bởi sự diệt của sắc và quán “dukkha, dukkha” (khổ, khổ) lặp đi lặp lại. Hành giả phân biệt rõ ràng bằng trí tuệ của mình sự vắng mặt của một thực thể thường hằng, bất diệt để có thể được gọi là “tự ngã” hoặc “linh hồn” và quán “anatta, anatta” (vô ngã, vô ngã).

Hành giả không nên tập trung tâm mình vào các hạt nhỏ (tức nhóm sắc hay tổng hợp sắcrūpa-kalāpa) khi quán tam tướng vì các hạt nhỏ này không phải là pháp chân đế và chúng sẽ biến mất khi việc hành thiền tiến triển. Thay vào đó, hành giả phân tích các hạt nhỏ để quan sát các sắc chân đế (rūpa) (pathavī (đất), āpo (nước), tejo (lửa), vāyo (gió), vaṇṇa (màu), gandha (mùi), rasa (vị), ojā (dưỡng chất)…) và tập trung chú ý vào sự sanh và diệt nhanh chóng của các sắc chân đế (rūpa) này.

Khi hành giả có thể phân biệt tam tướng của sắc (rūpa) hoàn toàn nhanh chóng và sâu sắc, hành giả phân biệt tam tướng của danh (nāma) gắn liền với sáu loại lộ trình tâm. Quan sát sự sanh và diệt nhanh chóng của từng tâm và các tâm sở đi cùng của nó ở mỗi sát-na tâm bằng trí tuệ của mình, hành giả quán lặp đi lặp lại “anicca, anicca” (vô thường, vô thường). Hành giả quán xét theo cách này trên tất cả các tâm (citta) và tâm sở (cetasika) trong sáu loại lộ trình tâm cả nội thân lẫn ngoại thân. Tương tự, hành giả phân biệt bản chất không ngừng bị hành hạ bởi sự diệt nhanh chóng của các tâm (citta) và các tâm sở (cetasika) và quán “dukkha, dukkha” (khổ, khổ). Lại nữa, hành giả phân biệt bằng trí tuệ của mình sự vắng mặt của một thực thể thường hằng, bất diệt để có thể được gọi là “tự ngã” hay “linh hồn” và quán “anatta, anatta” (vô ngã, vô ngã).

Sau đó, hành giả quán xét tam tướng của danh và sắc cùng nhau liên quan đến sáu loại lộ trình tâm. Tập trung tâm mình trên từng tâm và các tâm sở của nó, 54 loại sắc (rūpa) kết hợp với căn vật lý và cảnh trần, hành giả quán lặp đi lặp lại “anicca, anicca” (vô thường, vô thường) trên bản chất sanh và diệt, “dukkha, dukkha” (khổ, khổ) trên bản chất không ngừng bị hành hạ, và “anatta, anatta” (vô ngã, vô ngã) trên bản chất không có tự ngã và không có linh hồn.

Rồi hành giả thực hành addhāpaccuppanna vipassanā. Hành giả quán đặc tính vô thường của sắc từ lúc sanh đến lúc chết ít nhất một lần. Hành giả lặp lại quán đặc tính khổ và rồi đặc tính vô ngã. Hành giả tiếp tục quán xét bất kỳ một trong ba đặc tính mà hành giả thích cả bên trong lẫn bên ngoài.

Hành giả quán từng đặc tính trong ba đặc tính của danh từ lúc sanh ra đến khi chết đi theo cách tương tự. Hành giả nên thực hành bao trùm tất cả sáu loại lộ trình tâm. Rồi hành giả nên quán xét trên danh và sắc theo cách tương tự cả bên trong lẫn bên ngoài.

Tiếp theo, hành giả thực hành thiền Vipassanā gắn với quá khứ, đến hiện tại và đến tương lai. Trong tất cả các kiếp quá khứ, kiếp hiện tại, và các kiếp tương lai trong đó hành giả phân biệt các quan hệ nhân quả của Lý Duyên Khởi, từ lúc sanh đến lúc chết, hành giả quán tuần tự các đặc tính vô thường, khổ và vô ngã của riêng sắc, của riêng danh, của cả danh và sắc cùng với nhau.

Tiếp theo, hành giả thực hành thiền Vipassanā gắn với năm uẩn hiện tại. Hành giả phân biệt các sắc-thực (nipphanna rūpa) trong sáu môn và và 42 thân phần của kiếp hiện tại và tuần tự quán các đặc tính vô thường, khổ và vô ngã của chúng. Hành giả cũng tập trung chú ý vào sự sanh và diệt của sắc thực bên ngoài và quán tuần tự các đặc tính vô thường, khổ và vô ngã. Đây là sự quán về sắc uẩn.

Sau đó, hành giả phân biệt tâm sở thọ (vedanā cetasika) trong từng tâm của sáu môn lộ trình tâm và tập trung vào sự sanh và diệt của nó, hành giả quán tuần tự các đặc tính vô thường, khổ và vô ngã của nó. Hành giả quán cả bên trong lẫn bên ngoài. Đây là sự quán về thọ uẩn. Sau đó, hành giả quán tuần tự tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn theo cách tương tự.

Tiếp theo hành giả thực hành thiền Vipassanā gắn với năm uẩn quá khứ, năm uẩn hiện tại và năm uẩn tương lai. “Bất kỳ sắc nào bất kể ở quá khứ, hiện tại hay tương lai, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, cao thượng hay hạ liệt, xa hay gần, hành giả xác định tuần tự tất cả các sắc là vô thường, là khổ và là vô ngã.[91],[92] Hành giả phân biệt các sắc thực trong sáu môn và 42 thân phần lần lượt của các kiếp quá khứ, kiếp hiện tại và các kiếp tương lai và tuần tự quán các đặc tính vô thường, khổ và vô ngã của chúng, cả bên trong lẫn bên ngoài. Hành giả cũng quán tuần tự thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn theo cách tương tự.

Thọ Trì Thiền Vipassanā Theo Bốn Mươi Cách

Tiếp theo, để tăng cường thấu hiểu về vô thường, khổ và vô ngã của năm uẩn theo 40 cách, hành giả cũng thấu hiểu các uẩn này theo cách thấy chúng là vô thường, là khổ, là bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, tai họa, sầu khổ, là xa lạ, là tan rã, là bệnh dịch, ương ách, khủng khiếp, đe dọa, là phù du, khả hoại, không bền, là không sự bảo vệ, không chỗ trú, không chỗ nương, là trống rỗng, vô dụng, trống không, vô ngã, là nguy hiểm, là phải chịu biến đổi, là không có cốt lõi, là gốc rễ của tai ương, là sát nhân, là phải chịu tiêu diệt, là hữu lậu, là hữu vi, là mồi của Ma vương (Māra), là phải chịu sanh, phải chịu già, phải chịu bệnh, phải chịu chết, phải chịu sầu, phải chịu bi ai, phải chịu ai oán, phải chịu cấu uế.[93]

Thiền Vipassanā Trên Các Nhân Và Các Quả Của Lý Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda)

Tiếp theo, hành giả phân biệt các Pháp Chân Đế (paramattha dhamma) của các nhân và các quả của Lý Duyên Khởi trong chuỗi hiện hữu gắn liền với quá khứ, hiện tại và vị lai và xác định chúng là vô thường, khổ và vô ngã. Ví dụ:

Do duyên vô minh (avijjā) sanh, hành (saṅkhāra) cũng sanh;

Vô minh (avijjā) sanh và diệt; như vậy, nó là vô thường,

Hành (saṅkhāra) cũng sanh và diệt; như vậy, nó cũng là vô thường.

Thiền Vipassanā Theo Bảy Phép Quán Sắc và Bảy Phép Quán Vô Sắc

Tiếp theo, hành giả thấu hiểu sắc và danh theo thuộc tính tam tướng của chúng qua trung gian là Bảy Phép Quán Sắc (rūpasattaka) và Bảy Phép Quán Danh (arūpāsattaka) như miêu tả trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga).[94]

Khi hành giả thấu hiểu sắc và danh qua phương pháp của Bảy Phép Quán Sắc và Bảy Phép Quán Danh hoàn hảo và thiện xảo, pháp hành của hành giả với đề mục thiền về sắc (quán sắcrūpakammaṭṭhāna) và đề mục thiền về danh (quán danhnāmakammaṭṭhāna) đi đến viên mãn.[95]

Khi tuệ xác định sắc và danh là vô thường, khổ và vô ngã được mài sắc theo nhiều cách như đã miêu tả ở trên, sự sanh và diệt của các pháp (dhamma) này xuất hiện rất nhanh chóng và rõ ràng trong trí tuệ của hành giả. Bây giờ, hành giả tu tập sammasana-ñāṇa, “tuệ xác định danh-sắc là vô thường, khổ và vô ngã” (Tuệ Thẩm Sát Tam Tướng) đến mức độ cao nhất. Hành giả cũng thấu suốt một phần của mười tám Đại trí tuệ thiền Quán (Mahāvipassanā) và do vậy từ bỏ các pháp đối nghịch với những gì hành giả đã thấu suốt.[96]

Tu Tập Tuệ Sanh Diệt (Udayabbaya-ñāṇa)

Udayabbaya-ñāṇa là tuệ thấu hiểu rõ ràng danh-sắc ở thời điểm sát-na sanh cũng như ở thời điểm sát-na diệt cùng với tam tướng là vô thường, khổ và vô ngã.

Để tu tập tuệ này, hành giả xác định lại tất cả danh-sắc cùng với các nhân và quả của Lý Duyên Khởi là vô thường, khổ và vô ngã. Hành giả quán tam tướng lần lượt, cả bên trong lẫn bên ngoài, (1) riêng sắc mà thôi, (2) riêng danh mà thôi, và (3) cả danh-sắc cùng với nhau thuộc về hiện tại, đến quá khứ, và đến vị lai. Hành giả thực hành thiền Vipassanā bằng cách (1) quán xét các pháp sanh (samudayadhammānupassī), (2) quán xét các pháp diệt (vayadhammānupassī) và (3) quán xét các pháp sanh và diệt (samudaya-vaya-dhammānupassī).[97],[98],[99] Hành giả thực hành hoàn hảo đến khi thấu hiểu rõ ràng danh-sắc cùng với các nhân và các quả vào thời điểm sát-na sanh (uppāda), vào thời điểm sát-na trụ (ṭhīti) và vào thời điểm sát-na diệt (bhaṅga).

Sự Xuất Hiện Các Ô Nhiễm Của Thiền Vipassanā

Bây giờ, Tứ Thánh Đế, Nguyên Lý của Lý Duyên Khởi (Principles of Paṭiccasamuppāda) và tam tướng trở nên rõ ràng trong trí tuệ của hành giả. Tuệ Minh Sát còn non yếu (Taruṇavipassanāñāṇa) phát sanh nơi hành giả. Cột mốc của trạng thái này là sự xuất hiện Mười Ô Nhiễm Của Thiền Vipassanā (Upakkilesa) ở dạng hào quang thân thể rực rỡ, trí tuệ sáng suốt, cực hỷ, tịnh, lạc, quyết định, tinh tấn, niệm, xả và tham chấp.[100] Khi những điều này xuất hiện, hành giả có thể suy nghĩ sai lầm rằng: “Ta chắc chắn đã đạt được Đạo, đã đạt được Quả”. Như vậy, hành giả lấy cái không phải là đạo thì cho là đạo và cái không phải là quả thì cho là quả. Hành giả buông rơi đề mục thiền và ngồi tận hưởng sự an lạc của mình với tham chấp, ngã mạn và tà kiến.

Tuệ Về Đạo và Phi Đạo

Nhưng nếu hành giả thiện xảo trong Pháp Học (pariyatti) hay được hướng dẫn bởi vị thầy, hành giả biết rằng chúng là các ô nhiễm của minh sát và rằng cũng sẽ làm tăng trưởng tham ái (taṇhā), mạn (māna) và tà kiến (diṭṭhi). Hành giả xem xét từng ô nhiễm và thấy chúng là “Đây không phải là của ta, đây không phải là ta, đây không phải là tự ngã của ta”. Hành giả cắt đứt sự tham chấp của mình với hào quang thân thể, hỷ, lạc… và nỗ lực tinh tấn tu tập minh sát (Vipassanā) là con đường chánh. Đây là “Sự Thanh Tịnh bởi Tri Kiến về Những Gì là Đạo và Những Gì là Phi Đạo” (Đạo và Phi Đạo Tri Kiến Thanh Tịnh).

Đạo Hành Tri Kiến Thanh Tịnh (Paṭipadā-ñāṇadassana-visuddhi)

Sau khi an trú tri kiến về con đường chánh, hành giả phấn đấu tu tập tám tuệ minh sát từ tuệ sanh diệt (udayabbayañāṇa) đến tuệ hành xả (saṅkhārupekhāñāṇa) và cũng như tuệ thuận thứ (anulomañāṇa).

Hành giả lại thọ trì thiền vipassanā, xác định tam tướng lần lượt (1) chỉ với sắc, (2) chỉ với danh, (3) cả sắc và danh, (4) năm uẩn (khandha) (5) mười hai xứ (āyatana), (6) mười tám giới (dhātu) bao gồm tất cả danh-sắc phát sanh ở sáu môn.

Thọ Trì Tứ Niệm Xứ (Anupassanā)

Tiếp theo, hành giả thực hành Tứ Niệm Xứ. Hành giả lại xác định tam tướng tuần tự với tất cả danh-sắc như trên, ưu tiên cho sắc trước rồi tiến đến danh. Đây gọi là niệm thân (kāyā-nupassanāsatipaṭṭhāna).

Tiếp theo, hành giả xác định tam tướng lần lượt với tất cả danh-sắc như trên, ưu tiên cho thọ. Đây gọi là niệm thọ (vedanānupassanā). Ví dụ:

Căn sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

Cảnh sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

Thọ sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

(Tiếp tục với tất cả các danh phối hợp với thọ).

Tiếp theo, hành giả xác định tam tướng tuần tự với tất cả danh-sắc như trên, ưu tiên cho tâm (thức, citta). Đây gọi là niệm tâm (cittanupassanā). Ví dụ:

Căn sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

Cảnh sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

Tâm sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

(Tiếp tục với tất cả các danh phối hợp với tâm).

Tiếp theo, hành giả xác định tam tướng lần lượt với tất cả danh-sắc như trên, ưu tiên cho xúc, tư,… Đây gọi là niệm pháp (dhammānupassanā). Ví dụ:

Căn sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

Cảnh sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

Xúc (phassa) ( (cetanā),…) sanh và diệt: aniccavô thường, (dukkha – khổ, anatta – vô ngã)

(Tiếp tục với tất cả các danh phối hợp với xúc (phassa),…)

Thiền Vipassanā Bằng Cách Phân Biệt Tỉnh Giác Tứ Oai Nghi (Iriyāpatha-sampajañña)

Iriyāpatha nghĩa là các oai nghisampajañña nghĩa là trí tuệ quán xét (tỉnh giác). Hành giả phải phân biệt tất cả các tâm (citta), tâm sở (cetasika) và sắc (rūpa), tức là năm uẩn, trong khi hành giả ở bất kỳ oai nghi nào: đi, đứng, ngồi, nằm, duỗi, cong… Hành giả phải nhận thức ý định về bất kỳ chuyển động nào; hành giả phải nhận thức về chuyển động và kết quả của chuyển động. Hành giả cũng phải phân biệt tất cả danh-sắc (năm uẩn) sanh ra ở sáu môn.

Rồi hành giả xác định tam tướng tuần tự (1) chỉ với sắc, (2) chỉ với danh, (3) cả sắc và danh, trong năm uẩn mà hành giả đã phân biệt ở mỗi oai nghi cũng như ở sáu môn. Hành giả quán xét tất cả danh-sắc cả bên trong lẫn bên ngoài thuộc về quá khứ, đến hiện tại và đến vị lai. Hành giả phấn đấu đến khi có thể phân biệt danh-sắc vào thời điểm sát-na sanh, vào thời điểm sát-na trụ và vào thời điểm sát-na diệt.

Tiếp theo, hành giả phân biệt các nhân và quả theo Lý Duyên Khởi của danh-sắc và xác minh bằng thắng trí của mình rằng

(1) do nhân sanh, quả sanh;

(2) do nhân diệt, quả diệt;

(3) do nhân sanh và diệt, quả sanh và diệt.

(4) phân biệt lại sự sanh và diệt của các nhân và các quả, hành giả xác định tam tướng lần lượt cả ở bên trong lẫn bên ngoài thuộc về quá khứ, đến hiện tại, và đến tương lai. Từng lúc, hành giả cũng quán xét bản chất bất tịnh của danh-sắc. Hành giả phấn đấu viên mãn Tuệ Sanh diệt (Udayabbayañāṇa).

Tiến Đến Quán Sự Hoại Diệt (Bhaṅgānupassanā)

Khi hành giả lặp lại quan sát theo cách này, xem xét và thẩm sát danh-sắc, các nhân và quả để thấy rằng chúng là vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh, trí tuệ thiền đi trước liên kết với trí tuệ thiền đi sau. Như vậy, tuệ minh sát (vipassanāñāṇa) của hành giả trở nên rất mạnh mẽ và rất sắc sảo, bén nhọn và thuần khiết. Hành giả không còn mở rộng niệm đến sự sanh mà đem nó hướng đến sự tan rã của chúng.

“Khaya vaya bheda nirodheyewa satisantiṭṭhati”[101]

“Với sự hỗ trợ đầy sức mạnh của tuệ minh sát đi trước, niệm kết hợp với tuệ minh sát đi sau trở nên khéo an trú trên tính tàn lụi, tan rã và hoại diệt của các hành.”

(1) Aniccaṁ khayaṭṭhena - quan sát bản chất tàn lụi, tan vỡ, tan rã và biến mất của các hành bằng thắng trí, hành giả quán xét “anicca, anicca” (vô thường, vô thường) lặp đi, lặp lại.

(2) Dukkhaṁ bhayaṭṭhena - quan sát bản chất khủng khiếp của tàn lụi, tan vỡ, tan rã và biến mất của các hành bằng thắng trí, hành giả quán xét “dukkha, dukkha” (khổ, khổ) lặp đi, lặp lại.

(3) Anattā asārakaṭṭhena - quan sát bản chất không có cốt lõi, không có tự ngã và không có linh hồn của các hành bằng thắng trí, hành giả quán xét “anatta, anatta” (vô ngã, vô ngã) lặp đi, lặp lại.

(4) Hành giả cũng quán xét bản chất bất tịnh của các hành vào từng lúc.

Khi hành giả đã phá vỡ tính khối của danh và sắc bằng cách thấu suốt vào các pháp chân đế trong nhóm danh và nhóm sắc (rūpakalāpa) khi tu tập Tuệ Xác Định Danh-Sắc (nāmarūpaparicchedañāṇa) và kiến thanh tịnh, bây giờ, nhóm sắc (rūpakalāpa) không còn rõ ràng nữa. Vì tuệ minh sát của hành giả rất sắc sảo và bén nhọn, các pháp chân đế (paramattha dhamma) của các hành trở nên rất nhanh chóng rõ ràng trong trí tuệ của hành giả. Vì chúng xuất hiện và tan rã quá nhanh đến nỗi hành giả không còn có thể quan sát được sự sanh và hiện hữu của chúng nữa; hành giả chỉ quan sát thấy sự hoại diệt của chúng.

Tuệ quán sự hoại diệt” này được gọi là “bhaṅgañāṇa”.

Thọ Trì Minh Sát Trí Đạt Tri (Ñāta-Ñāṇa Vipassanā)

Ñāta” nghĩa là danh-sắc, các nhân và các quả hiện hữu trong quá khứ, hiện hữu trong hiện tại, và sẽ hiện hữu trong tương lai, cả bên trong lẫn bên ngoài.

Ñāṇa” nghĩa là trí tuệ phân biệt các hành được biết là ñāta là vô thường, khổ và vô ngã. Nó là tâm sở trí tuệ (paññā cetasika) phối hợp với các tốc hành tâm (javana citta) của ý môn lộ trình tâm.

Theo chỉ dẫn trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga[102]), bây giờ, hành giả phải phân biệt cả ñāta ñāṇa là vô thường, khổ và vô ngã. Ví dụ:

(1) Hành giả phân biệt sắc, sắc diệt – anicca (vô thường). Tuệ phân biệt cũng diệt – anicca (vô thường).

(2) Hành giả phân biệt danh, danh diệt – anicca (vô thường). Tuệ phân biệt cũng diệt – anicca (vô thường).

Hành giả phân biệt các hành là vô thường (anicca), khổ (dukkha), vô ngã (anatta) lần lượt (1) bên trong một lúc, (2) bên ngoài một lúc, (3) trên sắc một lúc, (4) trên danh một lúc, (5) trên các nhân một lúc, (6) trên các quả một lúc, (7) trên các hành quá khứ một lúc, (8) trên các hành hiện tại một lúc, (9) trên các hành tương lai một lúc. Hành giả có thể ưu tiên cho các pháp (dhamma) mà mình có thể phân biệt tốt hơn. Theo Mahā Ṭīka[103], cần thiết phải thọ trì thiền vipassanā theo nhiều cách để làm Tuệ Quán Sự Hoại diệt (bhaṅgañāṇa) viên mãn.

Hành giả cũng nên chỉ phân biệt sự diệt của các nhân và các quả của Lý Duyên Khởi cả bên trong lẫn bên ngoài thuộc về ba thời và quán xét là:

Vô minh (Avijjā) diệt – anicca (vô thường); tuệ quán cũng diệt – anicca (vô thường).

Hành (Saṅkhāra) diệt – anicca (vô thường); tuệ quán cũng diệt – anicca (vô thường) và v.v.

Sự Sanh Khởi Tuệ Về Sự Xuất Hiện Kinh Hãi (Tuệ Kinh Úy) (Bayañāṇa)

Khi hành giả lặp lại tu tập và trau dồi theo cách quán sự diệt của các hành bao gồm tất cả các loại hiện hữu, thế hệ, số phận, địa vị hoặc trú xứ của chúng sanh thì xuất hiện sự kinh hãi khủng khiếp. Sự hành hạ không dứt gây ra bởi sự diệt không ngừng của các hành trở nên rất rõ ràng là sự khổ đau cùng cực và sự kinh hãi khủng khiếp.

Khi hành giả thấy được như thế nào mà các hành quá khứ đã diệt, các hành hiện tại đang diệt và các hành sẽ sanh ra trong vị lai sẽ diệt, theo cùng một cách, rồi tuệ được gọi là “Tuệ Về Xuất Hiện Sự Kinh Hãi” (Tuệ Kinh Úy) phát sanh nơi hành giả vào giai đoạn đó.

Sự Sanh Khởi Tuệ Thấy Rõ Khuyết Điểm Và Sự Bất Toại Nguyện (Tuệ Hiểm Nguy) (Ādīnavañāṇa)

Khi hành giả lặp đi lặp lại, tu tập và trau dồi tuệ xuất hiện sự kinh hãi, hành giả thấy rằng không có nơi ẩn náu, không nơi che chở, không nơi để đi, không có nơi nương tựa nào trong bất kỳ loại hiện hữu, thế hệ, số phận, địa vị hay trú xứ. Ba loại hiện hữu xuất hiện như hầm than cháy rực, tứ đại như nơi trú ẩn của rắn độc, năm uẩn như kẻ sát nhân với vũ khí giương lên, sáu nội căn như ngôi làng trống rỗng, sáu ngoại căn như ngôi làng bị kẻ cướp tấn công, bảy trú xứ của thức và chín trú xứ của chúng sanh như thể bị thiêu đốt, nóng rực và rực sáng với mười một ngọn lửa. Tất cả các hành xuất hiện như là một khối khổng lồ các hiểm nguy và các khuyết điểm, bất toại nguyện hoặc không thực chất, như khối u, bệnh tật, mũi tên, tai ương, đau đớn.[104],[105]

Như vậy, bằng sức mạnh của quán sự hiểm nguy, quán sự hoại diệt (bhaṅganupassanā), tất cả các hành xuất hiện như các hiểm nguy khủng khiếp, và tuệ thấy rõ khuyết điểm và bất toại nguyện nơi chúng, phát sanh nơi hành giả.

Sự Sanh Khởi Tuệ Cảm Thọ Nhàm Chán Và Ghê Tởm (Tuệ Yểm Ly) (Nibbidāñāṇa)

Khi hành giả thấy tất cả các hành là hiểm nguy, đầy các khuyết điểm và bất toại nguyện, hành giả trở nên hướng đến bình thản, không hài lòng, không ham thích, trở nên nhàm chán với tất cả dạng hành thuộc bất kỳ loại hiện hữu, số phận, địa vị hay trú xứ nào. Như vậy, tuệ về cảm thọ nhàm chán và ghê tởm với tất cả các loại hành cũng trở nên rõ ràng.[106]

Sự Sanh Khởi Tuệ Khao Khát Giải Thoát (Tuệ Dục Thoát) (Muñcitukamyatāñāṇa)

Khi hành giả cảm thấy nhàm chán và ghê tởm với tất cả các hành là cái đang hoại diệt không ngừng, hành giả không hài lòng với chúng, không ham thích chúng, không còn tham chấp với bất kỳ dù chỉ một trong tất cả các dạng hành trong bất kỳ loại hiện hữu, thế hệ, số phận, địa vị hay trú xứ. Hành giả khao khát được giải thoát khỏi phạm vi của các hành và đang giải thoát khỏi nó.

Giống như cá bị mắc trong lưới, con ếch nằm trong miệng rắn, con gà rừng bị nhốt trong lồng, con nai rơi vào ngàm của một cái bẫy chắc chắn, một người bị bao vây bởi quân thù muốn được giải thoát và thoát khỏi những thứ này, cũng vậy, hành giả muốn giải thoát khỏi toàn bộ phạm vi của các hành và thoát khỏi nó. Như vậy, tuệ khao khát giải thoát cũng phát sanh nơi hành giả.[107]

Sự Sanh Khởi Tuệ Nỗ Lực Giải Thoát (Tuệ Quyết Ly) (Paṭisaṅkhāñāṇa)

Hành giả, người khao khát giải thoát khỏi các hành trong ba mươi mốt cõi thuộc về ba thời, lại phân biệt các hành đó, quy cho chúng ba đặc tính bằng tuệ quán cho sự giải thoát hoàn toàn. Hành giả thấy tất cả các hành là vô thường vì chúng (1) không thể ra ngoài sự hoại diệt, (2) hiện hữu tạm thời, (3) bị giới hạn bởi sanh và diệt, (4) bị tan rã, (5) phù du, (6) dễ hư hoại, (7) không bền, (8) phải chịu biến hoại, (9) không có cốt lõi, (10) phải chịu chết.

Hành giả thấy chúng là khổ vì chúng là (1) sự hành hạ không dứt, (2) không thể chịu đựng được, (3) nền tảng của khổ đau, (4) bệnh hoạn, (5) khối ung nhọt, (6) mũi tên, (7) tai họa, (8) sầu khổ, (9) bệnh dịch, (10) ương ách, (11) kinh hãi, (12) không có sự bảo vệ, (13) không có nơi che chở, (14) không có nơi nương tựa, (15) là hiểm nguy, (16) cội nguồn của tai ương, (17) sát nhân, (18) phải chịu lậu hoặc, (19) miếng mồi của Ma Vương (Māra), (20) phải chịu sanh, (21) phải chịu già, (22) phải chịu bệnh tật, (23) phải chịu sầu khổ, (24) phải chịu bi ai, (25) phải chịu ai oán, (26) phải chịu cấu uế v.v.

Hành giả thấy tất cả các hành là vô ngã vì chúng là (1) kẻ xa lạ, (2) không có linh hồn, (3) vô dụng, (4) trống rỗng, (5) vô chủ, (6) không chịu kiểm soát, (7) có thể thay đổi để phù hợp với mong muốn của kẻ khác, v.v.

Hành giả thấy chúng là bất tịnh vì chúng là (1) đáng chê trách, (2) hôi hám, (3) ghê tởm, (4) gớm guốc, (5) không có kết quả bằng cách che giấu, (6) xấu xa, (7) đáng ghét, v.v.

Khi hành giả phấn đấu theo cách này, tuệ nỗ lực cho sự giải thoát trở nên rõ ràng nơi hành giả.[108]

Sự Sanh Khởi Tuệ Hành Xả (Saṅkhārupekkhāñāṇa)

Hành giả phân biệt lặp đi lặp lại các hành, các nhân và các quả trong ba mươi mốt cõi hiện hữu bằng cách lần lượt quy cho chúng bản chất vô thường, bản chất khổ, bản chất bất tịnh, bản chất vô ngã, đôi khi bên trong và đôi khi bên ngoài, bản chất hoại diệt của các hành rất nhanh chóng trở nên rõ ràng. Hành giả tiếp tục xác định lần lượt tam tướng trên bản chất của sự hoại diệt.

Tâm thiền của hành giả dần từ bỏ cả kinh sợ lẫn ham thích với các hành và trở nên quân bình, không thiên vị và trung lập. Nó trở nên an trú định tĩnh trên sự diệt của các hành.

Sau đó, nếu tâm thiền vẫn định tĩnh trong việc phân biệt các hành bên trong, hành giả tiếp tục phân biệt lần lượt sắc và danh bên trong. Nếu, mặt khác, tâm thiền vẫn an tịnh trong việc phân biệt các hành bên ngoài, hành giả tiếp tục phân biệt lần lượt sắc và danh bên ngoài. Trong tam tướng, hành giả đặt ưu tiên cho tướng nào mà hành giả có thể quán xét tốt hơn.

Vào giai đoạn này, tín (saddhā) và tuệ (paññā), tinh tấn (vīriya) và định (samādhi) phải đặc biệt quân bình bằng niệm (sati). Tất cả ngũ căn (indriya) phải được quân bình để tiến đến giác ngộ.

Khi tâm thiền được an trú định tĩnh trên sự hoại diệt của các hành, hành giả sẽ không nghe thấy âm thanh bên ngoài. Nếu tâm thiền định tĩnh gắn chặt với sự hoại diệt của các hành là không lay chuyển, tuệ minh sát trở nên cực kỳ mạnh mẽ. Hành giả có thể tiếp tục phân biệt các hành mà mình có thể phân biệt tốt hơn, đặt ưu tiên cho tướng nào mà hành giả có thể quán xét tốt hơn. Nếu hành giả chỉ quan sát sự hoại diệt của danh mà không quan sát sự hoại diệt của sắc, thì hành giả chỉ phải tập trung phân biệt sự hoại diệt của danh mà thôi.

Bhayañca nandiñca vippahāya sabbasaṅkhāresu udāsino hoti mijjhatto.[109]

Hành giả, người thấy rõ ràng các khuyết điểm của các hành và thọ trì thiền vipassanā bằng cách phân biệt sự diệt của các hành với ước muốn mãnh liệt là để giải phóng khỏi tất cả các hành, thấy rằng không có gì có thể được yêu mến như là “của ta — ta — tự ngã của ta” nữa.

Từ bỏ hai thái cực là “kinh hãi” (bhaya) và vui thích (nandī) với các hành, hành giả trở nên không thiên vị và trung lập với chúng. Hành giả chẳng lấy chúng là “ta”, cũng chẳng phải “của ta”, cũng chẳng là “tự ngã của ta”; hành giả giống như người đàn ông đã ly dị người vợ không chung thủy. Tuệ đã dẫn hành giả đến giai đoạn quân bình này là “Tuệ Hành Xả”.

Tuệ Hành Xả (saṅkhārupekkhāñāṇa) này, nếu nó thấy Niết-bàn (Nibbāna), trạng thái an tịnh, là an lạc, thì sẽ xả ly tất cả các hành và chạy đến Niết-bàn. Nếu nó không thấy Niết-bàn là an tịnh, đối tượng của nó là các hành lại tiếp tục xuất hiện lặp đi lặp lại, giống như con quạ của người thủy thủ cứ lại quay về với con thuyền nếu nó không thấy đất liền.[110]

Nếu tuệ này chưa trưởng thành, hành giả tiếp tục phân biệt (1) các hành ở hiện tại một lúc, (2) các hành ở quá khứ một lúc, (3) cách hành ở tương lai một lúc, (4) các hành bên trong một lúc, (5) các hành bên ngoài một lúc, (6) các sắc một lúc, (7) các danh một lúc, (8) các nhân một lúc, (9) các quả một lúc, (10) vô thường một lúc, (11) khổ một lúc, (12) vô ngã một lúc, để làm tuệ này trưởng thành.

Tuệ Thuận Thứ (Anulomañāṇa), Tuệ Chuyển Tộc, (Gotrabhuñāṇa), Tuệ Đạo (Maggañāṇa), Tuệ Quả (Phalañāṇa), Tuệ Phản Khán (Paccavekkhaṇañāṇa)

Khi hành giả lặp lại, tu tập và trau dồi sự quân bình với các hành, tín tâm của hành giả sẽ thêm kiên định, tinh tấn được sử dụng tốt hơn, niệm được an trú tốt hơn, tâm định tốt hơn, trong khi sự quân bình với các hành được tăng trưởng tinh tế hơn. Sau đó, khi trí tuệ thiền của hành giả thoát ly khỏi sự diệt của các hành được gọi là “pavatta” và thấy bản chất vô vi và không bị hoại diệt của Niết-bàn (Nibbāna) được gọi là “apavatta”, lộ trình tâm sau đây sanh khởi.

(Mandapaññā) – “Na-Da-Ma-Pa-U-Nu-Go-Magga-
Phala-Phala” -Bh-

(Tikkhapaññā) – “Na-Da-Ma-U-Nu-Go-Magga-
Phala-Phala-Phala” -Bh-

Na = bhavaṅga-calana - hữu phần (hộ kiếp) rúng động

Da = bhavaṅgu-paccheda - hữu phần (hộ kiếp) dứt dòng

Ma = manodvārāvajjana - tâm hướng ý môn

Pa = parikamma - chuẩn bị của Đạo (magga)

U = upacāra - cận hành của Đạo (magga)

Nu = anuloma - thuận thứ cho cái đi trước và cái theo sau

Go = gotrabhu - chuyển tộc

Magga = sotāpattimagga – Đạo Nhập Lưu

Phala = sotāpatti-phala - Quả Nhập Lưu

Bh = bhavaṅga - hữu phần (hộ kiếp)

Khi đối tượng của các hành là vô thường, hoặc khổ, hoặc vô ngã xuất hiện ở ý môn, tâm hữu phần (hộ kiếp) rúng động hai lần (Na-Da) và bị ngừng lại hay cắt đứt. Sau đó, tâm hướng ý môn (manodvārāvajjana) (Ma) hướng dòng tâm đến đối tượng, thẩm sát nó và quyết định xem nó là vô thường (anicca), khổ (dukkha) hay vô ngã (anatta). Sau đó, một trong bốn tâm đại thiện dục giới tương ưng trí (ñāṇasampayutta mahākusala citta) sanh khởi bốn lần, phận sự là chuẩn bị (Pa), cận hành (U), thuận thứ (Nu), và chuyển tộc (Go).

“Chuẩn bị” làm nhiệm vụ mở đầu cho việc chuẩn bị phát sanh Đạo.

“Cận hành” có phận sự là tiếp cận Đạo.

“Thuận thứ” làm thích ứng các phận sự thấy chân lý cả ở trong tám loại tuệ minh sát đi trước và ở trong ba mươi bảy yếu tố giác ngộ (Bodhipakkhiya) theo sau.

Tuệ kết hợp với ba tâm này (chuẩn bị – parikamma, cận hành – upacāra, thuận thứ – anuloma) là tuệ minh sát cao nhất được biết là tuệ thuận thứ” (anuloma-ñāṇa).

Gotrabhu (chuyển tộc) không lấy các hành làm đối tượng; nó lấy Niết-bàn làm đối tượng của nó và chỉ ra Niết-bàn, do đó tâm Đạo (Magga citta) có thể sanh khởi lên sau nó, cũng lấy Niết-bàn làm đối tượng. Nó giống như con quạ của người thủy thủ chỉ ra đất liền để con thuyền có thể hướng đến đất liền. Nó được gọi là tuệ chuyển tộc vì nó thay đổi dòng dõi của hành giả từ phàm nhân (puthujjana) sang thánh nhân (ariya). Cho đến tâm chuyển tộc (gotrabhu citta), hành giả vẫn còn là một phàm nhân (là người bị trói chặt bởi mười kiết sử). Nhưng ngay khi tâm Đạo (Magga citta) sanh khởi, hành giả trở thành một thánh nhân.

Mặc dù tuệ thuận thứ (anulomañāṇa) là tuệ minh sát cuối cùng dẫn dắt đến sự giải thoát mà lấy các hành làm đối tượng, tuy nhiên, “tuệ chuyển tộc” (gotrabhuñāṇa) là tuệ cuối cùng trong tất cả các loại tuệ minh sát dẫn dắt đến sự giải thoát.

Tâm Đạo (Magga citta) luôn luôn chỉ sanh khởi chỉ một lần, thực hiện bốn chức năng, đó là, (1) thấu rõ chân lý về khổ, (2) nhổ tận gốc rễ tham ái là nguồn gốc của khổ, (3) chứng ngộ Niết-bàn, và (4) phát triển trọn vẹn Bát Thánh Đạo.

Ngay sau khi tâm Đạo (Magga citta) diệt, quả của nó, tức là tâm Quả (Phala citta), sanh khởi hai lần không ngắt quãng theo thời gian (akāliko), lấy Niết-bàn (Nibbāna) làm đối tượng. Lộ trình tâm này là cho hành giả có trí tuệ chậm lụt (mandapaññā). Đối với hành giả có trí tuệ bén nhạy (tikkhapaññā), thì tâm chuẩn bị (parikamma) vắng mặt và tâm Quả (Phala citta) sanh khởi ba lần. Ngay khi tâm Quả sanh khởi, hành giả trở thành một vị thánh Nhập Lưu (sotāpanna[111]). Hành giả có thể thọ hưởng sự an lạc vô song của Niết-bàn theo ý muốn và được đảm bảo hoàn toàn rằng không bao giờ tái sanh trong các cõi khổ.

Tuệ kết hợp với tâm Đạo và tâm Quả được biết tương ứng là “tuệ Đạo” (Maggañāṇa) và “tuệ Quả” (Phalañāṇa).

Sau lộ trình tâm đạo (magga-vīthi) và một vài tâm hữu phần (bhavaṅga citta) trôi qua, thông thường, năm lộ trình tâm phản khán (paccavekkhaṇa-vīthi) phát sanh. Qua những lộ trình tâm (vīthi) này, hành giả (1) suy xét Đạo, (2) suy xét Quả, (3) suy xét Niết-bàn, (4) suy xét các phiền não (tà kiến (diṭṭhi) và hoài nghi (vicikicchā)) đã được đoạn diệt, và (5) suy xét các phiền não chưa được đoạn diệt. Tuệ kết hợp với các tốc hành tâm (javana citta) này được gọi là “tuệ phản khán” (paccavekkhaṇañāṇa).[112]

Tri Kiến Thanh Tịnh (Ñāṇadassana-visuddhi)

Nỗ lực làm thanh tịnh tâm từng bước một bắt đầu bằng tu tập giới để đạt Giới thanh tịnh (sīlavisuddhi). Khi đạt được Tuệ thuận thứ, sáu giai đoạn thanh tịnh đầu tiên, tức là từ Giới thanh tịnh (sīlavisuddhi) đến Đạo hành tri kiến thanh tịnh (paṭipadāñāṇadassana-visuddhi) đã được viên mãn. Vào lúc chứng ngộ Đạo và Quả lần đầu tiên, giai đoạn thanh tịnh cuối cùng này được gọi là Tri Kiến Thanh Tịnh (Ñāṇadassana-visuddhi) đã được chứng đạt.

“Tri Kiến Thanh Tịnh” bao gồm đúng bốn Đạo tuệ, đó là, Nhập Lưu Đạo, Nhất Lai Đạo, Bất Lai Đạo, và A-la-hán Đạo.

1. Sotāpattimagga - Nhập Lưu Đạo

Đạo này nhổ tận gốc rễ hai phiền não (kilesa), đó là, tà kiến (diṭṭhi) và hoài nghi (vicikicchā) và ba kiết sử (saṁyojana), đó là, thân kiến (sakkāya-diṭṭhi), hoài nghi (vicikicchā) và giới cấm thủ (sīlabbataparāmāsa). Nó cũng diệt trừ các phiền não thô bởi vì một vị thánh Nhập Lưu sẽ không làm bất kỳ hành động xấu ác nào. Vị thánh Nhập Lưu sẽ không bao giờ tái sanh trong các cõi khổ.

2. Sakadāgami-magga - Nhất Lai Đạo

Đạo này không nhổ tận gốc rễ bất kỳ phiền não nào, nhưng nó làm giảm sức mạnh của các phiền não còn lại. Một vị thánh Nhất Lai sẽ chỉ bị tái sanh trong cõi dục một lần nữa mà thôi.

3. Anāgāmi-magga - Bất Lai Đạo

Đạo này nhổ tận gốc rễ một phiền não nữa là sân (dosa), và hai kiết sử nữa là dục ái (kāmarāga) và sân hận (paṭigha). Một vị thánh Bất Lai sẽ không bị tái sanh trong cõi dục; vị ấy sẽ chỉ bị tái sanh trong cõi Phạm Thiên.

4. Arahatta-magga - A-la-hán Đạo

Đạo này nhổ tận gốc rễ tất cả các phiền não và kiết sử còn lại. Như vậy, tâm của một vị A-la-hán thì hoàn toàn thanh tịnh. Một vị A-la-hán là một trong các vị Thánh mà các lậu hoặc đã bị diệt tận, vị ấy chỉ phải mang thân xác cuối cùng, các gánh nặng đã được đặt xuống, đã đạt được mục tiêu và đã tận diệt Hữu kiết sử, vị ấy có được chánh giải thoát với trí tuệ tối thắng và xứng đáng nhất cho thế gian và thiên chúng cúng dường.[113]

Điều này nên hiểu rằng tâm Quả (Phala-citta) tương ứng sẽ khởi sanh ngay tức khắc sau khi tâm Đạo (Magga-citta) tương ứng diệt và vị Thánh Tứ Quả có thể thọ hưởng quả tương ứng với Niết-bàn (Nibbāna) an lạc nhiều như ý muốn.

Kết Luận

Hướng dẫn chi tiết tối đa về thiền Vipassanā theo lời dạy của Đức Phật được miêu tả trong Tam Tạng Kinh Điển (Tipiṭaka), Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga), các Chú giải và Phụ Chú Giải Pāḷi khác. Nhiều phương pháp thực hành được sử dụng cho việc thẩm sát, phân biệt và xác định danh-sắc, các nhân và các quả, nội thân và ngoại thân thuộc về quá khứ, hiện tại và tương lai để đạt các kết quả như đã được miêu tả trong kinh điển. Nhiều hành giả, với sự hỗ trợ đầy sức mạnh của chánh định, có thể thấu suốt các pháp chân đế và phân biệt chúng là vô thường, khổ và vô ngã. Sự hướng dẫn gần gũi và đúng đắn của người thầy là thiết yếu, các buổi trình pháp liên tục và mật thiết cần được thực hiện để đảm bảo rằng các hành giả đi đúng đường mà không có bất kỳ sự sai lệch nào.

Nhiều hành giả hết sức hài lòng vì họ có thể thấu suốt sâu sắc phạm vi của thiền Vipassanā và phân biệt chân lý bằng thắng trí. Nhiều hành giả đã hoàn tất toàn bộ khóa thiền Vipassanā. Một số hành giả người Hoa từ Đài Loan, Việt Nam, Malaysia và Singapore ghi nhận rằng họ rất hoan hỷ thọ trì thiền Vipassanā theo từng chi tiết dựa trên ấn bản tiếng Hoa bộ Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi Magga).

Tôn giả Āciṇṇa, Trưởng Ban Thiền Sư Rừng Thiền Pa-Auk, đã viết tám Sổ tay Hành Thiền được các hành giả sử dụng như là sách chỉ đường, và năm tập sách lớn, tổng cộng 3.500 trang, mô tả chi tiết thiền Định (Samatha) – thiền Tuệ (Vipassanā) đang được dùng để hướng dẫn ở các Trung Tâm Rừng Thiền Pa-Auk với đầy đủ các lời giải thích và tham chiếu dưới tựa đề “Lộ Hành đến Niết-bàn” (Nibbānagāmini Paṭipadā).

Tham khảo

Tất cả các chỉ dẫn tham khảo dựa vào Ấn Bản của Hội Đồng Phật Giáo Myanmar lần thứ sáu.

A.       Aṅguttara Nikāya (Tăng Chi Bộ Kinh)

Abh.A     Chú giải Abhidhamma (Vi Diệu Pháp)

D.       Dīgha Nikāya (Trường Bộ Kinh)

D.A     Chú giải Dīgha Nikāya (Trường Bộ Kinh)

M.       Majjhima Nikāya (Trung Bộ Kinh)

MA.    Chú giải Majjhima Nikāya (Trung Bộ Kinh)

S.        Saṁyutta Nikāya (Tương Ưng Bộ Kinh)

SA.     Chú giải Saṁyutta Nikāya (Tương Ưng Bộ Kinh)

Ps.      Paṭisambhidā Magga (Phân Tích Đạo)

Vs.      Visuddhi Magga (Thanh Tịnh Đạo)

Vs.Tī Phụ chú giải Visuddhi Magga (Thanh Tịnh Đạo)

]œ

Mục Lục

Thể Nhập Thiền Định (Samatha Bhāvanā) 4

TÓM LƯỢC. 5

BÀI THUYẾT TRÌNH CHÍNH.. 8

Giới Thiệu. 8

Yêu Cầu Tu Tập Định (Samādhi) Tâm.. 8

Thọ Trì Niệm Hơi Thở (Ānāpānassati). 10

Phương Pháp Đếm.. 12

Nhận Biết Chiều Dài Hơi Thở Cũng Như Toàn Thân Hơi Thở  12

An Tịnh Hơi Thở. 13

Sự Xuất Hiện Tướng Của Định. 14

Tu Tập An Chỉ (appanā). 15

Năm Thiền Chi 17

Năm Pháp Thuần Thục. 18

Bốn Thiền Bảo Hộ (Caturārakkha-kammaṭṭhāna). 19

Tu Tập Thiền Tâm Từ (Mettā-Bhāvanā). 20

Niệm Ân Đức Phật (Buddhānussati). 24

Quán Bất Tịnh (Asubha Bhāvanā). 25

Niệm Sự Chết (Maraṇānussati). 26

Tu Tập Định Bằng Các Biến Xứ (Kasiṇa). 28

Kết Luận. 30

Tham khảo. 31

Thể Nhập Thiền Tuệ (Vipassanā) 32

TÓM LƯỢC. 33

BÀI THUYẾT TRÌNH CHÍNH.. 36

Giới Thiệu. 36

Thanh Tịnh Tâm.. 36

Thanh Tịnh Tâm Khỏi Tà Kiến (Kiến Thanh Tịnh). 37

Xác Định Sắc (Quán Sắc) (Rūpa-kammaṭṭhāna hay Rūpa-pariggaha)  38

Xác Định Danh (Quán Danh) (Nāma-kammaṭṭhāna hay Nāma-pariggaha)  41

Đặc Tính Vô Ngã Trở Nên Rõ Ràng. 45

Tuệ Xác Định Danh-Sắc. 46

Đoạn Nghi Thanh Tịnh (Kaṅkhāvitaraṇa-visuddhi). 47

Phân Biệt Các Nhân Sanh Ra Sắc. 47

Phân Biệt Các Nhân Sanh Ra Danh. 48

Mười Sáu Loại Hoài Nghi Gắn Với Quá Khứ, Tương Lai Và Hiện Tại 48

Phân Biệt Quan Hệ Nhân Quả Của Lý Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda)  48

Tuệ Phân Biệt Các Nhân Của Danh-Sắc (Nāma-Rūpa). 54

Đạo Và Phi Đạo Tri Kiến Thanh Tịnh (Maggāmagga-ñāṇadassana-visuddhi)  54

Thọ Trì Thiền Vipassanā. 55

Thọ Trì Thiền Vipassanā Theo Bốn Mươi Cách. 58

Thiền Vipassanā Trên Các Nhân Và Các Quả Của Lý Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda)  58

Thiền Vipassanā Theo Bảy Phép Quán Sắc và Bảy Phép Quán Vô Sắc  59

Tu Tập Tuệ Sanh Diệt (Udayabbaya-ñāṇa). 59

Sự Xuất Hiện Các Ô Nhiễm Của Thiền Vipassanā. 60

Tuệ Về Đạo và Phi Đạo. 61

Đạo Hành Tri Kiến Thanh Tịnh (Paṭipadā-ñāṇadassana-visuddhi)  61

Thọ Trì Tứ Niệm Xứ (Anupassanā). 61

Thiền Vipassanā Bằng Cách Phân Biệt Tỉnh Giác Tứ Oai Nghi (Iriyāpatha-sampajañña)  63

Tiến Đến Quán Sự Hoại Diệt (Bhaṅgānupassanā). 64

Thọ Trì Minh Sát Trí Đạt Tri (Ñāta-Ñāṇa Vipassanā). 65

Sự Sanh Khởi Tuệ Về Sự Xuất Hiện Kinh Hãi (Tuệ Kinh Úy) (Bayañāṇa)  66

Sự Sanh Khởi Tuệ Thấy Rõ Khuyết Điểm Và Sự Bất Toại Nguyện (Tuệ Hiểm Nguy) (Ādīnavañāṇa)  67

Sự Sanh Khởi Tuệ Cảm Thọ Nhàm Chán Và Ghê Tởm (Tuệ Yểm Ly) (Nibbidāñāṇa)  67

Sự Sanh Khởi Tuệ Khao Khát Giải Thoát (Tuệ Dục Thoát) (Muñcitukamyatāñāṇa)  68

Sự Sanh Khởi Tuệ Nỗ Lực Giải Thoát (Tuệ Quyết Ly) (Paṭisaṅkhāñāṇa)  68

Sự Sanh Khởi Tuệ Hành Xả (Saṅkhārupekkhāñāṇa). 69

Tuệ Thuận Thứ (Anulomañāṇa), Tuệ Chuyển Tộc, (Gotrabhuñāṇa), Tuệ Đạo (Maggañāṇa), Tuệ Quả (Phalañāṇa), Tuệ Phản Khán (Paccavekkhaṇañāṇa). 71

Tri Kiến Thanh Tịnh (Ñāṇadassana-visuddhi). 74

1. Sotāpattimagga - Nhập Lưu Đạo. 75

2. Sakadāgami-magga - Nhất Lai Đạo. 75

3. Anāgāmi-magga - Bất Lai Đạo. 75

4. Arahatta-magga - A-la-hán Đạo. 75

Kết Luận. 76

Tham khảo. 77


[1]               Trích dịch từ trang web http://paauk.org/files/sayadawbio.html

[2]               Trích dịch từ trang web http://www.dhammadownload.com/Dr-MehmTinMon-mp3-English.htm

[3]               Kotigāma Sutta (SN 56.21) – Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch Việt

[4]               Kūṭāgāra Sutta (SN 56.44) – Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch Việt

[5]               Tathāgatena vutta 1 (SN 56.11) – Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch Việt

[6]               Uẩn có nghĩa là nhóm hay tập hợp, năm thủ uẩn là năm nhóm chấp thủ.

[7]               Mahā Satipaṭṭhāna Sutta (DN 22) – Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch Việt

[8]               Mahā Parinibbāna Sutta (DN 16) – Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch Việt

[9]               Samādhi Sutta (SN 56.1) – Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch Việt

[10]             Mahā Parinibbāna Sutta (DN 16) – Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch Việt

[11]             Pháp Hữu Vi là pháp có sự tạo tác, do vậy có nhân, có quả, có danh, có sắc.

[12]             Gồm cả Pháp Hữu ViPháp Vô Vi. Pháp Vô Vi là pháp không có sự tạo tác, do vậy không có nhân, không có quả, không có các nguyên nhân sanh ra danh và sắc và tất nhiên là không có danh và sắc. Pháp Vô Vi là tên gọi khác của Niết-bàn.

[13]             Mahā Satipaṭṭhāna Sutta (DN 22) – Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch Việt

[14]             Mahā Parinibbāna Sutta (DN 16) – Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch Việt

[15]             “Phàm sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là Sắc uẩn” (MN 109). 28 sắc chân đế thuộc về Sắc uẩn.

[16]             “Phàm cảm thọ gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là thọ uẩn” (MN 109). Tâm sở Thọ thuộc về Thọ uẩn.

[17]             “Phàm tưởng gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là tưởng uẩn” (MN 109). Tâm sở Tưởng thuộc về Tưởng uẩn.

[18]             “Phàm hành gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là hành uẩn” (MN 109). 50 Tâm sở còn lại thuộc về Hành uẩn.

[19]             “Phàm thức gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là thức uẩn” (MN 109). 81 Tâm vương thuộc về Thức uẩn.

[20]             Saddhammapatirūpaka Sutta (SN 16.13) – Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch Việt

[21]             Mahā Parinibbāna Sutta (DN 16) – Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch Việt

[22]             Mahā Parinibbāna Sutta (DN 16) – Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch Việt

[23] Bát Thánh Đạo của Đức Phật là con đường đưa đến sự đoạn tận khổ đau của bậc Thánh chứ không phải là các phương pháp kinh doanh, thư giãn tinh thần hay phong cách sống nào cả, do vậy chúng ta không thể ứng dụng chúng trong đời sống. Chúng ta không nên gắn nhãn Phật Pháp cho các phương cách tăng trưởng tham ái của thế gian.

[24]             A. 1. 456

[25]             A. 2. 463

[26]             Vs. 1. 263

[27]             Vs. 1.94; D.Ti. 2.296 ff

[28]             Abh. A.2.242-243; Vs. 1.115ff

[29]             M. 1.73 ff

[30]             M. 1.72-73

[31]             M. 1.72-73

[32]             Abh.A. 2.242-243

[33]             Dh. 35,36 – Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch Việt

[34]             S. 2.12; S. 3.363

[35]             M. 1.89

[36]             Vs. 2.222

[37]             Vs. 1.283; Vs.Ti. 1.342

[38]             S. 3.279; Vbh. 1.88

[39]             Vs. 1.271

[40]             Vs. 1.278 ff

[41]             Vs. 1.125-126; Vs.Ti. 1.150-4

[42]             Vs. 1.94; D.Ti. 2.296ff

[43]             Vs. 1.287-307

[44]             Vs. 1.289

[45]             Vs.Ti. 1.364

[46]             Vs. 1.289-300

[47]             Ps. 314

[48]             Vs. 1.191ff

[49]             Vs. 1.173-190

[50]             Vs. 1.178ff

[51]             Vs. 1.183-184; Vs.Ti. 1.210

[52]             Vs. 1.222-223

[53]             Vs. 1.115ff

[54]             Vs. 2.222

[55]             Vs. 1.320-334

[56]             Vs. 2.2-4

[57]             Vs. 2.222

[58]             Vs. 2.276

[59]             Abh.A. 2.47

[60]             Vs. 2.233

[61]             Vs. 2.221

[62]             Abh.A 2.189

[63]             Ps. 51-52

[64]             S. 2.258

[65]             Vs. 2.242-243, 265-267

[66]             Ps. 55ff

[67]             M. 1.199-205

[68]             Vs. 2.73, 2.222-(315)

[69]             M. 1.281-286

[70]             SA. 2.295

[71]             Abh.A 1.114; MA. 3.60

[72]             Vs. 2.252-253; MA. 1.266-267

[73]             Abh.A. 1.114

[74]             Abh.A. 2.47

[75]             Vs. 2.276

[76]             Abh.A. 2.46

[77]             Abh.A. 2.47

[78]             Vs. 2.276

[79]             S. 1.302-303

[80]             M. 1.10

[81]             Vs. 2.234

[82]             D. 2.47

[83]             Vs. 2.221

[84]             Abh.A. 2.189

[85]             Vs. 2.214; Ps. 50

[86]             Vs. 2.214; Ps. 50

[87]             S. 1.243

[88]             M. 1.78

[89]             DA. 2.53

[90]             SA. 2.44-45

[91]             Vs. 2.300-301; Abh.A 1.270-271

[92]             Ps. 55ff; Vs. 2.242ff

[93]             Vs. 2.246-248

[94]             Vs. 2.253-264

[95]             Vs. 2.264

[96]             Vs. 2.264

[97]             M. 1.71ff

[98]             Vs. 2.267ff

[99]             MA. 281ff

[100]            Vs. 2.269-274

[101]            Vs. 2.277

[102]            Vs. 2.278

[103]            Vs.Ti. 2.441

[104]            Vs. 2.282-284

[105]            Vs. 2.284

[106]            Vs. 2.287-288

[107]            Vs. 2.288-289

[108]            Vs. 2.289-291

[109]            Vs. 2.294

[110]            Vs. 2.294-295

[111]            Vs. 2.315

[112]            Vs. 2.315-316

[113]            Vs. 2.318


Đạo Lộ Tu Tập của Phật Giáo Theravada (updated 09/2011)

Đạo Phật nguyên thủy là Đạo Phật được dạy bởi Đức Phật Gautama và giáo pháp của ngài hiện vẫn còn được lưu giữ lại trong tam tạng kinh điển hệ Pali (Nikaya). Dù rằng trong thực tế đa số người tìm đến Đạo Phật chỉ như một nhu cầu tín ngưỡng, vẫn có một số ít cá thể thực sự tìm đến với Đạo Phật với lòng khao khát giải thoát. Trong trường hợp này, người tìm đến Đạo Phật với lòng khao khát giải thoát rất cần phải có sự phân biệt rõ ràng giữa Đạo Phật “nguyên thủy” và các Đạo Phật không phải là “nguyên thủy”, giữa Chánh pháp và Phi pháp. Vì sao? Vì sau khi Đức Phật nhập diệt, qua thời gian hàng nghìn năm, giáo pháp vĩ đại của Đức Phật giảng dạy đã không còn được thấu hiểu nên (do cố ý hoặc vô tình) đã bị sửa đổi và biến tướng. Các Đạo Phật biến tướng không có chủ trương giúp con người đạt được giải thoát tuyệt đối. Chỉ riêng có Đạo Phật thực sự do Đức Phật Gautama dạy mới là con đường dẫn đến sự giải thoát tuyệt đối với bốn thánh quả: Nhập lưu, Nhất lai, Bất lai và A La Hán. Trong Kinh Sư tử hống (Trung Bộ Kinh, tập 1), Đức  Phật đã khẳng định, ngoài Đạo Phật ra không có pháp tu nào đem lại bốn quả sa môn. Hay ngược lại, chỉ pháp nào đem lại bốn quả sa môn thì đó mới là Đạo  Phật. Các pháp ấn (dhamma seal) như Vô thường, Khổ, Vô ngã, Níp Bàn tịch tĩnh, thường được coi là các dấu chỉ dẫn để nhận biết Đạo Phật, tuy nhiên những pháp môn ngụy tạo vẫn sử dụng các pháp ấn này để tuyên thuyết giáo lý (nhưng thực sự trong thực hành thì phủ nhận tất cả các quan điểm về vô thường, khổ, vô ngã, níp bàn…). Đâu là chánh pháp? Đâu là một đạo lộ tu tập đúng? Thực hư lẫn lộn làm nhiều người bị lầm lẫn, khiến những nổ lực tu tập để thực hiện giải thoát trở thành vô ích một cách đáng tiếc. Chỉ có pháp tu nào dựa trên quan điểm Vô thường, Khổ và Vô ngã mà sự thực hành đưa đến một trong bốn quả sa-môn (từ Nhập lưu, Tư đà hàm, A na hàm cho đến A La hán) thì đó mới là pháp tu mà Đức Phật đã tu tập và muốn truyền lại cho đời sau.

Qua hơn hai ngàn năm, các bộ kinh chắc chắn không thể còn nguyên vẹn và vì thế sự phục hồi toàn vẹn giáo pháp của Đức Phật là một điều không phải dễ dàng. Rất nhiều tranh cãi về một phương thức tu tập đúng: Các giai đoạn tu tập phải lần lượt theo thứ tự nào? Thiền định như thế nào? Tuệ quán như thế nào? Chuẩn mốc nào? Tiêu chí nào? Nói chung, vần đề của Đạo Phật ngày hôm nay là vấn đề làm sao có thể tái hiện lại một “Đạo Lộ” đúng nhất với giáo pháp mà Đức Phật đã từng tu tập và giảng dạy. Một đạo lộ rõ ràng và đúng đắn sẽ đưa đến giải thoát với bốn quả sa môn. Ngược lại sự giải thoát qua bốn quả sa môn sẽ chứng minh rằng đạo lộ đó là hoàn toàn đúng đắn! Phần trình bày sau đây nhằm so sánh về các đạo lộ tu tập của Đạo Phật Theravada, được coi là gần nguyên thủy nhất,  hiện đang được thực hành bởi các trường phái khác nhau

I. Lịch sử

Theo lịch sử biết được, thì Đạo Phật nguyên thủy thực sự của Đức Phật chỉ tồn tại khoảng 250 năm tức sau lần kiết tập thứ  3 dưới thời vua Asoka. Sau kiết tập lần thứ 3, Đạo Phật gần như tan rã vì sự phân chia các bộ phái. Các dữ kiện lịch sử  được ghi lại rất phức tạp. Tuy nhiên Theravada là một phái sớm thoát ra khỏi sự tranh chấp, các trưởng lão mang các tạng kinh được kiết tập lần thứ ba đi về Sri Lanka và bảo tồn tại đây một Đạo Phật Theravada. Kể từ sau lần kiết tập thứ nhất (first sangha), Theravada là thế hệ thứ ba sau Vibhajjavada (thứ hai) và Trưởng Lão Bộ (Staviravada). Theravada là bộ phái được coi là xưa cũ nhất khoảng 250 năm sau khi Đức Phật nhập diệt. Vì lưu trữ được kinh điển nguyên thủy là bộ Tipitaka Pali và tu tập theo Tipitaka Pali nên Theravada còn được gọi là Đạo Phật nguyên thủy. Dĩ nhiên sự tranh cãi và công kích là không thể tránh khỏi từ phía các tông phái khác. Nếu không chấp nhận Theravada là gần nguyên thủy nhất thì hiện nay chẳng có ai có thể tìm thấy một tông phái nguyên thủy hơn. Hai nữa, nếu không công nhận Theravada là nguyên thủy thì phải công nhận bộ Tipitaka Pali là giáo pháp nguyên thủy. Hiện nay cũng không tìm đâu ra lời dạy nguyên thủy của Đức Phật ngoài bộ Tipitaka Pali (và bộ Agama tiếng Sanskrit). Phải chấp nhận một thực tế như vậy! Đạo Phật nguyên thủy 2500 năm trước đã suy tàn, muốn khôi phục lại Đạo Phật nguyên thủy phải bắt đầu từ sự nghiên cứu Tipitaka Pali và Đạo Phật Theravada, phái được coi là gần nguyên thủy nhất trong thời điểm này!

Theravada nhờ bảo tồn được kinh điển Pali, nên pháp học và pháp hành được coi như  gần đúng sát nhất với giáo pháp của Đức Phật. Nhắc lại, có rất nhiều tranh cãi tại đây, nhưng thực tế là  hiện nay Đạo Phật thực sự nguyên thủy (truly original) và các trường phái gần với Đạo Phật nguyên thủy (hơn Theravada) hiện không còn tồn tại nữa!

Trong khi Đạo Phật đại thừa tức Đạo Phật “phát triển” đề cập đến vô số các pháp môn khác nhau, thì Năm bộ kinh Nikaya của Đạo Phật nguyên thủy Theravada chỉ thống nhất một con đường tu tập duy nhất. Phải chăng có sự nhầm lẫn (cố ý) giữa “pháp uẩn” với “pháp môn”. Đức Phật đã thuyết giảng về rất nhiều chủ đề, về rất nhiều thể loại, nên gọi một cách tượng trưng là 84.000 pháp uẩn (dhammakhandha) tức các đề tài.  Chánh pháp của Đức Phật giải thích thông suốt 84.000 pháp uẩn của thế gian. Không nên lầm lẫn “pháp uẩn” với “pháp môn”. Đức Phật không nói đến 84.000 pháp môn. Ngài đã dạy duy nhất một pháp môn chứ không phải 84.000 pháp môn. Đức Phật chỉ dạy một chánh pháp chứ không hề dạy 84.000 chánh pháp. Chánh Pháp duy nhất đó, tức Đạo Lộ tu tập duy nhất mà Đức Phật đã vạch ra là tam học GIỚI – ĐỊNH -TUỆ dẫn đến sự giải thoát bằng bốn quả thánh. Nói cách khác Đạo Lộ tu tập mà người tu cần phải xác định đó là một quy trình hợp lý để tu tập, giúp người tu thực sự đạt được giải thoát bằng bốn Đạo, bốn Quả và một Níp Bàn (Nibbana). Vậy làm thế nào để biết một giáo pháp có phải là Đạo Phật nguyên thủy hay không? Sự chứng minh đơn giản chỉ là, Đạo Lộ tu tập nào dẫn đến bốn quả thánh (Nhập lưu, Nhất lai, Bất lai, A La Hán) thì Đạo Lộ đó đúng là giáo pháp của Đạo Phật nguyên thủy! Còn ngược lại các chủ trương không thực hiện giải thoát ngay trong kiếp sống này, hoặc giải thoát không bằng bốn tầng thánh thì đó không phải là Đạo Phật nguyên thủy.

II. So sánh một số các đạo lộ tu tập khác nhau

Đức Phật đã thuyết giảng Đạo Phật một cách rất khoa học. Ta có thể phân ra hai phần rõ ràng Pháp Học (Pariyatti) và Pháp Hành (Patipatti), cũng giống như  các nghành khoa học có hai phần Lý Thuyết và Thực Hành. Phần thực hành nhằm chứng minh bằng trải nghiệm rằng phần giáo thuyết là đúng. Pháp Hành của  Đạo Phật sẽ chứng minh cụ thể rằng, người tu sẽ thực sự diệt được khổ, thoát khỏi vô thường và sẽ an trú được trong bốn Đạo quả và Níp Bàn. Pháp học (cái biết) cần phải chuyên sâu để thực hiện pháp hành. Pháp Hành (cái thấy) quan trọng hơn vì chỉ có Pháp Hành mới đem lại sự  chứng ngộ trọn vẹn. Sự giác ngộ đem lại lợi ích thực sự  ngay trong kiếp sống này. Khi đề cập đến Pháp hành ta nhất thiết phải tìm hiểu qui trình tu tập hợp lý và hợp với giáo huấn của Đức Phật. Đó là vấn đề về Đạo Lộ Tu Tập (the way for Dhamma Practice) trong giáo pháp nguyên thủy.

Với các tư liệu từ  năm bộ Nikayas, bộ vi diệu pháp (Abhidhamma) và các chú giải của thời kì sau đó, ví dụ bộ Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), hiện nay có nhiều trường phái Theravada thực hành các đạo lộ khác nhau. Dưới đây liệt kê một số các trường thiền và các vị thày đương thời:

                1.   Trường phái của Ngài Mahasi:

-  Trường thiền Shwe Oo min (U Tejaniya, Myanmar)

- Trường thiền Panditarama (U Pandita, Myanmar)

- Wat Rampoeng (Ajahn Suphan, Thailand)

- Boonkanjanaran meditation center (Ajahn Naeb, Thailand)

                2.    Trường phái của Ngài U Acinna Pa-Auk Tawya:

- Trường thiền Pa Auk (Pa Pauk sayadaw, Myanmar

               3.    Trường phái của ngài Ajahn Brahmavamso (West Australia)

               4.    Trường phái của Bà Ayya Khemal (Sri Lanka, Australia, Europe)

               5.    Trường phái của Bhante Gunaratana (Sri Lanka, Washington DC, U.S.A)

               6.    Trường phái Ajahn Thanissaro (San Diego, Cali, U.S.A)

(Bài viết này không liệt kê trường phái của ngài Goenka vì phương pháp vipassana của ngài chỉ nhấn mạnh và thu hẹp trong cách quán cảm thọ)

Nói chung, ở Miến Điện hay Thái Lan, các trường thiền và chùa chỉ giảng dạy cách tu tập theo đạo lộ của ngài Mahasi. Tức là quán Tứ Niệm Xứ dựa trên căn bản của Sát na định (khanisa Samadhi, momentary concentration).

Theo Thanh Tịnh Đạo, người thực hành Vipassana cần nhìn thấy rõ các pháp chân đế (paramattha) bằng cái biết “như thực” (seeing as it is) khi vừa xuất ra khỏi một bậc thiền (chí ít phải là cận định của sơ thiền). Đạo lộ tu tập theo ngài Mahasi cũng dựa theo bộ luận Thanh Tịnh Đạo. Tuy nhiên với cách hiểu và giải thích về sát na định (khanika Samadhi) dường như không đúng với luận Thanh Tịnh Đạo, nên kết quả là người thực hành thiền quán đã không có cái “tuệ tri như thực” (yathābhūtaṁ pajānāti) mà bộ luận đã đòi hỏi. Khi vừa xuất ra một bậc thiền, thì “sát na định” của một người có Định” sẽ rất mạnh mẽ, khác hẳn với “sát na định của một người không có Định”. Sát na định của một người có Định sẽ có thể thấy vật chất (sắc) ở mức độ các tổ hợp Kalapa, và có thể thấy Tâm (danh) ở mức độ các sát na tâm. Như vậy, tuệ phân biệt danh-sắc của một người có một bậc thiền sẽ khác xa với những người không có bậc thiền nào cả! Tương tự, sẽ có sự khác biệt như vậy đối với các tuệ còn lại.

Trường thiền Pa Auk hiện nay đã khôi phục lại đạo lộ tu tập theo Thanh Tịnh Đạo thật chính xác. Tại rừng Pa Auk, bốn định hữu sắc và bốn định vô sắc (4 rupa jhana & 4 arupa jhana) đã được được thực hành thành công. Đạo lộ này hướng dẫn người thực hành đi theo một qui trình nhất định (Giới-Định-Tuệ), lần lượt thu đạt các kết quả, các tầng bậc chứng ngộ, các quả vị, mà chuẩn mực đã được ghi chép đầy đủ trong chánh tạng. Dưới đây là giới thiệu tóm tắt đạo lộ tu tập theo Thanh Tịnh đạo thực hiện bởi trường thiền Pa Auk:

III. Đạo lộ tu tập tại trường thiền Pa Auk

1. Giới luật:

Luôn luôn được coi là nền móng giúp thanh tịnh tâm. Giới luật và Thiền định là phương tiện chứ không phải là cứu cánh của Đạo Phật.

2. Thiền Định

Định dễ phát sinh nếu được Giới giúp làm thanh tịnh. Giới sẽ được củng cố nếu có Định giúp tâm thanh tịnh. Giới và Định có mối quan hệ tương tác.

Trường phái Pa Auk, Myanmar, chọn lối tu Định trước Tuệ sau theo đúng như chú giải Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) của Ngài Buddhaghosa cách đây khoảng 1500 năm. Theo thứ tự tu tập này, người tu được khuyến khích nên đạt được mức an chỉ (appanā samādhi) của một định (jhana), trước khi tu tập tuệ (Vipassana). Chí ít (at least), cũng phải đạt được cận định (upacāra samādhi) của sơ thiền tức bậc thiền thấp nhất.

Mọi tranh luận về một đạo lộ tu tập đúng và hiệu quả đều xoay quanh vấn đề vai trò của thiền định. Các khuynh hướng xem nhẹ hoặc chống đối thiền định có vẻ mang tính chủ quan. Hoàn toàn không có bất cứ kinh điển nào dẫn chứng cho quan điểm phủ nhận thiền định hoặc cho thiền định là “vô ích” hay “nguy hiểm”. Trái lại, trong tam tạng kinh điển có rất nhiều những bài kinh, đoạn kinh, nói về sự cần thiết và lợi ích của viêc tu tập thiền định. Ví dụ phẩm Thiền Định 1 và 2 (chương Một pháp, Tăng Chi Bộ Kinh), phẩm Định, tương ưng sự thật (chương XXII, Tương Ưng Bộ Kinh), kinh Đại Bát Niết Bàn (Trung Bộ Kinh) và vố số những đoạn kinh khác trong năm bộ Nikaya.

Các trường phái Vipassana chủ trương không dựa trên năng lực của thiền định đã không thể vạch ra chi tiết các giai đoạn tu tập để dẫn tới các đạo quả. Ngược lại, trường phái coi thiền định là thiết yếu và quan trọng, có thể vạch ra chi tiết các giai đoạn tu tập cho đến khi đạt được giải thoát bằng bốn quả vị. Hơn nữa với năng lực của định, người tu còn có thể thấy ngay thời khắc chuyển phàm thành thánh của chính mình. Để biết vai trò của Định thực sự cần thiết như thế nào, hãy đọc lại lời di chúc của Đức Phật trong kinh Đại Bát Niết Bàn (DN Mahaparinibbana):

“ Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu… ”

3. Tuệ quán

Là giai đoạn khó và phức tạp hơn. Phân Tích Đạo (Patisambhidamagga) của ngài Xá Lợi Phất, thuộc Tiếu Bộ kinh, có liệt kê chi tiết về 73 loại trí.  TRÍ (ñāṇaṃ) được hiểu như  là khi Tuệ (paññā) đã toàn mãn.  Sự  giác ngộ theo đạo Phật nguyên thủy là sự tu tập thành công các loại trí (tuệ) [1].  Theo Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi magga) người tu cần phải thanh tịnh tâm qua bảy giai đoạn thanh tịnh để chứng đạt 16 tầng Tuệ từ thấp lên cao. Bảy giai đoạn thanh tịnh tâm hoàn toàn có trong kinh điển, được đề cập trong bài kinh 24, Trung Bộ (Rathavinita Sutta, Kinh Bảy Trạm Xe) và trong bài kinh 34 của Trường Bộ (Dasuttara Sutta, Kinh Thập Thượng). Các tuệ minh sát cũng đã có liệt kê trong Phân Tích Đạo thuộc Tiếu Bộ Kinh.

4. Mười sáu Tuệ Minh Sát

Trong pháp tu Thiền Quán (Vipassana) của Đạo Phật nguyên thủy, các tuệ cần phải tu tập được liệt kê theo thứ tự  như sau:

- Tuệ phân tích Danh Sắc (Nāma-rūpa-pariccheda ñāṇa)

- Tuệ phân tích nhân quả (Paccaya-parigaha-ñāṇa)

- Tuệ suy xét thấy danh sắc vô thường, khổ, vô ngã (Sammasa-ñāṇa)

- Tuệ về sinh và diệt (Udayabbaya-ñāṇa)

- Tuệ quán sự  hoại diệt (BhangaAnupassanā-ñāṇa)

- Tuệ sợ hãi (Bhayatupatthana-ñāṇa)

- Tuệ bất toại nguyện (Adinava-ñāṇa)

- Tuệ chán ghét (Nibbidā-ñāṇa)

- Tuệ ham muốn giải Thoát (Munacittukammayata-ñāṇa)

- Tuệ nổ lực giải thoát (Patisankha-ñāṇa)

- Tuệ hành xả (Sankhāra-upekkhā-ñāṇa)

- Tuệ thuận thứ (Anuloma-ñāṇa)

- Tuệ cắt đứt dòng phàm còn gọi là tuệ chuyển tộc (Gotrabhu-ñāṇa)

- Tuệ đạo (Magga-ñāṇa)

- Tuệ quả (Phala-ñāṇa)

- Tuệ phản khán hay xem xét lại (Paccavekkhana-ñāṇa)

5. SƠ ĐỒ tóm tắt

Sau khi hiểu rõ và nắm giữ giới luật, người tu đi vào một trong hai con đường tu tập tùy theo năng lực cá nhân:

Trường hợp 1: Bắt đầu bằng thực hành quán niệm hơi thở. Sau đó,

- Phát triển quán niệm hơi thở thành định ở mức an chỉ (appana-samadhi) của một bậc thiền (Jhana).

- Thực tập bốn thiền bảo hộ (tứ vô lượng tâm)

- Thực tập quán 32 chi phần cơ thể

- Nếu có khả năng, dùng các loại kasina để thực hiện các định vô sắc

- Thực hành thiền tứ đại trước khi đi vào Tuệ Quán (Vipassana)

- Tầng Tuệ đầu tiên phải thực hành là “phân biệt danh sắc”. Có rất nhiều tuệ phải thực hành trong vipassana, nhưng trong đó có 16 tuệ căn bản dẫn đến giác ngộ bốn quả vị của Đạo Phật. Giác ngộ sẽ xảy ra sau khi người tu thiền nhận biết tuệ thứ 12 (tuệ thuận thứ, anuloma-ñāṇa). Tuệ thứ 13 là tuệ chuyển tộc (Gotrabhu-ñāṇa) người tu nhận biết Níp Bàn và từ phàm trở thành bậc thánh nhập lưu.

Trường hợp 2: Nếu thiền sinh không thể phát triển sự quán niệm hơi thở thành định an chỉ được: Tại trường thiền Pa Auk thiền sinh được khuyến khích thực hành thiền tứ đại (cattudhatu vavattana). Khi thực hành thành công thiền tứ đại thì người tu thiền có mức định tương đương với cận định của một bậc thiền. Sau đó thiền sinh dùng mức cận định này để thực hành tuệ quán với tuệ đầu tiên là “phân biệt danh-sắc”.

Nguyên tắc thực hành tuệ quán dựa trên nền tảng của Định:

Người tu thiền xuất ra khỏi an chỉ định hoặc cận định, năng lực tâm khi vừa xuất ra khỏi định hay cận định rất mạnh, có thể dùng để nhận biết và quan sát các đối tượng thuộc chân đế cũng như sự sinh diệt của chúng. Lúc này tâm vẫn còn sức mạnh của định và gọi là sát na định (khanika samadhi).

Phần mô tả trên đây là một phác họa cơ bản về Đạo lộ tu tập của trường thiền Pa Auk, nghĩa là chỉ nhấn mạnh vào các giai đoạn tu tập. Các chi tiết cụ thể của phương pháp tu tập được giảng dạy tại trường thiền.

IV. Nguyên Lý của sự giác ngộ trong Đạo Phật

Đạo Phật là đạo của Trí Tuệ. Đạo Phật dùng Trí Tuệ để thực hiện sự giải thoát. Phân Tích Đạo của ngài Xá Lợi Phất đã mô tả 73 trí từ phàm đến thánh. Khi tu tập Vipassana, người tu cần thực hiện hoàn tất 16 loại tuệ căn bản, cần thiết để đạt được bốn đạo và bốn quả sa môn. Trí Tuệ (wisdom) chính là yếu tố trực tiếp đưa đến giác ngộ cuối cùng của Đạo Phật. Giới và Định không phải là yếu tố trực tiếp mà chỉ là yếu tố gián tiếp. Nhờ Giới Hạnh mà tâm được an tĩnh. Nhờ tâm an tĩnh mà thực hiện Định thành công. Nhờ có Định mà thực hành Tuệ quán hữu hiệu. Muốn có những Tuệ giải thoát người tu phải biết cách dùng năng lực của cận định kết hợp với tuệ quán để nhìn thấy “như thực” các pháp chân đế (paramattha sacca). Các pháp gọi là “chân đế” rất vi tế mà các giác quan của một người bình thường không thể thấy được. Nguyên Lý của sự giác ngộ trong giáo pháp nguyên thủy chính là sự nhìn thấy mọi vật, mọi hiện tượng như chúng thực sự là (seeing as it is). Tức là nhìn thấy mọi vật, mọi hiện tượng (vật chất và ý thức) trong bản chất “chân đế” như chúng thực là. Ví dụ, người tu phải nhìn thấy cơ thể vật chất của mình ở dạng vật chất cơ bản (các tổ hợp Kalapa) và phải nhìn thấy từng sát-na tâm khi chúng xuất hiện trong các lộ trình tâm. Ngay cả ở thời điểm giác ngộ, người tu cũng có thể nhìn thấy lộ trình tâm giác ngộ của chính mình. Đây là tinh hoa và đặc điểm riêng của chánh pháp Đạo Phật mà tất cả các tôn giáo và pháp môn khác trên địa cầu này không thể nào biết tới hay thực hiện được!

Giáo pháp nguyên thủy của Đức Phật là một giáo pháp có tính chính xác và rõ ràng giống như một khoa học về tâm linh. Mỗi bậc thiền chứng đắc đều có chuẩn mốc xác định. Mỗi tầng tuệ đều có mô tả và hướng dẫn rõ ràng. Sự giác ngộ của Đạo Phật không dừng lại ở mức độ chứng đắc các bậc thiền (jhanas) mà còn vượt qua nữa để đến một giải thoát tối thượng không còn bất cứ một tái sanh nào trong tam giới. Nguyên lý của sự giải thoát tối thượng này chính là sự phát tiển các tuệ (hay trí) giải thoát. Chính tuệ giải thoát đã tạo nên sự giác ngộ vĩ đại này chứ không phải ánh sáng của các loại thiền, không phải sự khai mở của con mắt thứ ba, sự thức dậy của kundalini hay các luân xa trong hệ thống khí lực yoga. Chính tuệ giải thoát được mô tả rõ ràng trong kinh điển đã tao ra giác ngộ chứ không phải do việc truyền tâm bí mật của các guru, không phải do sự nương tựa từ tha lực của một vị “Phật” nào đó, cũng càng không phải là do ngẫu nhiền trong một khoảnh khác tình cờ mà hốt nhiên đại ngộ!

V. Bốn Đạo lộ

Đạo Lộ tu tập của Đạo Phật nguyên thủy, gồm tam học Giới –Định- Tuệ, Tứ Diệu Đế và Tám Thánh Đạo. Tuy nhiên qua hơn 2.500 năm, về chi tiết của một phương pháp đúng để thực hiện được trọn ven Đạo lộ thì hiện vẫn còn tranh cãi. Hiện tại vấn đề thứ tự trong cách thực hành Định và Tuệ vẫn còn đang đặt ra. Nếu không có Định thì Tuệ phát sinh sẽ không sâu và không đủ, đạo lộ tu tập sẽ không hoàn tất. Ngược lại nếu có Định mà tiếp theo đó không thể viên mãn được Tuệ, thì đạo lộ cũng sẽ không hoàn tất.

Thật là may mắn, vấn đề Đạo Lộ tu tập cũng đã được giải đáp và lưu truyền lại theo kinh điển. Trong Tăng Chi Bộ Kinh, chương bốn pháp, bài kinh 170 : Kinh gắn liền cột chặt, Ngài Ananda đã đã giảng dạy chi tiết về khả năng có nhiều Đạo Lộ khởi lên tùy theo sự khác biệt về năng lực tâm, cũng như khuynh hướng phát triển tâm của từng mỗi cá nhân. Trong phần Chỉ Tịnh và Minh Sát của Phân Tích đạo (Patisambhidamagga) cũng có bàn về thứ tự tu tập gữa Định và Tuệ. Như vậy, mọi tranh cãi về một phương pháp tu tập đúng có thể được căn cứ vào những tài liệu dưới đây:

1. Tăng Chi Bộ Kinh IV.170, Kinh Gắn Liền Cột Chặt, H.T. Thích Minh Châu dịch

Một thời, Tôn giả Ananda sống ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Tại đấy, Tôn giả Ananda gọi các Tỳ-khưu:

Thưa các Hiền giả Tỳ-khưu.

Thưa vâng, Hiền giả. Các Tỳ-khưu ấy vâng đáp Tôn giả.

Tôn giả Ananda nói như sau: Tỳ-khưu hay Tỳ-khưu-ni nào tuyên bố trước mặt tôi rằng, đã chứng được quả A-la-hán, tất cả vị ấy được đầy đủ bốn chi phần này, hoặc là một trong bốn chi phần này.
Thế nào là bốn?

- Ở đây, này chư Hiền, Tỳ-khưu tu tập quán, có chỉ đi trước; do vị ấy tu tập quán có chỉ đi trước, con đường được sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

·        Lại nữa, này chư Hiền, vị Tỳ-khưu tu tập chỉ, có quán đi trước. Do vị ấy tu tập chỉ có quán đi trước, con đường được sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

·        Lại nữa, này chư Hiền, Tỳ-khưu tu tập cả hai chỉ quán gắn liền với nhau. Do vị ấy tu tập cả hai chỉ quán gắn liền với nhau, con đường được sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

·        Lại nữa, này chư Hiền, Tỳ-khưu với các dao động đối với các pháp được hoàn toàn dứt sạch. Này các Hiền giả, đây là thời khi tâm của vị ấy an trú, an tọa, nhất tâm, định tĩnh. Với vị ấy, con đường sanh khởi. Vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn. Do vị ấy thực hành con đường ấy, tu tập, làm cho sung mãn, các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

Này chư Hiền, Tỳ-khưu hay Tỳ-khưu-ni nào tuyên bố trước mặt tôi rằng, đã chứng được quả A-la-hán, tất cả vị ấy được đầy đủ bốn chi phần này, hoặc là một trong bốn chi phần này.

2. Chỉ Tịnh và Minh Sát, Trích từ Phân tích Đạo, Tiểu Bộ Kinh. Tỳ Khưu Indacanda dịch:

“ Tôi được nghe như vầy: Một thời, đại đức Ānanda ngụ tại Kosambī, tu viện Ghosita. Chính ở tại nơi ấy, đại đức Ānanda đã bảo các vị tỳ khưu rằng: – Này các đại đức tỳ khưu. – Thưa đại đức. Các vị tỳ khưu ấy đã đáp lại đại đức Ānanda. Đại đức Ānanda đã nói điều này: – Này các đại đức, bất cứ vị tỳ khưu hoặc tỳ khưu ni nào tuyên bố về phẩm vị A-la-hán trong sự hiện diện của tôi là do toàn bộ bốn đạo lộ hoặc do một đạo lộ nào đó của bốn đạo lộ ấy? Do bốn (đạo lộ) gì?
- Này các đại đức, ở đây vị tỳ khưu tu tập minh sát có chỉ tịnh đi trước. Khi vị ấy đang tu tập minh sát có chỉ tịnh đi trước, đạo lộ được hình thành (cho vị ấy). Vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy. Khi vị ấy đang rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy, các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt (đối với vị ấy).
- Này các đại đức, hơn nữa vị tỳ khưu tu tập chỉ tịnh có minh sát đi trước. Khi vị ấy đang tu tập chỉ tịnh có minh sát đi trước, đạo lộ được hình thành (cho vị ấy). Vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy. Khi vị ấy đang rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy, các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt (đối với vị ấy).
- Này các đại đức, hơn nữa vị tỳ khưu tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung. Khi vị ấy đang tu tập chỉ tịnh và minh sát kết hợp chung, đạo lộ được hình thành (cho vị ấy). Vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy. Khi vị ấy đang rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy, các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt (đối với vị ấy).
- Này các đại đức, hơn nữa (có trường hợp) tâm của vị tỳ khưu bị khuấy động bởi sự phóng dật đối với các pháp. Này các đại đức, lúc tâm ấy trụ lại, tập trung lại, được chuyên nhất, được định ở chính nội phần, lúc ấy là thời điểm. Đạo lộ được hình thành cho vị ấy. Vị ấy rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy. Khi vị ấy đang rèn luyện, tu tập, làm cho sung mãn đạo lộ ấy, các sự ràng buộc được dứt bỏ, các ngủ ngầm được chấm dứt (đối với vị ấy).
- Này các đại đức, bất cứ vị tỳ khưu hoặc tỳ khưu ni nào tuyên bố về phẩm vị A-la-hán trong sự hiện diện của tôi là do toàn bộ bốn đạo lộ này hoặc do một đạo lộ nào đó của bốn đạo lộ ấy…” [2]

Nhận xét: Hai bài kinh trên, một được ghi lại trong Trung Bộ Kinh và một được ghi lại trong Phân Tích Đạo của Tiểu Bộ kinh thực sự chỉ là một. Nội dung của kinh là lời giảng của ngài A Nan, đề cập tới khả năng có bốn đạo lộ “phụ” được phát sinh từ một đạo lộ “chính”:

Một: Tu tập Định trước Tuệ sau

Hai: Tu tập Tuệ trước Định sau

Ba: Định –Tuệ được tu tập song song

Bốn: Sau khi hết chao đảo phân vân giữa các pháp tu, một đạo lộ riêng được hình thành.

Để giải thích vấn đề thứ tự tu tập giữa Định (Samadhi) và Tuệ (Vipassana), trường phái Pa Auk có giải thích như sau: Nói  đến Định (theo các bản kinh vừa đề cập) có nghĩa là nói đến một bậc thiền chính thức, nghĩa là nói đến chánh định (appana Samadhi) của sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền hoặc chánh định của bốn bậc thiền vô sắc. Cận định (upacara samadhi) chưa phải và không được kể là Định (appana samadhi). Một người không có chánh định vẫn có thể dùng cận định để tu tập tuệ. Sau khi thành công trong việc tu tập Tuệ (Vipassana) người tu quay lại tu tập Định để đạt được chánh định (appana samadhi) của các bậc thiền. Trong trường hợp này gọi là đạo lộ “Tuệ trước, Định sau”.

3. Phản biện về các Đạo Lộ khác nhau của Theravada

Tam học Giới Định Tuệ trong giáo pháp nguyên thủy đều được mọi người công nhận như sự thực hiển nhiên. Đạo lộ tu tập cũng không nhất thiết là Định trước Tuệ sau, mà thứ tự tu tập giữa Định và Tuệ có thể thay đổi, như kinh tạng đã nêu ra rất rõ ràng. Hiện có rất nhiều các trường phái khác nhau với qui trình tu tập rất khác nhau. Yếu tố Định (hoặc tối thiểu phải là cận định) là điều kiện cần thiết cho việc nhận biết như thực các pháp chân đế vẫn chưa được công nhận.Trái lại, hầu hết các trường phái Theravada, ngay tại các nước mà đạo Phật là quốc giáo, đều cho là thiền định không cần thiết, thậm chí là “nguy hiểm” cho sự tu tập. Ngoài ra cách hiểu về sát-na định không thống nhất giữa các trường phái khác nhau. Dưới đây là các quan điểm:

- Đa số trường phái Theravada hiện nay đều thực hành Tuệ quán (Vipassana) mà không cần một mức định an-chỉ nào cả. Đa số chỉ nói tới sự vận dụng sát-na định (Khanika samadhi) trong Tuệ quán. Sát na định được hiểu là định di chuyển theo đối tượng khi đối tượng vận hành qua từng sát na. Nhưng định nghĩa sát và khả năng của na định là gì vẫn còn là một vấn đề chưa thống nhất.

Theo trường thiền Pa Auk, ít nhất thiền sinh phải có mức cận định (upacāra samādhi) của định an chỉ (Jhana). Khi vừa xuất ra khỏi định hay cận định, tâm lúc này có thể sử dụng như Sát-na định để quan sát một đối tượng thuộc chân đế (paramatthasacca) đang diễn biếtn trong thời gian. Nhờ năng lực rất mạnh của tâm khi vừa xuất ra khỏi định hay cận định nên thiền sinh có thể nhận thấy từng sát na sinh diệt của các thành phần vật chất (tổ hợp kalapa) cũng như nhận biết từng sát-na tâm trong các lộ trình tâm (vīthicitta). Do vậy thiền sư Pa Auk đã định nghĩa sát-na định như sau:

“A meditator uses either access concentration or jhāna concentration as the foundation of vipassanā and undertakes vipassanā defining mentality-materiality as impermanent (anicca), painful (dukkha) and not-self (anatta). The concentration that is associated with insight knowledge (vipassanā) in this way is called “khanikasamādhi”. [3]

Một thiền giả dùng hoặc cận định hoặc định bậc thiền (jhāna) như là nền tảng của thiền Vipassanā và thọ trì thiền Vipassanā xác định danh và sắc là vô thường (aṇicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anatta). Định kết hợp với minh sát tuệ (vipassanāñāṇa) theo cách này được gọi là “khanikasamādhi” (sát-na định).

- Trường phái Pa Auk căn cứ hoàn toàn vào hướng dẫn của bộ Thanh Tịnh Đạo và coi việc nhận ra các pháp chân đế (paramatthasacca) là cơ sở để phát triển tuệ trí. Để có khả năng nhận biết các pháp vi tế mà tri giác bình thường không thể nắm bắt được, người tu thiền phải cần đến năng lực của định an chỉ (Jhana). Từ mức an chỉ của một bậc thiền (Jhanas), người tu thiền xuất ra ở mức cận định, sau đó kết hợp cận định với thiền quán. Với phương pháp này, người tu tại thiền lâm Pa Auk đã hoàn tất tron vẹn các tầng tuệ và thậm chí có thể nhận biết rõ ràng lộ trình tâm ngay khi giác ngộ! [4]

VI. Bảy hạng Thánh

Xuất phát từ bốn đạo và bốn quả, các bậc thánh có thể phân loại theo một số yếu tố đặc biệt trong quá trình tu chứng của vị đó.

Hoặc theo các yếu tố nào là chủ yếu cho giác ngộ: tín, tấn, niệm, định hoặc tuệ. Hoặc theo các bậc thiền định mà vị ấy có được.

Theo kinh Kīṭagiri thuộc Trung Bộ kinh và bộ Puggalapanñnñatti (Nhân chế định) của Tạng Vi Diệu Pháp, các vị thánh có thể chia làm bảy hạng:

  1. Hạng Tùy Tín hành (Saddhànusànusàri) : “Ở đây, này chư Tỳ kheo, có người tự thân không chứng đắc các tịch tịnh giải thoát vô sắc (santā vimokkhā ārupā) vượt khỏi các sắc; sau khi thấy với trí tuệ các lậu hoặc của vị ấy chưa được đoạn trừ. Nhưng vị ấy có niềm tin với Như lai, có lòng thương kính đối với Như Lai. Hơn nữa, vị ấy còn có những pháp như tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn và tuệ căn. Người này, này chư Tỳ kheo, được gọi là một vị Tùy tín hành.”
  2. Hạng Tín giải thoát (Saddhàvimutto) : “Ở đây (trong giáo pháp này), có người tự thân không chứng đắc các tịch tịnh giải thoát vô sắc vượt qua các sắc; nhưng sau khi thấy với trí tuệ, một số lậu hoặc của vị ấy đã được đoạn trừ và niềm tin nơi Như Lai đã được xác định, được an trú trên nền tảng vững chắc. Người này, này chư Tỳ kheo, được gọi là hạng người Tín giải thoát.”
  3. Hạng Thân chứng (Kàyasakkhi) : “Và, này chư Tỳ kheo, thế nào là hạng người Thân chứng? Ở đây, này chư Tỳ kheo, có người tự Thân chứng đắc các tịch tịnh giải thoát vô sắc vượt qua các sắc, và sau khi thấy với trí tuệ, một số lậu hoặc của vị ấy đã được đoạn trừ. Người này, này chư Tỳ kheo, được gọi là hạng người Thân chứng.”
  4. Hạng Câu phần giải thoát (Ubhatobhāgavimutta) : “Thế nào, này các Tỳ kheo, là hạng Câu phần giải thoát? Ở đây, này các Tỳ kheo, có người tự thân đã đạt đến các giải thoát tịch tịnh vô sắc, vượt khỏi các sắc, sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy đã diệt tận. Người này, này các Tỳ kheo, được gọi là bậc Câu phần giải thoát.”
  5. Hạng Tùy pháp hành (Dhammānusāri) : “Ở đây, này các Tỳ kheo, có người tự thân không chứng đắc các tịch tịnh giải thoát vô sắc, vượt khỏi các sắc; sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy cũng chưa hoàn toàn đoạn trừ. Nhưng những lời dạy mà Như Lai (Tathāgata) tuyên thuyết đã được vị ấy chấp nhận thuần do tư duy, và vị ấy có được những pháp này – tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn và tuệ căn. Người này, này các Tỳ kheo, được gọi là bậc Tùy pháp hành.”
  6. Hạng Kiến đáo (diṭṭhippatta) : “Và này các Tỳ kheo, thế nào là hạng Kiến Đáo? Ở đây, này các Tỳ kheo, có người tự thân không chứng đắc tịch tịnh giải thoát vô sắc, vượt qua các sắc, nhưng sau khi thấy với tuệ, một số lậu hoặc của vị ấy đã được diệt tận và những pháp do Như Lai tuyên thuyết đã được vị ấy thấy và xác chứng với trí tuệ. Người này, này các Tỳ kheo, gọi là bậc Kiến Đáo.”
  7. Hạng Tuệ giải thoát (Pannàvimutta) : “Thế nào, này các Tỳ kheo, là hạng Tuệ giải thoát? Ở đây, này các Tỳ kheo, có người tự thân không chứng các tịch tịnh vô sắc, vượt qua các sắc, song, sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy đã được diệt tận. Hạng người này, này các Tỳ kheo, được gọi là hạng Tuệ giải thoát.”

Cánh phân loại của kinh và Vi Diệu Pháp cho thấy các bậc thiền Jhanas (bốn định hữu sắc và bốn định vô sắc) là đặc biệt quan trọng ! Mặc dù yếu tố trực tiếp nhất đưa tới giác ngộ là Tuệ minh sát, nhưng nếu có bậc thiền (định jhana) càng cao thì người tu càng đạt đến những thánh quả cao hơn. Ví dụ vị “Câu phần giải thoát” (Ubhatobhāgavimutta), vị này giải thoát khỏi thân thể vật chất (Sắc) bằng “tuệ” của định vô sắc, đồng thời giải thoát khỏi tâm (Danh) bằng “tuệ” của minh sát.

Hai nữa, một vị gọi là “Tuệ giải thoát” không có nghĩa là là hoàn toàn không có bậc thiền nào cả, mà chỉ có nghĩa là không có một bậc định vô sắc nào cả! Ngài Henepola Gunaratana trong “Con đường Thiền Chỉ và Thiền quán” đã viết:

…Thực sự mà nói, trong văn kinh không gán việc thiếu thiền định cho nhóm các vị Tỳ kheo giải thoát bằng tuệ này. Kinh chỉ đề cập đến sự vắng mặt của ngũ thông (abhinñnñā) và các thiền vô sắc (ārūpa)…” [5]

Như vậy một vị gọi là Tuệ giải thoát ít nhất phải có một bậc thiền nào đó và thiền định (jhanas) là điều kiện rất cần phải có trong quá trình tu chứng với lý do như đã nêu ở trên.

VII. Vai trò quan trọng của Đạo Lộ trong việc tu tập

1.      Đối với người tu tập:

Một đạo lộ  minh bạch được vạch ra với các giai đoạn tu tập rõ ràng theo thứ tự là một điều vô cùng cần thiết. Đạo lộ sẽ giúp người tu nhìn thấu suốt trọn vẹn con đường mình sẽ phải đi qua. Đạo lộ giúp người tu biết được mình đang đứng tại chỗ nào, tại giai đoạn nào trên con đường tu tập. Một người nhìn thấy đạo lộ cũng có ý nghĩa là người ấy nhìn thấy giáo pháp.

2.      Đối với một trường phái hay pháp môn:

Không gì mạnh mẽ và thuyết phục hơn nếu một trường phái hay pháp môn khẳng định cho người tu biết được sự tu tập bắt đầu từ đâu, đi qua các giai đoạn nào và sẽ đạt được cứu cánh nào? Việc vạch ra được một đạo lộ tu tập tức là đã khẳng định được phương thức tu tập của trường phái hay pháp môn đó. Đối với Đạo Phật nguyên thủy, đạo lộ tu tập cần phải phù hợp và thống nhất với kinh điển của Đạo Phật. Chỉ có kinh và luận là chuẩn mực cho mọi trường phái và chỉ có kết quả tu tập là giá trị để đánh giá đạo lộ là đúng hay chưa đúng!

3.     Tình hình thực tế của các đạo lộ tu tập hiện nay:

- Đối với Phật Giáo Đại Thừa tức Đạo Phật “phát triển”, hiếm có các trường phái hay pháp môn dám mạnh dạn đưa ra đạo lộ tu tập của mình. Hiện giờ trên các phương tiện thông tin như sách vở và Internet chúng ta chỉ thấy các bài viết bàn về quan điểm triết lý của các trường phái và pháp môn khác nhau. Khi trình bày hay tranh luận, các trường phái và pháp môn của Phật Giáo phát triển dường như luôn phớt lơ về vấn đề đạo lộ, trong khi chính “đạo lộ” mới là cốt tủy của mọi tranh luận! Hiện nay trên Internet hầu hết những cái gọi là trang web Phật giáo đều là nơi tập kết, góp nhặt tất cả các quan điểm hỗn mang lộn xộn! Trăm hoa đua nở cùng với trăm mớ bòng bong! Người tìm đạo thực sự không thu được lợi ích nào trong những cái rừng quan điểm tạp nham không hệ thống đó, ngược lại, chỉ thấy hoang mang, mất định hướng. Nhu cầu thực sự của người tìm đạo là làm thế nào phân biệt được đâu là con đường tu tập phải theo, đâu là một đạo lộ cụ thể và đúng đắn! nhưng rất tiếc là vấn đề Đạo Lộ tu tập hiện nay rất ít được các trường phái hay pháp môn của Đạo Phật phát triển đề cập tới! Nếu được so sánh giữa các đạo lộ khác nhau, người tìm đạo dễ có cơ hội tìm hiểu và phân biệt được đâu là Đạo Phật đâu không phải là Đạo Phật! Đâu là chánh pháp và đâu không phải là chánh pháp. Vây, đứng từ vị trí của những người mới bước vào Đạo Phật và đang đi tìm chánh pháp, chúng ta nhất thiết phải tìm hiểu rõ về “Đạo Lộ Tu tập” và lấy đó làm chuẩn mực giá trị để xác định một lựa chọn đúng cho mình!

- Đối với Theravada, đạo lộ tu tập chủ yếu chỉ dựa vào luận Thanh Tịnh Đạo của ngài Buddhagosa. Tuy nhiên các trường phái vẫn còn tranh luận với nhau về cách thực hiện đúng đối với đạo lộ này. Như trên đã thảo luận vần đề đặt ra là sát na định “khanika Samadhi” của một người không có một bậc thiền định nào cả có thể dùng để thực hiện các tầng tuệ đúng cách và hữu hiệu hay không? Và trong suốt một thời gian dài đã qua, phương pháp của ngài Mahasi có thực sự đưa đến sự giác ngộ bốn quả thành cho các tu sĩ hay chưa? Vấn đề này thực sự rất khó bộc lộ vì sự tế nhị của nó ! Khi trường phái Pa Auk thực hiện thành công các thiền định (jhana) và sử dụng các bậc thiền định này trong thực hành thiền quán thì kết quả là đã có những tu sĩ nhìn thấy lộ trình tâm khi giác ngộ! Rõ ràng đến ngày hôm nay, với sự thực hiện thành công đạo lộ của Thanh Tịnh Đạo của ngài Buddhaghosa, Theravada đã tiến một bước dài trong sự thực hiện thành công giác ngộ của Đạo Phật (so với hàng trăm năm trước đây). Tuy nhiên đạo lộ Thanh Tịnh Đạo vẫn còn chịu một số công kích nhắm vào bản chất của định jhana. Người ta cho rằng sự thực hành định jhana dựa vào sự hướng dẫn của các bộ luận (sastra) nhiều hơn sự căn cứ vào kinh (sutta). Người ta còn cái khả năng “nhìn thấy như thực” của định jhana (đối với sắc và danh) cũng như sự nhận biết các tầng tuệ có thể là do sự tưởng tượng (Paccavekkhā: imagination) [6]. Không phải là không có những lí luận để phản biện lại những công kích này. Nhưng tại đây bài viết không nêu lên những phản biện ấy, mà chỉ ghi nhận lại những thực tế đang xảy ra trong Đạo Phật Thravada, tức là vẫn chưa có sự không thống nhất một cách tu tập hoàn hảo. Dù sao tất cả chúng ta phải nhận ra một sự thực lịch sử là Theravada chỉ là một bộ phái gần với nguyên thủy nhất chứ chưa phải là hoàn toàn nguyên thủy. Nghĩa là với niềm tin và sự hi vọng, chúng ta vẫn có thể chờ đợi sư xuất hiện của một đạo lộ tu tập thực sự mà Đức Phật đã giảng dạy. Có thể lúc đó sự tu tập bốn “thánh chánh định” [7] chỉ căn cứ vào kinh mà không cần phải dựa trên các bộ luận. Hiên nay cũng có các tu sĩ đang tu tập bốn thánh chánh định bằng cách thực hành chánh niệm vững chắc, sau đó dùng một phương pháp “như lý tác ý” hữu hiệu để tạm thời cách ly với tham dục và ác pháp. Với chánh niệm vững mạnh và tâm ly dục ly ác pháp, bốn thánh chánh định có thể hiện thật nhẹ nhàng mà không cần đến sức tập trung vào các đề mục. Bằng nổ lực tích cực học hỏi và tu tập của nhiều người tha thiết với chánh pháp, biết đâu chúng ta có thể nhìn thấy một đạo lộ tu tập thực sự nguyên thủy trong một ngày rất gần. Với lòng thành kính và thiết tha, xin cho Chánh Pháp nguyên vẹn và hoàn hảo sớm xuất hiện trở lại ngay trong hiện tại này!

BS. PHẠM DOÃN

Bài viết được sửa chữa và bổ sung lại ngày 05/09/2011

Các bài viết của bs Phạm Doãn không giữ bản quyền, nhưng mọi sao chép hoặc phổ biến không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ nguồn, tên tác giả.

Chú thích

[1] Tuệ và giác ngộ BS Phạm Doãn, phần II, Nguyên lý của Tuệ quán

[2] Chỉ Tịnh và Minh sát Tỳ Khưu Indacanda

[3] “Breakthrough in Tranquillity Meditation (Samatha Bhavana)” and “Breakthrough in Insight Meditation (Vipassanā)”, Tác giả: Pa Auk Tawya sayadaw & Mehm Tin Mol. Ph D. Trang 43

[4] Tuệ và giác ngộ, phần III, Mô tả qui trình tâm khi giác ngộ

[5] Con đường thiền chỉ và thiền quán,  Mahathera Henepola Gunaratana, chương VIII, tỳ khưu Pháp Thông dịch.

[6] Paccavekkhā: imagination (Source: Pali-English Dictionary, TW Rhys Davids, William Stede)

[7] Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh chánh định với các cận duyên và các tư trợ? Chính là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm. Này các Tỷ-kheo, phàm có nhất tâm nào (ekaggata) được tư trợ với bảy chi phần này, này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Thánh chánh định cùng với các cận duyên và các tư trợ. (Trích Đại Kinh bốn mười, Kinh Trung Bộ số 117)

Bài đọc thêm về phương pháp tu tập tại trường thiền Pa Auk:

- Outline of Samatha Meditation and Vipassanā Meditation in the Pa-Auk Tawya Meditation Center by Thích nữ Liên Tường

http://thienviennguyenthuy.wordpress.com/2009/03/06/outline-of-samatha-meditation-and-vipassana-meditation-in-the-pa-auk-tawya-meditation-center/


Thông báo về lịch khai giảng và nội dung của các khóa thiền Tứ Niệm Xứ năm 2010

THÔNg BÁO CỦA THIỀN VIỆN NGUYÊN THỦY

Quí vị muốn ghi danh online xin gởi thông tin: tên, năm sinh, số điện thoai, địa chỉ vào

số phone của cô Hạnh Chánh 0902.533086. Rất cám ơn!

***

NỘI DUNG TU THIỀN TỨ NIỆM XỨ

TẠI THIỀN VIỆN NGUYÊN THỦY

1. LỊCH SỬ THIỀN VIỆN NGUYÊN THỦY: Thiền viện được thành lập năm 1968 do Hoà Thượng Hộ Tông sáng lập. Diện tích khoảng 3 hecta nằm trên địa bàn Quận 2 Tp. Hồ Chí Minh. Khung cảnh rất thích hợp cho những vị chân tu sống đời phạm hạnh, lại càng thích hợp với những nguời tu tập pháp môn thiền quán. Hoà Thượng thành lập chùa có hai chủ ý: Một là thành lập trường đại học Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, hai thành lập trung tâm Thiền Tứ Niệm Xứ quốc tế, tuy nhiên duyên lành chưa hội đủ nên Hoà Thượng chỉ kiến tạo được một ngôi chánh điện và một khu tăng xá có khoảng 28 phòng dành cho chư tăng tu học. Kiến trúc chánh điện khá quy mô và vĩ đại  theo phong cách Thái lan.

Thượng toạ Pháp Chất được Giáo hội bổ nhiệm trụ trì năm 1993, từ lúc bổ nhiệm cho đến nay thượng toạ đã làm được nhiều phật sự tại thiền viện như: Trùng tu Chánh điện, Tăng xá, đặc biệt là xây dựng mới một dãy thiền xá cho hành giả thiền sinh tu học, và tổ chức nhiều khoá tu Tứ niệm xứ quốc tế. Thượng toạ dự kiến sẽ xây dựng một đại chánh điện mới để đáp ứng nhu cầu hành thiền cho Tăng ni và phật tử. Hiện nay, Thượng toạ là Phó ban Ban Nghi lễ TW GHPGVN đặc trách Nam tông Kinh, Ủy viên Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Tp. HCM.

2. VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ 2 THIỀN SƯ: Từ năm 2007 đến nay, Phật giáo Nguyên thủy nói chung và thiền viện Nguyên thủy nói riêng vinh dự đuợc Ban Tôn Giáo chính phủ cho phép mời nhiều vị thiền sư nguời nước ngoài vào Việt nam dạy thiền tại thiền viện Nguyên Thủy.

Năm nay 2010, thiền viện tiếp tục được Ban Tôn Giáo chính phủ cho phép mời 2 vị thiền sư người nước Myanmar đến mở khoá thiền trong năm 2010 bằng công văn số 693/TGCP-HTQT đề ngày 06/09/2010.

Đây là tiểu sử tóm lược 2 vị thiền sư Myanmar:

- Thiền sư U TEJINDA, Sanh năm 1976 tại Myanmar, một quốc gia có truyền thống phật giáo Nguyên thuỷ lâu đời trong lịch sử Phật giáo. Thiền sư có văn bằng Đại học ở đại học Mawlamyine, Mon State, Myanmar. Năm 2004, được trở thành thiền sư, phụ tá giảng dạy cho các thiền sinh ở trung tâm thiền Pa Auk (Pa Auk Meditation Center).

- Thiền sư VEN NA NA VAMSA sanh năm 1974 tại Myanmar. Thiền sư có văn bằng Đại học Toán (B.S.c) ở đại học Yangon, Myanmar. Năm 2004, được trở thành thiền sư, phụ tá giảng dạy ở trung tâm thiền Pa Auk (Pa Auk Meditation Center). Thiền sư còn dạy Pàli, Abhidhamma cho các Thiền sinh trong và ngoài nước tại Thiền viện Pa Auk.

3. PHƯƠNG PHÁP HÀNH THIỀN VIPASSANĀ (TỨ NIỆM XỨ PA AUK):

Đây là phương pháp thiền Tứ Niệm xứ do Đức Phật giảng dạy cách đây hơn 25 thế kỷ. Phương pháp này được ghi lại trong Kinh Đại Tứ niệm xứ thuộc Trường bộ kinh, và trong Kinh Tứ niệm xứ, và Kinh Nhập tức xuất tức niệm thuộc Trung bộ kinh.

Phương pháp thiền Pa Auk nầy do thiền sư Pa Auk Sayadaw (Àcinna), người Myanmar, chủ xướng. Thiền viện Pa Auk có nhiều chi nhánh quốc tế. Nhiều hành giả thiền sinh thành đạt cao trong phương pháp nầy, và trở thành thiền sư quốc tế.

Thiền sư Pa Auk hướng dẫn phương pháp thiền Vipassanā, Tứ niệm xứ Pa Auk, khởi đầu từ đề mục Hơi thở vô hơi thở ra. Khi hành giả tu tập cho đạt đến tứ thiền, rồi Thiền sư sẽ cho tu tập lần lượt các đề mục Niệm xứ khác còn lại. Hành giả sẽ tu tập lần lượt các đề mục trong phần Định (40 đề mục) và phần Tuệ (16 Tuệ Vipassanā) theo Kinh Visuddhimagga (Thanh tịnh đạo).

Đây là phương pháp hành thiền đúng theo chánh Tạng, vô cùng lành mạnh và bổ ích cho những ai áp dụng tu tập. Thiền Tứ Niệm Xứ còn được gọi là Thiền Vipassanā nhằm giúp chúng ta thanh lọc tâm, nhổ tận gốc rể phiền não, chấm dứt sanh tử luân hồi, đạt được quả vị.

Đối tượng tham dự khoá thiền: Chư Tăng ni và Phật tử. Đặc điểm của dòng Thiền nầy là tất cả hành giả thiền sinh đều phải trì giới nghiêm túc, có tâm trí thật sự trong sáng, tinh tấn hành thiền, và phải tuân thủ đúng nội quy – thời khoá biểu mới có thể đạt được kết quả cao trong phương pháp nầy.

4. THỜI KHOÁ BIỂU

Thời khoá biểu, thiền sinh phải tuyệt đối tuân thủ liên tục trong suốt thời gian thực tập, nó sẽ giúp thiền sinh tiến bộ trên bước đường tu thiền.

03:30 sáng                      : chuông báo thức.

04:00 đến 05:00 sáng   : Ngồi thiền (đợt 1).

05:00 đến 05:45            : Tụng Kinh sáng_hoặc nghe pháp (nếu có).

06:00 đến 07:30            : Đi bát, ăn sáng _ sinh hoạt cá nhân.

07:30 đến 09:00 sáng   : Ngồi thiền (đợt 2).

09:00 đến 10:30 sáng   : Trình pháp.

10:30 đến 13:00 trưa    : Đi bát, ăn trưa và nghỉ ngơi.

13:00 đến 14:00            : Ngồi thiền (đợt 3).

14:00 đến 14:30            : Đi thiền.

14:30 đến 16:00            : Ngồi thiền (đợt 4).

16:00 đến 17:45 chiều : Trình pháp_Hỏi pháp.

18:00 đến 18:30            : Tụng Kinh tối. Đi thiền.

19:00 đến 21:00 tối      : Ngồi thiền (đợt 5)_ hoặc nghe pháp (nếu có).

21:30 tối                        : Chỉ tịnh.

5. ẨM THỰC VÀ CHỖ Ở

- Ẩm thực: Thức ăn và thức uống ban tổ chức hoàn toàn lo liệu cho tất cả thiền sinh. Hành giả chỉ đến đây với tâm tư thật sự trong sáng, dành thời gian trọn vẹn để tu thiền, không phải bận tâm đến việc ăn uống. Để hành thiền tốt, quý vị có thể ăn thức đạm bạc của ban tổ chức, nhưng bảo đảm vệ sinh và sinh dưỡng cao.

- Chỗ ở: Thời gian hành thiền rất nhiều theo thời khoá biểu, nên việc ngủ nghỉ cũng hạn chế rất nhiều, không giống như quý vị ở gia đình. Vì phòng ốc hạn chế nên mong thiền sinh hoan hỷ với điều kiện ở tập thể.

6. ĐIỂU KIỆN ĐĂNG KÝ THAM DỰ KHOÁ TU:

- Quý vị chỉ cần 1 đơn xin đăng ký tham dự khoá thiền, điền vào khoảng trống và nộp lại cho ban tổ chức trước ngày lễ khai mạc, và mang theo chúng minh nhân dân hợp lệ và đồ dùng cá nhân, và vì phòng có hạn chế mong quý vị đăng ký sớm để ban tổ chức dễ dàng sắp xếp chổ nghỉ. Muốn có đơn đăng ký xin liên hệ:

1. http://thienviennguyenthuy.wordpress.com/

2. Thiền viện Nguyên Thủy, địa chỉ số 33A, đường 10, Phường Cát Lái, Quận 2, Tp. HCM. ĐT: (08)-3742.0214 gặp Ban Tổ chức (Cô Hạnh Giàu). Dđ: 0902.533.086 (Cô Hạnh Chánh)_0932.445.530 (cô Hạnh Giác) để được hướng dẫn.

Thiền viện Nguyên Thủy

Khóa Thiền Tứ niệm xứ Pa-Auk

NỘI QUY KHÓA THIỀN DÀNH CHO THIỀN SINH TẠI

THIỀN VIỆN NGUYÊN THỦY

Để khóa thiền đạt được kết quả tốt đẹp. Một nguyên tắc cơ bản về đạo đức cư xử tại Thiền viện Nguyên Thủy đã được thể hiện rõ nét về tinh thần và cốt lõi nhất trong mọi quy định đặt ra ở đây được chấp hành nghiêm chỉnh và luôn thể hiện sự tôn trọng và chính chắn trong mọi cư xử với nhau ở mọi nơi. Như lời của Đức Phật dạy các đệ tử của mình: “Hãy sống hoà thuận với nhau với lòng tôn trọng, chớ đừng có tranh cãi, hòa hợp như nước với sữa và hãy luôn nhìn bằng đôi mắt từ ái”.

A)- Khi đến / khi đi:

Thiền viện Nguyên Thủy hoan hỷ đón nhận hành giả có nhu cầu tu học về với Thiền viện, hoan hỷ hướng dẫn quý vị khi đến cũng như khi đi theo nội quy của Thiền viện.

a)       Quý vị đến tu học xin vui lòng đến gặp Ban tổ chức để đọc kỹ về thư cam kết và nội quy, sau khi đồng ý quý vị sẽ làm thủ tục đăng ký, kê khai lý lịch.

Khi đến đăng ký tu học xin vui lòng mang giấy Chứng minh nhân dân để làm thủ tục đăng ký tạm trú. Ban tổ chức sẽ sắp xếp nơi nghỉ, phân phát vật dụng cần thiết cho quý vị.

b)      Tuân thủ theo các quy định nội quy. Nếu quý vị xin đi về trước thời hạn đăng ký thì lần sau không được chấp nhận tu học lại.

Khi rời khoá thiền, xin vui lòng hoàn trả lại cho Thiền viện vật dụng đã giao khi mới đến.

Không được đi vắng qua đêm và mang theo vật dụng mà Thiền viện giao. Không mang theo tiền bạc, tư trang, đồ quý giá. Nếu có xin vui lòng gởi Ban tổ chức. Nếu tự giữ lấy rủi có mất mát thì ban tổ chức không chịu trách nhiệm.

c)      Khi ra về không được bỏ vật dụng cá nhân lại. Kiểm tra hành trang của mình và không mang đồ vật của Thiền viện ra đi.

d)      Tránh quan hệ, giao thiệp với những người ngoài Thiền viện hay người không quen biết. Trừ khi cần thiết có lý do chính đáng và có sự đồng ý của Thiền sư hay Thiền viện trưởng. Nếu các vị Thiền sư đồng ý thì báo Ban tổ chức. Nếu đi lâu hơn ở qua đêm cho biết cụ thể khi nào đi, ở đâu, phương tiện gì và khi nào trở lại Thiền viện.

B)- Y phục:

1)      Đối với y phục của quý chư Tăng Ni thiền sinh hay Tu nữ thiền sinh thì mặc theo hệ phái của mình.

2)      Đối với cư sĩ, Phật tử nữ, nam sẽ mặc đồng phục theo mẫu Thiền viện.
Nam: áo trắng, quần nâu.

Nữ: áo trắng, váy nâu, khăn giới nâu và mỗi Thiền sinh phải có toạ cụ để ngồi khi hành thiền hay khi đi trình pháp (đồng phục có bán tại Ban tổ chức, quý vị mua hay tự may)

3)      Ăn mặc lịch sự trang nghiêm, không ăn mặc luộm thuộm, dơ bẩn khi đi hành thiền hay tới nơi đi bát

4)      Vật dụng giao cho quý vị gồm có: mùng, mền, móc áo, ghế bố (chiếu), bát dùng để ăn cơm, … Khi về vui lòng giặt giũ và gởi lại Ban tổ chức. Nếu để hư hao hay mất xin vui lòng bồi hoàn lại (vì vật dụng thuộc về Tam Bảo). Tại Thiền viện có dịch vụ giặt ủi.

C)- Về cốc liêu:

Hãy chấp nhận sự sắp xếp chỗ ăn, nghỉ của Ban tổ chức, không được tự ý dời chỗ cho nhau khi chưa có sự đồng ý của Ban tổ chức.

Bất cứ ai có vấn đề nhu cầu liên quan chỗ ở, chỗ nghỉ xin vui lòng liên hệ Ban tổ chức.

D)- Tài Sản:

Tài sản Thiền viện là của Tam bảo. Vì thế mong quý vị lưu ý bảo quản tài sản Thiền đường, Thiền xá như tài sản của cá nhân mình.

E)- Về Giới:

Vì lợi ích của mọi người cũng như sự thực hành của quý vị, xin hãy luôn giữ gìn tám (8) giới và tuân thủ nghiêm túc. Mọi người được khuyến khích giữ giới đúng. Đối với Phật tử và hành giả việc giữ giới là bắt buộc. Ngoại trừ giới thứ sáu (ăn sái giờ) là phải xin phép Thiền sư chỉ trong trường hợp dạ dày, bao tử có vấn đề nghiêm trọng.

F)- Hướng dẫn chung:

1)      Hút thuốc, uống rượu, sử dụng các chất kích thích, an thần đều bị tuyệt đối cấm. Nếu quý vị bị phát hiện thì sẽ được mời ra khỏi Thiền viện.

2)      Vui lòng tôn trọng môi trường: không xả rác, không lãng phí điện nước.

3)      Giữ vệ sinh chung ở Thiền đường, Thiền xá, nhất là phòng vệ sinh.

4)      Không được nói chuyện trong Thiền đường, Thiền xá, phải hạn chế nói chuyện với nhau, nhất là khi xếp hàng đi bát, thọ thực.

5)      Khi đi bát theo thứ tự hạ lạp, người cư sĩ cao tuổi được ưu tiên và đi trong chánh niệm. Chỉ nhận đủ cho mình số lượng thức ăn, không nên nhận nhiều quá.

6)      Thuốc uống đặc trị phân chia liều lượng gởi Ban tổ chức, khi cần cấp cứu Ban tổ chức sẽ giúp đỡ. Thiền viện chỉ có những thuốc thông thường: cảm, sổ mũi, nhức đầu…

7)      Nếu quý vị muốn cúng dường bữa ăn cho Thiền sư hay Thiền sinh hoặc chư Tăng Thiền viện, quý vị vui lòng liên hệ Ban tổ chức để được giúp đỡ.

8)      Không được tự ý dâng thức ăn, thức uống đến Thiền sư. Nếu muốn cúng dường xin vui lòng gặp Ban tổ chức để được hướng dẫn dâng cúng đúng pháp, đúng luật.

9)      Nếu có nhu cầu mua sắm vật dụng cá nhân hãy đến gặp Ban tổ chức (Cô Hạnh Giàu) nhờ giúp đỡ.

10) Đồ dùng được giao: Bát, mùng, móc áo, dép… quý vị nhận, bảo quản và lúc về giao lại sau khi đã giặt sạch. Nếu thất lạc xin bồi hoàn lại (của Tam bảo)

11)  Mọi vật dụng: nơi để giày dép, lối đi dành cho nam, nữ phân biệt có quy định xin vui lòng chấp hành đúng. Nơi nghỉ, ngủ khi sáng thức dậy sắp xếp gọn đẹp và không treo áo quần nơi phòng ngủ.

12)  Giữa 7 giờ và 7 giờ 30 sáng, Thiền sinh phải dọn dẹp sạch sẽ cốc liêu nơi chỗ mình ngủ, nghỉ, quét dọn khu vực quanh lối đi hay khu vực gần đó, hoặc phụ giúp quét dọn Thiền đường, Thiền xá, Chánh điện, khu vực công cộng, lối đi, nhà vệ sinh…

13)  Nam hành giả không được tiếp nữ hành giả trong cốc liêu hay trong khu vực mình ở và ngược lại cho nữ giới.

14)  Mọi việc nói chuyện nam – nữ phải được diễn ra nơi công cộng.

15)  Một người nữ không được tiến đến 1 vị Tăng mà không có người nam bên cạnh để hiểu hai bên nói gì, cho dù 2 hay nhiều phụ nữ hơn đến gần Tăng cũng không được, dù trong cốc hay ngoài khu vực khác.

16)  Yoga, khí công và các loại hình khác và thể dục chỉ được thực hiện nơi cá nhân, riêng tư, không được phép thực hiện ở nơi công cộng và tuyệt đối không được dạy hoặc phổ biến những bài tập này cho thiền sinh.

17)  Phải giữ chánh niệm liên tục, chỉ nói chuyện khi cần thiết, không bàn luận thời sự, chính trị, gia đình, chuyện người khác. Cố gắng chuyên tâm tu tập.

18)  Điện thoại di động mang theo yêu cầu không được sử dụng, phải gởi đến Ban tổ chức, nếu phát hiện cất giữ sẽ được mời ra khỏi Thiền viện.

19)  Những thực phẩm được phép sử dụng sau bữa trưa: nước nóng và lạnh, nước trái cây tươi, nước sâm, trà gừng, nước mía, trà thuốc được dùng sau 17:00 hàng ngày.

-  Trường hợp bệnh cần uống thuốc theo toa bác sĩ hay mệt mỏi được phép sử dụng mật ong (liên hệ Ban tổ chức)

-  Khi có sự hiểu lầm xảy ra, hãy báo cho Ban tổ chức để kịp thời giải quyết.

Việc Hành Thiền:

3h30 sáng: thức dậy vệ sinh cá nhân.

-       Mỗi thiền sinh phải ngồi 90 phút tập trung tại Thiền đường (không được ngồi ở cốc liêu, thiền xá), có thể ngồi dưới gốc cây hay bất cứ nơi nào thích hợp ôû ở chung quanh khuôn viên Thiền viện.

-       Thời gian ngồi thiền tập trung từ:

§      4:00 đến 5:00 sáng.

§      7:30 đến 9:00 sáng.

§      9:00 đến 10:30 sáng.

§      13:00 đến 14:30 chiều.

§      14:30 đến 16:00 chiều.

§      18:30 đến 21:00 tối.

-       Giờ trình pháp sẽ được Ban Tổ chức ấn định, vui lòng theo đúng lịch trình pháp đã được sắp xếp.

-       Sẽ có 2 thời thuyết pháp: 1 thời sáng, 1 thời tối.

-       Tiếng chuông điện reo là báo giờ ngồi thiền. Ăn sáng, ăn trưa trong 2 thời: Lúc 6 giờ ăn sáng và  Lúc 10:45 thiền sinh đi bát, ăn cơm trưa và tự rửa bát cất giữ.

-       Thiền sinh được khuyến khích tiếp tục thực hành trong mọi lúc bằng cả 2 cách: Ngồi thiền hoặc đi thiền kể cả trong thời gian ngoài chương trình và cả giờ cá nhân, nên ai có muốn tiếp tục thực hành trong Thiền đường thì Ban Tổ chức vẫn sẵn sàng hoan nghênh đón nhận.

-       Những thiền sinh mới đến, Ban tổ chức sẽ sắp xếp gặp Thiền sư để được hướng dẫn căn bản kỹ thuật hành thiền.

-       Thiền sinh bắt buộc phải trình pháp với Thiền sư theo sự sắp xếp của Ban tổ chức.

-       Thiền sinh bắt buộc phải thực hành theo lời dạy của Thiền sư, không nên hành những phương pháp Thiền khác.

-       Và để việc tu tập có kết quả tốt cho bản thân cũng như tỏ lòng tôn trọng Thiền sư, thiền sinh hãy diễn tả những kinh nghiệm hành thiền với sự chân thật tuyệt đối. Cách trình pháp phải ngắn gọn, súc tích và phản ánh được sự trải nghiệm của chính mình.

-       Tuyệt đối không được thảo luận việc thực hành thiền của mình với người khác hoặc nói về những thành tựu chứng đắc của mình. Những câu hỏi liên quan đến việc hành thiền chỉ được phép đưa ra đến vị Thiền sư trực tiếp hướng dẫn mình mà thôi.

-       Luôn luôn giữ chánh niệm trong mọi oai nghi: đi, đứng, di chuyển chậm rãi và nhẹ nhàng khi rời khỏi Thiền đường, đến chỗ ở của mình. Bất cứ việc gì làm hay nói cũng phải nghĩ đến người khác, nên tôn trọng người khác, đừng làm phiền người chung quanh mình.

-       Không mang bất cứ sách vở, tài liệu ngoài bài học liên quan đến khoá thiền, chai, lọ, túi nylon vào Thiền đường, Thiền xá, Chánh điện.

-       Không được làm ồn khi cầm chìa khoá, khi di chuyển cây mắc mùng, cũng như các động tác bật mở quạt và chú ý có những Thiền sinh khác ngồi hành thiền.

-       Không sử dụng các loại dầu gió nặng mùi, hay đồng hồ báo thức tại Thiền đường.

-       Phép lịch sự: Trong khi trình pháp, hãy giữ khoảng cách nhất định từ vị trí chỗ ngồi của Thiền sư và tuân thủ sự khiêm cung trong mọi hành xử.

-       Tham dự lễ bái Tam bảo vào mỗi buổi sáng và buổi chiều. Ngày Bát quan trai giới, Tu nữ tham dự xin giới vào buổi chiều.

-       Trong suốt khoá thiền, thiền sinh tạm ngưng thắp nhang đèn, chỉ tinh tấn hành thiền.

-       Thiền sinh không được vào bếp của Thiền viện.

-       Thiền sinh có nhu cầu gì cần giải quyết xin vui lòng liên hệ Ban tổ chức hoặc cô Hạnh Giàu.

Ban tổ chức rất hoan nghênh đón tiếp thiền sinh ưa thích tu tập và chấp hành tốt nội quy của Thiền viện để khoá tu đạt được kết quả tốt đẹp.

Xin vui lòng đọc kỹ trước khi đăng ký tu học.

 

Namo Buddhāya

Thiền viện trưởng Thiền viện NGUYÊN THỦY

Thượng Tọa Pháp Chất


Trang blog Thiền Viện nguyên Thủy

Kính thưa quý độc giả

Trang blog THIỀN VIỆN NGUYÊN THỦY đã tồn tại hơn một năm,

dù với thời gian rất ngắn, nhưng có lẽ trang blog cũng đã hoàn tất một sứ mệnh nhất định:

Đó là giới thiệu đến các Phật Tử  một “Đạo Lộ Tu Tập” nguyên vẹn và rõ ràng của Đạo Phật Nguyên Thủy Theravada.

Xét về mặt lịch sử, Theravada là một nhánh “bảo thủ” đã bảo tồn được toàn vẹn kinh điển sau lần kết tập thứ ba, nhờ đã di chuyển đến Đảo Sri Lanka và duy trì giáo pháp của Đức Phật  một cách độc lập tại đây. Ngoài sự toàn vẹn kinh điển (Suttas), pháp học và pháp hành của Theravada còn được soi sáng bởi Vi Diệu Pháp (abhidhamma) và nhất là về sau này được giải thích tường tận bởi Ngài Buddhaghosa trong cuốn chú giải Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga).

Đạo Lộ Tu Tập căn cứ trên kinh (suttas), Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) và chú giải của ngài Buddhaghosa (Visuddhimagga) đã được thày U. ACINNA thuộc Thiền Lâm Pa Auk, Myanmar giảng dạy và chứng minh tính đúng đắn của nó qua các kết quả thu thập được của các thiền sinh khắp nơi trên thế giới!

Một Đạo Lộ tu tập gọi là đúng đắn chỉ  khi nào nó giúp các hành giả thu thập được các đạo quả đúng như kinh điển đã mô tả!

Trang blog thành lập với mục đích giới thiệu Đạo Lộ tu tập này. Đến nay vì không đủ người chăm sóc, thienviennguyenthuy.wordpress.com tạm thời xin được khép lại tại đây.

Ban Biên Tập trang Blog xin gởi lời chào tạm biệt, và mong sớm gặp lại tất cả quí vị đọc giả vào một thời điểm khác cũng trên không gian Internet này.

Kính chúc quý độc giả luôn được an vui, luôn được tinh tấn trên đạo lộ tu tập, để sớm đắc chứng lần lượt các Đạo Quả.

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammasambuddhassa!

 


Danh Mục Các Bài Viết

DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT

đã được đăng lên trang chính của Blog Thiền Viện Nguyên Thủy

Từ tháng 01/2009 đến tháng 06/2010

CÁC TRANG CHỦ ĐỀ


Hình ảnh thiền sinh VN tại rừng thiền Pa Auk

Hình ảnh mới của thầy Pa Auk, năm 2010,

và các thiền sinh Việt Nam đang tu học tại thiền lâm Pa Auk.

Sự thành tựu lần lượt các bậc thiền-định (8 samapatti) và các tầng thiền quán (16 stages of Vipassana) đã là một động lực vô cùng to lớn

để thúc  đẩy hầu hết các thiền sinh tu học tại Thiền Viện trong hai năm qua, gồm các tu sĩ và cư  sĩ thuộc đủ mọi tông phái Phật giáo, đến tu tập tiếp tại rừng thiền Pa Auk, Myanmar.

Ngài Viện chủ Pa Auk Sayadaw

Ngài Viện chủ Pa Auk Sayadaw

Chư tăng

Các thí chủ VN cúng dường Ngài viện chủ Pa Auk trong ngày Patimokkha

Cúng dường thiền sư Dhammapala và chư tăng nhân ngày Patimokkha

Tu nữ VN xuất gia tại rừng thiền Pa Auk, bìa phải tu nữ 11 tuổi (Bảo Uyên)

Hình một số các tu nữ VN

Các tu nữ đến từ Việt Nam

Cô tu nữ Santacitta (ban biên tập Pháp T.V. Nguyên Thủy)

Cư sĩ đến từ Việt Nam

Trái: Cô tu-nữ Santacitta, phải: thân mẫu thiền sư Dhammapala

Tu nữ nhỏ tuổi nhất tại rừng Pa Auk

Hình tu nữ nhỏ tuổi ở trên chính là Bảo Uyên 11 tuổi

Bảo Uyên tại thiền viện Nguyên Thủy tháng 3-2009

Một bài viết dễ thương về Bảo Uyên: Chúng ta đang già đi

Phạm Doãn

biên tập hình ảnh gởi về từ Pa Auk, Myanmar


Định An-Chỉ (jhanas)

THE JHANA
by Bhikkhu Brahmavamso

Translate into Vietnamese

by Phạm Doãn

Lời nói đầu:

Khi Thiền của Đạo Phật ngày càng trở nên phổ biến trong thế giới tân tiến, điều cần thiết phải có là một hướng dẫn chính xác và rõ ràng. Trải qua một thời gian rất lâu, chúng ta đã không may mắn để có được một chỉ dẫn hoàn chỉnh bằng Anh ngữ về những trạng thái định sâu gọi là Định an-chỉ (Jhana). Mặc dầu, Định An-Chỉ  là đề tài được Đức Phật nhắc lại rất nhiều lần trong kinh Nikaya và được các vị thày cao niên thuộc thiền lâm Thái Lan khích lệ, thuyết giảng, chỉ dạy, nhưng một mô tả về sự triển khai những Định An-Chỉ  thì chưa thấy có.

Cuốn sách nhỏ này nhằm bổ sung sự thiếu sót những thông tin thực tế về Định An- Chỉ (Jhana). Nó tiếp nối cuốn sách nhỏ mà tôi vừa viết trước đây, Phương pháp căn bản hành thiền (the Basic method of meditation). Cuốn sách này nhằm mô tả đạo lộ dẫn đến Thiền-Định (jhana), các đặc điểm của Thiền-Định và sự cần thiết của Thiền-Định để phát triển Tuệ và Giác ngộ.

Nếu không thấu hiểu Định An-Chỉ (Jhana) sự hiểu biết về Đạo Phật sẽ bị thiếu sót.

Với tâm từ
Ajahn Brahmavamso
BODHINYANA MONASTERY, MAY 2546 A

PHẦN I

I. GIỚI THIỆU

Trong kinh điển nguyên thủy của Đạo Phật, chỉ có một chữ để chỉ về thiền. Định An- Chỉ (Jhana) chỉ về một trạng thái thiền đúng, khi tâm trí người hành thiền yên tĩnh không ý nghĩ, tách biệt khỏi hoạt động của năm giác quan và chiếu sáng bởi an lạc ngoài thế gian. Nói thô kệch một chút, nếu không phải là Định  An-Chỉ (Jhana), thì đó không phải là thiền của Đạo Phật. Có lẽ yếu tố cao nhất của Bát Chánh Đạo, cái gọi là Chánh Định không gì khác hơn là Jhanas (An-Chỉ Định).

[Vì chữ PaLi "Jhana" có hàm chứa một nghĩa riêng, nên nếu dịch là Định  An-Chỉ thì vẫn như không đủ nghĩa, do đó trong suốt bài này, người dịch dùng chữ  "Định Jhanas" thay vì dùng chữ Định An-Chỉ].

Sự tái phát hiện của Đức Phật

Trong các văn bản cổ của Phật giáo, Đức Phật được cho là đã phát hiện Định Jhana (Tăng chi bộ kinh 2, 7). Sự xác nhận này được lập lại với giải thích đầy đủ của thượng tọa Ananda trong một kinh khác (Tăng chi bộ kinh 9, 42). Sự kiện Đức Phật tái phát hiện ra Định Jhana không nên được xem xét qua loa, vì sự tái phát hiện đã là một màn chính trong vở kịch Giác ngộ.

Khi nói Đức Phật đã phát hiện Định Jhana, điều đó không nên hiểu như là chưa có ai đã từng trải ngiệm Định Jhana trước đó. Ví dụ trong thời kì của Phật Ca Diếp (Kassapa) trước đó, vô số người nam và người nữ đã đạt được định Jhana và lần lượt thực hiện được sự giác ngộ. Nhưng ở Ấn Độ hai mươi sáu thế kỉ trước, mọi kiến thức về định Jhana đã biến mất. Đây là một lí do khiến không có bất cứ đề cập nào về định Jhana trong mọi văn bản tôn giáo trước thời Đức Phật Gautama.

Một vài người sẽ sẽ phản đối rằng hai vị thày Alara Kalama và Udaka Ramaputta đã từng thuyết giảng về Jhana, vì kinh điển nói rằng họ đã dạy Đức Bồ Tát (tức Đức Phật sắp thành của chúng ta) các chứng đạt về Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Tuy nhiên hai chứng đạt đó không thể có liên hệ với định Jhana, bởi vì Đức Bồ Tát, ngay trước lúc ngồi xuống dưới cây Bồ Đề, đã nhớ lại lần duy nhất trong đời, ngài đã trải nghiệm định Jhana khi còn là một cậu bé, lúc ngồi dưới cây mận, khi cha cậu làm lễ cày cấy đầu năm (Trung bộ kinh 36). Trải nghiệm sớm và ngẫu nhiên về định Jhana đó không do chỉ dạy, không được dự tính trước và rồi cũng bị quên đi từ khi ấy. Nếu đó là trải nghiệm duy nhất về Jhana của Đức Bồ Tát trước khi ngài ngồi dưới cội Bồ đề thì hai vị thày Alara Kalama và Udaka Ramaputta không thể đã có dạy về định Jhana.

Thực vậy, trong kinh Mahasaccaka (MN 36), Đức Bồ Tát phủ nhận những trải nghiệm do hai vị thày đã dẫn tới Giác Ngộ, và rồi ngài cũng đã kiệt sức với mọi phép tu khổ hạnh trước khi kết luận rằng chúng cũng không đưa tới Giác Ngộ.

Nhớ lại trải nghiệm trước đây khi còn là một cậu bé, Đức Bồ tát suy nghĩ: “Có lẽ định Jhana này là con đường dẫn tới Giác Ngộ (Boddhi)”. Do vậy Đức Bồ Tát đã thực hiện định Jhana dưới cội Bồ Đề và tiến từ đây đến Giác Ngộ toàn mãn, chứng đạt quả vị Phật.

Một trong những lí do tại sao không có sự thực hành định Jhana trước khi Phật Giác Ngộ là vì người ta chỉ theo đuổi sự tìm cầu khoái lạc và thoải mái của cơ thể hoặc một cái gì khác theo loại tôn giáo hành hạ cơ thể. Cả hai khuynh hướng đều gắn kết với cơ thể và năm giác quan, không buông xả từ năm giác quan. Cũng không tạo ra sự an tĩnh kéo dài cho cơ thể, tức cái cần thiết cho cơ sở của định Jhana. Khi Đức Bồ Tát bắt đầu cách thực hành “dễ dãi” dẫn đến an tĩnh cho cơ thể, năm đệ tử đầu tiên của ngài đã từ chối ngài trong sự khinh bỉ.. Một kiểu thực hành như thế được họ xem là vô giá trị. Bởi thế nó đã không được thực hành và cũng bởi thế Định Jhana đã không xảy ra.

Sau khi Đức Phật Đại Giác Ngộ, điều mà Ngài dạy đầu tiên, trước cả Tứ Diệu Đế, là khai mở con đường Trung Đạo. Con đường này chưa từng có trước đây (trừ rất lâu trong những kỉ nguyên của các vị Phật trước đó nữa). Con đường này tự động dẫn đến định jhana và sau đó là Giác Ngộ.

Đức Phật nói rằng, dường như ngài đã tái phát hiện một con đường dài đã thất lạc, dẫn đến một thành phố cổ (SN 12, 65). Thành phố cổ đó là Níp Bàn (Giác Ngộ) và con đường dài đã thất lạc là con đường Bát Chánh với đỉnh cao là Định Jhana. Vì Đức Phật đã tái phát hiện con đường này, ta có thể nói rằng Đức Phật đã tái phát hiện Định Jhana.

Ta có thể bị Định Jhana trói buộc hay  không?

Khi Đức Bồ Tát có tuệ giác rằng định Jhana là con đường đi đến Giác Ngộ, ngài liền nghĩ, “Tại sao ta lại sợ điều khoái lạc mà cái này chẳng có liên hệ gì đến năm giác quan và cũng không có liên hệ với những điều bất thiện? Ta sẽ chẳng sợ cái khoái lạc đó (của định Jhana) !” (Trung bộ kinh 36). Ngay cả đến ngày hôm nay một vài người hành thiền lầm lẫn tin rằng những trạng thái khoái lạc cực độ như Jhana không thể nào dẫn đến sự chấm dứt của mọi sự khổ. Họ vẫn còn sợ định Jhana. Tuy nhiên trong kinh điển Đức Phật nhắc lại rằng trạng thái sung sướng trong định Jhana là cái “phải đi theo, phải làm cho nó phát triển và làm cho nó có nhiều hơn. Đây là không phải là điều nên sợ hãi” (Trung bộ kinh 66).

Bất kể lời khuyên rõ ràng từ chính Đức Phật, một vài thiền sinh đã đượng hướng dẫn sai bởi những người chống đối định Jhana bằng lý luận rằng ta có thể bị trói buộc, chấp thủ vào định Jhana và như thế sẽ không bao giờ có thể giác ngộ. Nên chỉ rõ ra rằng lời Đức Phật nói về chấp thủ, upadana, chỉ ám chỉ các trói buộc, bám níu vào sự thoải mái và khoái lạc của năm giác quan hay trói buộc, bám níu vào các hình thái khác nhau của tà kiến (ví dụ như quan điểm về Ngã). Nó không bao giờ có nghĩa trói buộc vào những điều thiện ví dụ như định Jhana.

Một cách hiểu đơn giản, các trạng thái Jhana là các giai đoạn của buông xả. Ta không thể bị trói buộc vào buông xả. Cũng giống như ta không thể bị giam cầm bởi tự do. Ta có thể tìm vui nơi định Jhana, trong cái an lạc của buông xả, và đây là điều mà vài người do hướng dẫn sai nên phải sợ hãi. Trong kinh Pasadika (kinh Trường bộ 29, 25) Đức Phật đã nói rằng ai theo đuổi khoái lạc của định Jhana chỉ có thể nhận bốn hậu quả: Nhập Lưu, Nhất lai, Bất Lai và Giác Ngộ viên mãn! Nói cách khác theo đuổi định Jhana chỉ dẫn tới bốn trạng thái của Giác Ngộ. Vậy, bằng lời của Đức Phật “Ta không nên sợ định Jhana” (kinh Trung bộ 66).

* Tham khảo upadana trong Tự Điển Phật Học: Manual of Buddhist Terms and Doctrines, Venerable Nyantiloka (Fourth Revised Edition), Kandy, Buddhist Publication Society, 1980.

Với những người còn xa cách với định Jhana

Với một số thiền sinh, định Jhana là một khoảng cách còn xa, nên tự cho mình không thích hợp. Không phải vậy! Bằng cách bàn luận về những trạng thái thăng hoa, ta có thể tạo nên niềm hứng khởi, cũng như hình dung những cõi miền trước mặt giúp ta biết định hướng đúng. Chủ yếu hơn, nó giúp ta thông tin về việc gì phải làm khi ta đến gần những trạng thái sâu về tự do. Cuối cùng nó giúp ta hiểu sâu hơn về Pháp, đặc biệt về Diệu đế thứ ba, đó là đoạn diệt tất cả khổ đau để đên Níp bàn. Vì sự mê say và an lạc của định Jhana có mối liên hệ trức tiếp với số lượng của luân hồi được buông xả, dù có tính tạm thời. Vậy, thảo luận về định jhana là việc có gía trị, ngay cả khi bạn thấy mình còn rất xa cách.

Với những người đã gần gũi với định Jhana

Một vài độc giả có thể đã đến đủ gần để thấu hiểu việc thảo luận này bằng chính trải nghiệm của mình, và cuốn sách này có thể giúp họ thực hiện cú nhảy cuối cùng vào định Jhana. Hơn thế nữa, khi một người hành thiền thực sự trải nghiệm một trạng thái sâu của thiền, họ rất muốn tìm hiểu chính xác đó là gì, để nhận ra trạng thái đó bằng những từ ngữ mà chính Đức Phật đã dùng để mô tả. Vì thế việc phân biệt đúng các mức sâu của thiền là rất quan trọng.

Việc tạo cảm hứng cho một thành tựu của ai đó cũng là quan trọng. Cảm xúc tích cực sẽ khích lệ việc buông xả. Mong ước của tôi là được trình bày với các bạn, rằng những trạng thái của định Jhana sâu xa và tuyệt vời đến dường nào, và minh họa thế nào là trải nghiệm chính yếu trong sự kiện Giác Ngộ.

Đôi khi những chủng tử, gieo vào khi bạn đọc bài thảo luận về định Jhana này, sẽ trổ quả một ngày nào đó. Khi bạn nhận ra những yếu tố tâm (thiền chi) thực tế xảy ra như thế nào, bạn sẽ biết sự quan trọng của việc thu thập thông tin và cảm hứng như thế này, về định Jhana, từ nguồn bên ngoài. Rồi vào đúng thời điểm, tâm trí sẽ tự động biết nó phải làm gì.

Ví dụ, khi Nimitta xuất hiện, tâm trí tức thì biết cách phản ứng như thế nào. Về sau, có thể đôi khi bạn lại nghĩ: “Sự chủ động đó đến từ đâu?” Câu trả lời là vận động của tâm trí lúc đó đến từ việc đọc những thảo luận như thế này. Đôi khi nó cũng đến từ những điều bạn được học từ kiếp trước.

Đó là những nguyên nhân sinh ra các hướng dẫn thoáng qua tâm trí trong trạng thái lặng yên của thiền định. Chúng không sinh ra từ bạn. Nếu bạn bị lôi cuốn vào và cố gắng làm điều gì đó, thiền định sẽ bị quấy nhiễu và an bình sẽ mất.

Vì thế, xin hãy thôi nghĩ rằng bạn hiện chưa ở thời điểm này, thảo luận này không có ích gì cho bạn. Sự thực là nó rất có ích cho bạn. Nhưng bạn chỉ nhận ra lợi ích của nó sau khi bạn đạt được một trong những định Jhana và hồi tưởng lại để thấy rằng những chỉ dẫn này, cái bạn tưởng đã quên, lại thể hiện đúng lúc để dẫn tâm trí bạn đến định jhana.

II. HƠI THỞ ĐẸP

Sự bắt đầu một hành trình đến định Jhana

Tôi đã trình bày định Jhana từ một góc độ lý thuyết và lịch sử. Bây giờ là lúc giải thích định Jhana trong ý nghĩa thực hành. Để mô tả hành trình đến định Jhana, tốt nhất là bắt đầu từ điểm xuất phát của “Hơi Thở Đẹp”. Trước khi giai đoạn này được hoàn tất, tâm trí không đủ thỏa mãn, tỉnh thức và ổn định để nó tự phóng lên trạng thái ý thức cao hơn. Khi ta có thể duy trì một nhận biết không cần gắng sức trên một hơi thở không gián đoạn trong một thời gian dài, khi tâm trí đã có một tỉnh thức phong phú rằng hơi thở trở nên khoan khoái, lúc ấy ta đã sẵn sàng khởi động chuyến du hành đến Định Jhana.

Không sợ những khoái cảm

Tôi muốn nhấn mạnh rằng ta nên cẩn thận tránh phải sợ hãi khoái cảm trong thiền định. Rất nhiều hành giả loại bỏ cảm giác hạnh phúc vì cho rằng nó không quan trọng, hoặc tệ hơn nữa, cho rằng họ không tương xứng với một khoái lạc như thế. Cảm giác hạnh phúc trong thiền là quan trọng! Hơn nữa bạn xứng đáng được an lạc! Phát sinh an lạc trên hơi thở là phần thiết yếu của đạo lộ. Vì thế khi khoái cảm khởi dậy cùng hơi thở, ta nên đón mừng nó như một tài sản giá trị và bảo vệ nó một cách tương xứng.

Hơi Thở đẹp không cần nổ lực

Cảm giác sung sướng xuất hiện trong giai đoạn hơi thở đẹp là “chất keo” dán dính sự chú ý của tâm trí vào hơi thở. Điều này khiến chánh niệm trên hơi thở không cần một nổ lực nào nữa. Ta trụ tâm bằng chú ý toàn vẹn vào hơi thở bởi vì tâm trí muốn ở cùng hơi thở. Tâm trí trong giai đoạn này, đang tận hưởng sự quan sát hơi thở, nó không muốn rời đi nơi nào khác. Tâm trí theo cùng với hơi thở một cách tự động. Nó hài lòng với sự sung sướng và đẹp đẽ của hơi thở, mọi sự lăng xăng dừng lại. Ta biết rất rõ hơi thở mà không cần phải điều khiển tâm trí. Chánh niệm trong hơi thở, lúc này không cần đến nổ lực.

Nếu không có trải nghiệm sung sướng, sẽ có vài sự bất mãn. Sự không hài lòng là nguồn gốc làm tâm trí lan man. Trước khi ta tới được giai đoạn hơi thở đẹp, sự không hài lòng đẩy chánh niệm ra khỏi hơi thở. Lúc đó cách duy nhất để giữ chánh niệm trên hơi thở là bằng nổ lực của ý chí, bằng sự kiểm soát. Nhưng khi đã đạt tới giai đoạn hơi thở đẹp, khi cảm giác sung sướng sinh ra thỏa mãn lâu dài, thì tâm trí không còn đi lang thang nữa. Khi sự kiểm soát được thả lỏng, nổ lực giảm xuống, tâm trí sẽ duy trì sự bất động một cách tự nhiên.

Giống như xăng là nhiên liệu vận hành xe ô tô, sự không hài lòng là nhiên liệu làm tâm trí chuyển động. Khi chiếc xe hết xăng, nó chầm chậm dừng lại. Ta không cần dùng đến thắng. Nó tiến đến trạng thái bất động một cách tự nhiên. Cũng như thế, khi tâm trí không còn sự bất mãn nhờ sự xuất hiện của hơi thở đẹp, nó nhẹ nhàng dừng lại. Ta không cần dùng sức mạnh ý chí làm cái thắng. Tâm trí đạt đến trạng thái bất động một cách tự nhiên.

Pitisukkha- Hỉ và Lạc

Trong tiếng Pali, tổ hợp chữ Pitisukkha có nghĩa sự phối hợp của hỉ và lạc (joy and happy). Ta có thể dùng những chữ này để chỉ tất cả những trải nghiệm, kể cả các trải nghiệm thuộc thế gian. Nhưng trong thiền định, Pitisukkha chỉ dùng ám chỉ cảm giác hỉ và lạc sinh ra từ sự buông xả.

Giống như các loại lửa khác nhau có thể phân biệt được bằng các nhiên liệu của chúng, ví dụ lửa củi, lửa xăng dầu, lửa cháy rừng, các loại khác nhau của Lạc cũng có thể được phân biệt bởi nguyên nhân của chúng. Hỉ và Lạc phát sinh từ hơi thở đẹp được đốt lên từ sự buông xả các gánh nặng như từ quá khứ, tương lai, phê phán nội tâm và các ý thức xung đột. Bởi vì nó là cảm giác sung sướng sinh ra từ buông xả, nó không thể gây ra trói buộc. Ta không thể trói buộc và buông xả vào cùng một lúc. Cảm giác sung sướng sinh ra cùng với hơi thở đẹp, thực sự là dấu hiệu rõ nhất cho sự cởi bỏ vừa mới xảy ra.

Ba loại chính của Hỉ-Lạc

Ta có thể đề xuất ba loại chính của Pitisukkha (Hỉ-Lạc): phát sinh bởi sự kích thích của cảm giác, hoặc do sự thành tựu của cá nhân hoặc sinh ra bởi sự buông xả. Những loại này không chỉ khác biệt bởi nguồn gốc nhưng chúng cũng rất khác nhau về bản chất. Lạc phát sinh bởi thân thể thì nóng và kích thích những cũng kích động và hậu quả là gây nhàm chán. Nó giảm cường độ khi tái lập. Lạc sinh bởi sự thành tựu của cá nhân thì ấm, tràn đầy, nhưng cũng phai nhanh, để lại cảm giác về một khoảng trống cần bù đắp. Nhưng Lạc sinh ra do buông xả lại mát và kéo dài lâu hơn. Nó phối hợp với cảm giác của tự do thực sự.

Lạc sinh ra bởi kích thích xác thịt luôn tạo ra ham muốn nhiều hơn nữa, giống như một người nghiện luôn cần một liều lớn hơn, điều khiến nó không bền vững và có tính ức chế. Lạc sinh ra bởi thành tựu cá nhân tạo thêm chất liệu cho tính độc đoán quái dị (control-freak), khiến tạo thêm ảo tưởng về quyền lực cá nhân. Kẻ kiểm soát sẽ giết chết mọi phúc lạc. Lạc sinh ra từ buông xả thúc đẩy thêm buông xả và ít tính can thiệp. Bởi vì nó khích lệ ta rời bỏ mọi điều nên nó là loại lạc bền vững nhất và kéo dài không cần nổ lực nhất. Nó là loại độc lập nhất đối với mọi nguyên nhân. Nó gần nhất với trạng thái không điều kiện và không nguyên nhân.

Rất cần đến sự thành công trong thiền định để nhận biết các loại Lạc khác nhau. Giống như các cơn sóng khoái lạc xác thịt đi qua cơ thể bạn, nếu Lạc sinh khởi cùng với hơi thở tỉnh thức thuộc loại kích thích thể xác, thì nó sẽ sớm tan biến khi nổ lực chùng xuống, để lại cảm giác nặng nề và chán nản. Nó ít có công dụng tại đây. Nếu Lạc phối hợp với cảm giác của thành tựu, ví dụ với ý nghĩ: “Tuyệt! cuối cùng thì ta cũng đạt được cái đó trong thiền định” tức thì, nó thường bị theo sau bởi ý niệm thành tựu tan rã. Nó sẽ bị phá hủy bởi kẻ kiểm soát bất ngờ trỗi dậy và bị hủy hoại bởi sự can thiệp của bản ngã. Nhưng nếu Lạc sinh khởi cùng với hơi thở đẹp từ sự buông xả, thì ta có cảm giác rằng ta chẳng cần phải nói điều gì hay phải làm điều gì. Nó trở thành niềm phúc lạc có liên hệ chặt chẽ với tự do và an bình. Nó sẽ tự tăng trưởng với cường độ mạnh mẽ, giống như một đóa hoa nở trong vườn thiền định Jhana.

Hơi thở đẹp,

Tâm từ  đẹp,

Cái sọ đẹp!

Ngoài hơi thở, còn có nhiều đối tượng được dùng trong thiền định. Ta có thể dùng đối tượng như là Tâm Từ (Metta), một phần cơ thể (Kayagatasati), sự hình dung thị giác đơn giản (Kasina) hay các đối tượng khác để làm điểm tập trung cho chánh niệm. Tuy nhiên tất cả thiền định phát triển đến định Jhana, phải qua một giai đoạn có hỉ-lạc sinh ra do sự buông xả. Vì dụ thiền về Tâm Từ dẫn đến một tình yêu tuyệt vời, rộng lớn, không điều kiện đối với toàn thể vũ trụ, làm hành giả tràn ngập với niềm mừng vui tuyệt diệu. Hỉ Lạc do buông xả được sinh khởi và ta ở trong giai đoạn “Tâm Từ đẹp”. Một ví dụ khác, có hành giả tập trung trên các thành phần của cơ thể, thường là cái sọ người. Khi thiền đi sâu, lúc chánh niệm được giữ trên hình ảnh cái sọ bên trong tâm trí, một diễn trình lạ lùng mở ra. Hình ảnh cái sọ trong tâm trí của hành giả bắt đầu trở thành trắng, rồi đậm màu hơn cho đến lúc chiếu rọi với ánh sáng cực mạnh như một “cái sọ đẹp”! Lần nữa hỉ-lạc phát sinh từ buông xả xuất hiện, hành giả thấm đẫm trải nghiệm với hỉ và lạc. Ngay cả một vài thày tu thực hành thiền định về sự kinh tởm (Asubha) chẳng hạn trên một tử thi hoại tử, có thể trải nghiệm xác chết thoạt đầu trông gớm ghiếc, bỗng thay đổi thành những hình ảnh đẹp hơn tất cả. Sự buông xả đã phát sinh quá nhiều hạnh phúc đến mức lấn áp hình ảnh kinh tởm tự nhiên và phủ tràn hình ảnh đó bằng hỉ-lạc. Đến đây hành giả đã thức hiện được giai đoạn “Tử thi đẹp!”.

Trong thiền định hơi thở (Anapanasati), Đức Phật dạy về sự phát khởi hỉ-lạc cùng với trải nghiệm về hơi thở trong bước 5 và 6 của tất cả 16 bước trong phương pháp quán niệm hơi thở (xem Trung bộ kinh 118). Đây là một giai đoạn chính yếu trong thiền định mà tôi có bàn tới trong cuốn “The basic method of meditation” *

* THE BASIC METHOD OF MEDITATION by Ajahn Brahmavamso, available from the Buddhist Society of Western Australia.

Phải làm gì nếu hỉ-lạc không xảy ra?

Khi hỉ-lạc không phát sinh, điều này tất yếu phải xảy ra nếu không đủ sự hài lòng, đó là vì ta còn quá gắng sức. Ta phải liên tưởng đến hai yếu tố đầu trong năm chướng ngại (năm triền cái). Chướng ngại thứ nhất, nhục dục, lôi kéo sự chú ý đến đối tượng của dục, nghĩa là rời xa khỏi hơi thở. Chướng ngại thứ hai, sân hận (ill will) đi tìm lỗi trong trải nghiệm hơi thở và sự không hài lòng đẩy sự chú ý rời khỏi hơi thở. Sự hài lòng là “trung đạo”giữa ham muốn và sân hận. Nó gìn giữ chánh niệm của ta trên hơi thở lâu dài đủ cho hỉ-lạc phát sinh.

Một số người hành thiền thắc mắc về vai trò của nổ lực trong thiền. Khi thiền ở giai đoạn ngay trước khi có hơi thở đẹp, ta chỉ đặt nổ lực vào sự nhận biết (knowing), tránh xa cái tâm trí tác hành (the doing- mind). Khi nổ lực được đưa vào sự “hành” thiền, có nghĩa là đã có sự kiểm soát mọi thứ, thì con người hành động được kích hoạt năng lượng tạo ra trạo cử (kích động), đây cũng là một chướng ngại khác. Nhưng nếu loại bỏ nổ lực ra khỏi con người tác động và chỉ tập trung vào sự nhận biết, thì trạo cử biến mất nhưng lúc đó lại phát sinh lười biếng và hôn trầm, đây cũng là một trong năm chướng ngại. Nó phát sinh bởi vì Cái Biết không có năng lượng. Điều này thường do tất cả năng lượng của ta bị dồn vào hoạt động, vào chức năng tích cực của tâm trí, vào sự kiểm soát. Bởi vậy, sự nhận biết, chức năng thụ động của tâm trí bị đói năng lượng trở thành yếu đuối, lười biếng và hôn trầm. Nếu tất cả năng lượng của ta được đầu tư vào sự nhận biết, vào chánh niệm thì yếu đuối và hôn trầm sẽ được thay bằng sự sáng suốt và nhận biết mạnh mẽ.

Đặt tất cả nổ lực của ta vào sự nhận biết là cách khác để làm phát sinh hỉ-lạc trong hơi thở. Vì năng lượng của tâm trí tương đương với hỉ-lạc. Vậy nếu chưa thấy Hỉ-Lạc xuất hiện thì có lẽ rằng ta chưa hướng nổ lực tránh xa chủ nhân tác hành (the doer) để tập trung vào sự nhận biết.

Con đường đi vào tĩnh lặng

Yên lặng là không có chuyễn động. Cái gì làm tâm trí chuyển động? “Ý chí” làm tâm trí chuyển động! Đây là điều tại sao khi ta muốn trải nghiệm sự yên lặng, ta phải loại bỏ tất cả ý-chí, tất cả tác hành, tất cả kiểm soát.

Ta có thể cầm giữ một chiếc lá trên cây để nó khỏi lay động, tuy nhiên càng nắm chắt ta càng không giữ nó yên, vì có vài rung động do chính các cơ rung nhẹ. Nếu ta tránh gió thổi vào lá thì chiếc lá sẽ tự nó yên lặng. Bằng cách loại bỏ nguyên nhân của chuyển động, tức là gió, thì chiếc lá sẽ trở về trạng thái yên lặng tự nhiên.Một cách giống hệt như vậy, ta không thể tạo ra sự tĩnh lặng bằng cách giữ tâm trí trong nắm tay của ý chí. Nhưng nếu ta loại bỏ nguyên nhân làm tâm trí dao động, thì chẳng bao lâu tâm trí sẽ trở về trạng thái tĩnh lặng tự nhiên.

Vậy ta không thể mong ngóng cho tâm trí tĩnh lặng. Con đuờng đi tới tĩnh lặng phải ngang qua hỉ-lạc sinh từ buông xả. Một khi sung sướng đến cùng hơi thở đẹp xuất hiện, ý chí trở nên dư thừa. Ý chí không cần thiết vì chánh niệm tự động ở cùng hơi thở, không cần cố gắng. Chánh niệm vui thú cùng hơi thở nên không cần đến sự ép buộc. Bằng sự xuất hiện của Hỉ-Lạc vào giai đoạn hơi thở đẹp, ý chí dịu xuống, nổ lực dịu xuống và tĩnh lặng bắt đầu thể hiện.

Khi tĩnh lặng xuất hiện nó làm tăng hỉ-lạc. Chính độ sâu của hỉ-lạc lại tạo sự giảm bớt nổ lực và như thế tĩnh lặng phát triển mạnh hơn. Một vòng năng lượng tự hoàn nghịch được sinh ra. Tĩnh Lặng làm sâu đậm Hỉ-lạc. Hỉ-Lạc làm tăng trưởng Tĩnh Lặng. Chu trình này cứ tiếp tục nếu không bị làm gián đoạn. Suốt con đường đi đến Định Jhana, Tĩnh Lặng sâu lắng và Hỉ-Lạc ngất ngây.

Khi hơi thở biến mất

Khi hơi thở biến mất trước giai đoạn có hơi thở đẹp, thì đây là trường hợp của lười biếng, hôn trầm và kém tập trung. Ta phải quay lại các phương pháp căn bản, làm mạnh thêm sự tỉnh thức trong khoảnh khắc hiện tại và đặt nhiều năng lượng vào sự nhận biết.

Khi ta đang ở vào giai đoạn hơi thở đẹp, cảm thấy nhiều sung sướng và không cần mọi nổ lực để giữ chánh niệm trong một thời gian dài, tâm trí tĩnh lặng hơn, tri giác về hơi thở trở nên mờ nhạt. Chẳng bao lâu sau đó, ta không còn cảm nhận được một hơi thở vào, hoặc không biết đoạn đầu, đoạn giữa hay đoạn cuối của hơi thở. Lúc này ta chỉ cần cố nhận biết rằng dường như vẫn có một tri giác không thay đổi về hơi thở, một trải nghiệm duy nhất rất khó biến đổi từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác. Điều đang xảy ra là một vài đặc điểm bên ngoài của hơi thở chẳng hạn như lúc vào, ra, khởi đầu và kết thúc, đã bị thay đổi vượt quá mức bình thường (transcended). Tất cả cái ta thấy là “trái tim” của trải nghiệm hơi thở, vượt quá mọi nhãn mác bên ngoài.

Vì đối tượng thiền định ở đây là hơi thở rất đơn thuần, nên tĩnh lặng và hỉ-lạc có thể tăng trưởng rất mạnh. Cứ để chúng tăng trưởng mạnh. Đừng rơi vào cái bẫy của nghi ngờ, thắc mắc rằng trải nghiệm hơi thở quá mờ nhạt vậy ta phải quan sát cái gì. Đừng thắc mắc rằng  những cảm nhận sự thở vào thở ra, khởi đầu và kết thúc giờ đã biến mất. Điều này là do tự nó phải như thế. Đừng quấy rối diễn trình. Khi tĩnh lặng và hỉ-lạc lớn mạnh, hơi thở sẽ biến mất.

Hơi thở biến mất trong giai đoạn hơi thở đẹp và chỉ còn lại Cái đẹp. Ta không nhận biết gì trừ Cái đẹp và hỉ-lạc mà không có tri giác về hơi thở. Đây là một giai đoạn quan trọng khác diễn ra trong thiền. Nó là một bước gần hơn với Định Jhana.

Sự lắng dịu của các giác quan

Phật giáo luôn mô tả trải nghiệm qua sáu, không phải năm, giác quan. Đó là thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và tâm trí. Trong thiền hơi thở, ta làm lắng dịu bốn giác quan đầu tiên đến mức biến mất, chỉ bằng hơi thở. Hơi thở bây giờ được trải nghiệm qua xúc giác và tâm trí.

Khi thiền định tiến triển, xúc giác dần dần lắng dịu và giác quan tâm trí trở nên ưu thế hơn. Trong giai đoạn hơi thở đẹp, hơi thở được trải nghiệm chỉ một phần bởi xúc giác còn lại hầu hết là bởi tâm trí. Xúc giác góp một tri giác cho hơi thở. Tâm trí góp một tri giác cho cái đẹp. Khi hơi thở không còn, có nghĩa rằng ta đã thành công trong việc làm lắng dịu xúc giác đến mức biến mất. Năm giác quan cuối cùng được vượt qua. Chỉ còn tâm trí là giác quan sót lại. Và tâm trí tri giác trải nghiệm hơi thở như cái đẹp.

Thực ra, ta vẫn còn thở trong giai đoạn này, mặc dù rất nhẹ. Chính vào luc này ta trải nghiệm hơi thở bằng giác quan tâm trí chứ không bằng xúc giác. Vì trải nghiệm quen thuộc của hơi thở không còn nữa, ta có thể kết luận rằng hơi thở đã ngừng lại! Nhưng nó không ngưng lại. Đừng lo lắng. Ta không thể chết trong giai đoạn này của thiền định! Ta chỉ vừa trải nghiệm hơi thở trong một cách mới mẻ và tuyệt diệu. Ta trải nghiệm hơi thở chỉ bằng giác quan tâm trí, và tri giác nó như một niềm hỉ-lạc.

Cũng giống như khi nhìn một viên kim cương hiếm quí lộng lẫy. Thoạt tiên ta nhận biết hình dạng, kích thước và các bề mặt của nó. Nhưng có thể, sau một lúc, ta không tri giác kích thước, hình dạng của nó nữa. Ngay cả khái niệm về các mặt của viên kim cương cũng biến mất. Tất cả cái ta ghi nhớ, tất cả cái còn để lại cho ta, giờ chỉ là “ánh chiếu lấp lánh” và vẻ đẹp. Viên kim cương vẫn ở đó nhưng ta đã tri giác nó một cách mới mẻ và tuyệt diệu.

Hoặc giống như ví dụ so sánh mà tôi thường dùng về con mèo Cheshire của Alice trong xứ thần tiên, tác giả Lewis Carrol. Thoạt tiên, khuôn mặt con mèo Cheshire cười xuất hiện trên bầu trời xanh. Khi Alice và hoàng hậu Đỏ quan sát hình ảnh đó, đầu con mèo dần dần biến mất. Sau đó chỉ còn lại cái miệng với nụ cười dễ mến. Tiếp theo cái miệng cũng biến mất, nhưng nụ cười vẫn còn lại. Thân xác đã đi nhưng vẻ đẹp còn lại.

Đây là điều tại sao lại xẩy ra như thế, khi năm giác quan bên ngoài hoàn toàn biến mất và chỉ có giác quan tâm trí còn lại. Khi ta không quen với những đối tượng tâm trí thuần khiết, không có mối liên kết với bất cứ gì trong thế giới vật lý, ta dễ dàng trở nên lẫn lộn. Đức tin hay sự tin tưởng (saddha) rất cần nơi đây. Nếu tuệ giác, có bởi trải nghiệm, còn quá yếu, hãy dùng niềm tin để biết, rằng trong giai đoạn hơi thở đẹp, hơi thở biến mất chỉ để lại cảm giác về sự đẹp và lạc thú, rằng đó là đối tượng tâm trí thuần khiết mà ta trải nghiệm. Ở lại đây với niềm tin. Cẩn thận đừng để cái chướng ngại về nghi ngờ quấy nhiễu sự an bình sung sướng. Ta có thể hình dung trải nghiệm có nghĩa gì, sau buổi thiền định chứ không phải là ngay bây giờ. Như đã đề cập nhiều lần rồi, ta nên chờ đến vài phút cuối cùng của buổi thiền để xem xét lại các trải nghiệm có nhiều ý nghĩa.

III. TỔNG KẾT PHẦN MỘT

Chương này là một giới thiệu về định Jhana. Tôi đã đưa ra một lịch sử ngắn gọn về định Jhana và cũng đã khảo sát vài vấn đề thường được nêu lên về đề tài quan trọng này. Tôi đã quay lại lần nữa với Hơi Thở đẹp bởi vì nó là nơi bắt đầu của hành trình đi đến định Jhana. Tôi đã mở đầu về Hơi Thở đẹp bằng lời cổ vũ quan trọng: đừng sợ cảm giác sung sướng trong thiền định, vì cảm giác sung sướng chính là loại keo dán sự tập trung của tâm trí vào hơi thở.

Phần tiếp theo sẽ dẫn chúng ta vào con đường đi đến các định sâu. Bây giờ ta quay về với cuộc thảo luận về Nimitta, giai đoạn cuối để nhập vào Định Jhana

Phần II

I. NIMITTA: Giai đoạn cuối trong quá trình nhập định

Khi hơi thở biến mất và hoan lạc (delight) ngập tràn tâm trí, Nimitta luôn luôn xuất hiện.

Nimitta, trong nội dung thảo luận tại đây, ám chỉ những ánh sáng đẹp xuất hiện trong Tâm trí (Mind). Vì thế tôi muốn nói, rằng Nimittas không phải là những đối tượng được nhìn thấy, có nghĩa là chúng không được nhìn thấy bằng thị giác. Ở giai đoạn này của Thiền, thị giác không hoạt động. Các Nimittas đơn thuần chỉ là các đối tượng của tâm trí, được nhận biết bởi tâm trí. Tuy nhiên, chúng thường được nhận thức (perceived) như là những ánh sáng.

Cái đang xảy ra tại đây là Tri giác (Perception) cố gắng thông dịch một hiện tượng thuần túy thuộc về tâm trí. Tri giác hoạt động chủ yếu dựa trên sự so sánh, diễn đạt cái trải nghiệm trong cùng một phạm trù với những trải nghiệm tương tự trước đây. Tuy nhiên đối với những hiện tượng tâm trí thuần túy, cái mà tri giác hiếm nhận biết được, thì tri giác rất khó khăn tìm được những gì có thể so sánh với những trải nghiệm rất mới này. Điều này lí giải tại sao Nimitta xuất hiện rất lạ lùng, không giống như bất cứ cái gì ta từng trải nghiệm trước đây. Tuy nhiên những loại hiện tượng, trong các loại trải nghiệm trước đây của ta, được coi là giống nhất so với các Nimitta, chính là ánh sáng thị giác, như ánh sáng của đèn xe trong bóng đêm, hoặc tia sáng đèn pin trong bóng tối, hoặc ánh trăng rằm trên bầu trời đêm. Chính vì thế Tri Giác của ta dùng những trải nghiệm gần nhất này, dù không hoàn toàn giống, để so sánh và diễn đạt lại Nimitta như là các loại ánh sáng.

Thực là thú vị khi khám phá ra rằng tất cả những người từng trải nghiệm các loại Nimittas này đã có những trải nghiệm hoàn toàn giống nhau! Tất cả những người hành thiền chỉ mô tả cùng một trải nghiệm bằng nhiều cách khác nhau. Một số người thấy trong tâm trí mình Nimitta có màu ánh sáng trắng tinh khiết, có người thấy nó màu vàng, có người lại thấy nó có màu xanh dương đậm. Có người thấy nó như một vòng tròn, có người thấy nó có hình chữ nhật, có người thấy nó có rìa cạnh rất nét, nhưng có người lại thấy nó có bờ mờ nhạt. Thực ra chẳng có giới hạn nào gọi là cho đủ khi nói về hình ảnh Nimitta mà các người hành thiền đã từng mô tả. Điều quan trọng nhất phải hiểu là màu sắc, hình dạng và mọi thứ v.v…đều chẳng có gì quan trọng. Bởi vì chính Tri giác của mỗi chúng ta đã tự tô màu và tạo dáng cho Nimitta để chúng ta có thể hình dung được nó.

Khi Nimitta đến quá sớm

Đôi khi, tâm trí có thể cảm nhận “ánh sáng” trong giai đoạn rất sớm của quá trình hành thiền. Trừ trường hợp những người đã thành tựu Thiền Định, còn thì tất cả đều nhận thấy loại ánh sáng “xâm nhập” đó rất không ổn định. Nếu tập trung sự chú ý vào chúng, ta sẽ chẳng đi tới đâu. Đây chưa phải lúc của Nimitta. Ta phải coi chúng như nguyên nhân gây xao nhãng việc tập trung và phải quay lại với bài thực tập chính của giai đoạn đầu hành thiền.

- Nguyên tắc đầu tiên: hãy cố quên Nimitta.

Chúng ta luôn lúng túng khi Nimitta xuất hiện vào lúc hơi thở trở nên “đẹp”, nghĩa là lúc hơi thở đã an tĩnh nhẹ nhàng và sắp tan biến mất. Lần nữa Nimitta xuất hiện như một kẻ xâm nhập, nó làm ảnh hưởng đến công việc chính của ta là giữ sự chú ý trên hơi thở “đẹp”. Nếu ta rời bỏ hơi thở để quay sang Nimitta, thì Nimitta sẽ không tồn tại bao lâu. Tâm trí ta chưa đủ tinh khiết để duy trì một Nimitta chập chờn không bền vững. Ta phải thực hành tập trung vào hơi thở nhiều hơn nữa. Vì thế điều cần nhất phải làm là quên Nimitta để luôn tập trung vào sự rèn luyện Hơi thở đẹp.

Nếu thường xuyên tuân theo lời khuyên này, Nimitta sẽ trở lại, mạnh hơn và sáng hơn.

Rồi ta lại làm ngơ nó. Khi nó quay lại lần thứ ba, càng mạnh và chói sáng hơn, thì ta cũng vẫn chỉ bám lấy hơi thở. Thực hành như vậy cho đến khi xuất hiện một Nimitta thật lớn, thật mạnh và chói lòa. Đến đây là lúc ta sử dụng loại Nimitta này. Thực ra vào lúc này ta không có khả năng để làm ngơ nó được. Loại Nimitta này luôn luôn dẫn đến Định Jhana

Phương cách trên giống như trường hợp một người khách gõ cửa nhà bạn. Có thể đó là một nhân viên tiếp thị không quan trọng, nên bạn sẽ làm ngơ và tiếp tục công việc của mình. Thường câu chuyện chỉ có đến vậy. Nhưng thỉnh thoảng lại có trường hợp tiếng gõ cửa tiếp tục lớn hơn và dài hơn. Bạn lại làm ngơ lần thứ hai và tiếp tục công việc của mình. Tiếng gõ cửa lại lớn hơn và mạnh hơn. Điều này chứng tỏ đây phải là một bạn thân, bạn bước ra mở cửa mời vào và cà hai cùng tương phùng vui vẻ.

- Hòa Nimitta vào trong hơi thở.

Một cách khác để đối phó với loại Nimitta sớm, khi vừa có hơi thở đẹp là ta phối hợp Nimitta đó vào giữa hơi thở. Ta phải cố hình dung sao cho tình huống giống như một hạt ngọc nằm giữa các cánh hoa sen. Hạt ngọc Nimitta chiếu sáng nằm giữa các cánh hoa là hơi thở đẹp. Nếu tâm trí ta không duy trì được Nimitta, thì ít ra ta vẫn còn giữ được hơi thở cột buộc ngay ở đó.

Đôi khi, tâm trí không đủ chuẩn bị nên khi hơi thở ta vừa đến gần Nimitta thì Nimitta biến mất chỉ còn lại hơi thở đẹp. Nhưng điều vụng về này không làm ảnh hưởng việc tiếp tục thiền. Đôi khi tâm trí đã hoàn chỉnh cho trạng thái Nimitta, Nimitta trở nên mạnh, bành trướng, đẩy hơi thở biến mất khỏi sự nhận biết của ta, để chỉ còn lại Nimitta. Phương pháp này phải thật khéo vì không dễ di chuyển tâm trí từ đối tượng này sang đối tượng khác. Sự dời chuyển như thế rất vụng về và rất làm xáo trộn tiến trình thiền. Thay vì như thế, ta phải quan sát một cách thụ động sự chuyển dịch từ Hơi thở đẹp đến Nimitta, hoặc có thể là ngược lại như thế. Hãy để diễn trình tự tiến triển hay thoái lui tùy theo bản chất tự nhiên chứ không phải theo ước muốn riêng của ta.

- Đối với riêng người hành thiền đã thành tựu.

Lời khuyên sau đây chỉ dành cho người đã đắc thiền, nghĩa là người đã có trải nghiệm đầy đủ Định Jhana, với mục đích giúp cho sự hoàn thiện. Khi một người đã đủ năng lực khéo léo trong việc nhập vào thiền định và đã trải nghiệm được trạng thái định trong một thời gian gần đây, thì tâm trí vị ấy rất yên và rất mạnh, ngay cả trước khi thiền. Khi thiền thì vị ấy có thể vượt bỏ qua nhiều giai đoạn. Thường thì vị đó có khả năng làm xuất hiện Nimitta ngay khi bắt đầu vào thiền. Tâm trí đã quá quen thuộc với Nimitta và chuẩn bị hoàn hảo để hướng về Nimitta, nói đúng ra là nhảy vào Nimitta và Nimitta đó luôn ổn định rất nhanh sau khi đạt được. Trong trường hợp hành giả đã từng nhập Định thành công thì việc có Nimitta nhanh chừng nào tốt chừng đó.

Khi Nimitta không xuất hiện

Đối với một số người, lúc hơi thở biến mất, Nimitta không xuất hiện. Không có ánh sáng xuất hiện trong tâm trí. Thay vào đó họ chỉ có một cảm giác an bình (peace), hư không và ngoài ra không có gì cả. Đây là tình trạng rất có lợi không thể xem thường, nhưng đây không phải là Định Jhanna. Hơn nữa trường hợp này không có lực lượng để tiến xa hơn nữa. Nó là một ngõ cụt và là một trạng thái tinh khiết nhưng không thể phát triển xa hơn. Có một số phương pháp để vượt qua trạng thái này, tạo ra Nimitta và đi sâu hơn vào Định.

- Thu thập đầy đủ HỈ (Piti) và LẠC (Sukha).

Sở dĩ có tình trạng không thấy Nimitta vì ta chưa thu thập đầy đủ Hỉ Lạc song song với hơi thở. Không có đủ hoan lạc (delight) khi hơi thở biến mất, vì thế Chánh niệm không có đối tượng (thuôc tâm trí) về cái đẹp để nương vào. Hiểu biết điều này ta cần phải nhấn mạnh giá trị của việc phát triển cảm giác hoan lạc, khi theo dõi hơi thở và thu thập sự hoan lạc như một cảm thọ mạnh mẽ về cái đẹp. Ví dụ ta có thể xem hơi thở như thông điệp mang đến cho ta oxygen, như sự sống được ban tặng từ cây cỏ hoa lá. Hơi thở nối liền sinh lực của ta với tất cả thế giới cỏ cây, tương tác lẫn nhau với mạch đập của khí trời. Có thể vận dụng bất cứ các phương tiện khéo léo để chăm chú vào cái đẹp của hơi thở, cái đẹp sẽ nở hoa. Lúc đó cái mà ta đặt sự chú tâm vào sẽ luôn luôn xuất hiện.

Trong chương trước, bạn được nhắc nhở không nên sợ hãi sự thọ lạc trong thiền định. Tôi cho sự nhấn mạnh này là thật quan trọng, đáng để phải nhắc lại từng chữ một.

Không được sợ hãi cảm giác hoan lạc (delight) trong Thiền Định. Rất nhiều người hành thiền xua đuổi sự hạnh phúc (Happiness), nghĩ rằng nó không quan trọng hay thậm chí là xấu xa, hoặc nghĩ rằng mình không đáng với hoan lạc như thế. Cảm giác sung sướng trong thiền rất quan trọng! Hơn thế nữa bạn xứng đáng để cực khoái (bliss-out). Cực khoái trên đối tượng thiền  là phần thiết yếu của diễn trình nhập thiền. Vì thế khi hoan lạc khởi lên bên cạnh hơi thở, ta phải ca ngợi nó như một tài sản giá trị và phải giữ gìn nó một cách thích hợp.

- Dồn năng lượng vào Cái Biết (Knowing)

Một lí do nữa để Nimitta không xuất hiện là ta không dồn đủ năng lượng vào cái biết. Như đã giải thích trong chương trước, trong phần có đề tựa “Điều gì đây-nếu Hỉ -Lạc không xuất hiện”, hoan lạc được sinh ra bằng cách dồn nhiều năng lượng vào Cái biết.

Hầu hết năng lượng tâm trí của chúng ta bị mất trong khi hoạt động, như là trong khi tính toán kế hoạch, hồi ức, kiểm soát và suy nghĩ. Nếu ta có thể gom lấy tất cả năng lượng của hoạt động trí não rồi dồn hết chúng cho sự hiểu biết, sự chăm chú, thì ta sẽ thấy tâm trí ta bừng sáng và đầy ắp năng lượng cùng với sự hoan lạc. Khi có nhiều hoan lạc, khi hỉ-lạc mạnh mẽ, khi hơi thở biến mất, Nimitta xuất hiện. Vì thế có lẽ lí do mà Nimitta không xuất hiện là vì ta phí phạm quá nhiều năng lực trong việc kiểm soát tâm trí và đã không cung cấp đầy đủ năng lượng cho Cái biết.

- Coi chừng sự bất mãn.

Nếu hơi thở đã biến mất nhưng Nimitta không xuất hiện thì ta phải cẩn thận để không rơi vào tình trạng bất mãn. Sự không hài lòng sẽ làm khô héo tất cả Hỉ -Lạc sẵn có tại đây, và sẽ đẩy tâm trí vào trạng thái bất an. Sự bất mãn sẽ làm Nimitta càng khó xuất hiện. Vậy ta phải nhẫn nại tìm phương pháp đối trị bằng cách nhận biết ra sự hài lòng để tự hợp nhất. Chỉ bằng cách chú ý đến cảm giác hài lòng mới làm nó sâu đậm hơn. Khi sự toại ý, mãn nguyện lớn mạnh lên, cảm giác hoan lạc khởi phát. Khi sức hoan lạc mạnh hơn, Nimitta xuất hiện.

- Tập trung sắc bén vào khoảng khắc hiện tại.

Một phương pháp hữu dụng nữa để làm sinh khởi Nimitta lúc hơi thở đã biến mất là tập trung thật mạnh vào khoảnh khắc hiện tại! Nhận biết khoảng khắc hiện tại là giai đoạn đầu của phương pháp Thiền này. Nhưng trong thực hành, khi thiền tiến triển và ta chú tâm vào những đối tượng khác, sự nhận biết khoảnh khắc hiện tại có thể trở nên một chút xao nhãng. Có thể là chánh niệm của ta trở nên “lờ mờ” quanh khoảnh khắc hiện tại thay vì tập trung chính xác vào đó. Bằng cách nhận ra vấn đề ở chỗ này, ta rất dễ dàng điều chỉnh tập trung lưỡi bén của chánh niệm vào trung tâm của khoảnh khắc hiện tại. Giống như điều chỉnh máy chụp hình, làm một hình mờ nét trở nên rõ nét. Khi sự tập trung được hội tụ một cách bén nhọn vào khoảnh khắc hiện tại, nó sẽ có sức mạnh hơn. Hỉ-Lạc đi cùng với sức mạnh tập trung và chẳng bao lâu theo sau đó là sự xuất hiện Nimitta.

Nimitta thích hợp và Nimitta vô dụng.

Thu hoạch Nimitta dưới dạng Ánh sáng mang đến nhiều ích lợi. Nimitta dạng ánh sáng là phương tiện chuyển vận cho nghười hành thiền nhập vào Định. Tuy vậy cũng có, tuy rất hiếm, khả năng nhập định bằng “Nimitta dạng cảm xúc” (feeling nimitta). Điều này, có nghĩa là một người không thấy có ánh sáng trong tâm trí mà thay vào đó là trải nghiệm một cảm giác phúc lạc (bliss) trong tâm trí.  Ghi nhận quan trọng ở đây là cảm giác phúc lạc đã vượt qua mức độ xúc-giác để hoàn toàn cảm nhận trong tâm trí. Đó là một đối tượng hoàn toàn thuộc về tâm trí nhưng lại được tri giác rất giống như một phúc lạc thuộc về xác thân. Cái này gọi là Nimitta “tin cậy” (Bone-fida). Nhưng thật sự thì rất khó cho ta hành thiền với loại Nimitta như thế để đạt tới Định, và hầu như là không thể. Bởi vì lí do này, ta nên phải cố tìm được Nimitta ánh sáng nếu muốn nhập vào Định.

Có một vài loại Nimittas nhìn thấy nhưng không có ích trên tiến trình nhập Định. Cần phải hiểu rõ các loại Nimitta này để ta không phí thời gian với chúng.

- Các cảnh tượng thị giác

Đôi khi toàn bộ cảnh hiển thị rõ ràng trong tâm trí. Có thể là phong cảnh, các tòa nhà và con người. Chúng xuất hiện rất quen hay rất lạ. Thường thì ta rất thích các cảnh tượng như thế, nhưng chúng rất ít có giá trị gì. Hơn nữa chúng vô nghĩa và chắc chắn ta không thể có được khải thị về chân lý nào từ chúng! Kinh nghiệm cho biết rằng những cảnh tượng xuất hiện vào giai đoạn này luôn lừa dối và hoàn toàn vô giá trị. Nếu bạn muốn phí thời gian, bạn có thể đeo bám với chúng một chút. Nhưng lời khuyên là phải bỏ kiểu tiêu khiển đó, quay trở lại với Hơi Thở đẹp. Phức hợp Nimittas như vừa nói (các cảnh tượng) chỉ là  phản chiếu của một tâm thức quá hỗn mang. Tâm trí phải được bình ổn thành trạng thái giản dị đơn thuần trước khi bạn rời bỏ sự theo dõi hơi thở. Khi ta duy trì được sự tập trung vào hơi thở đẹp, trong một thời gian dài không gián đoạn, tức là khi ta đang rèn luyện sự đơn thuần của tâm trí. Khi hơi thở nhẹ dần và biến mất, một Nimitta đơn thuần khởi hiện, và Nimitta này thích hợp cho sự tiến bộ của thiền định.

- Nimitta “pháo bông”

Loại Nimitta này đơn giản hơn, nhưng vẫn còn khá phức tạp, có thể gọi đó là Nimitta “pháo bông”. Như cái tên gọi, nó gồm nhiều chùm sáng vụt đến rồi đi, không kéo dài lắm, nhưng có nhiều chuyển động. Có thể có nhiều chùm tia nổ vào cùng một lúc, có thể có nhiều màu. Nimitta “pháo bông” là dấu hiệu của tâm trí quá phức tạp, không ổn định. Nếu bạn muốn, bạn có thể thưởng thức màn trình diễn một lúc, nhưng đừng quá phí thời gian tại đây. Ta nên quên đi cảnh tưng bừng của Nimitta ‘pháo bông”, quay về với hơi thở, phát triển sự an bình và nhất tâm.

- Nimitta “e thẹn”

Kiểu Nimitta này là Nimitta “e thẹn”. Chỉ có một chùm sáng tinh khiết lóe lên nhanh chóng rồi biến mất. Sau một lúc nó lóe lại lần nữa. Mỗi lần nó kéo dài chỉ một hai giây. Loại Nimita như thế này rất đáng khích lệ. Nó chỉ đơn thuần báo rằng tâm trí ta đã gom lại một điểm. Sức mạnh của nó là dấu hiệu của hỉ lạc đã mạnh. Nhưng nó không có khả năng duy trì sau khi đã xuất hiện trong tâm trí của ta. Điều đó chứng tỏ rằng mức độ an tĩnh chưa đủ. Trong tình huống như vậy, ta không cần quay về với hơi thở. Thay vào đó ta phải nhẫn nại chờ, phát triển thêm trạng thái an tĩnh (calm), để cho tâm trí trở nên dễ cảm thụ với loại Nimitta “e thẹn” đó. Sẽ giải thích thêm nhiều về sau, loại Nimitta này biến mất bởi vì tâm trí có phản ứng thái quá mỗi lần nó xuất hiện hoặc do quá phấn khởi hoặc do quá sợ hãi. Bằng cách tạo an tĩnh vững chải và tạo sự tự tin để không phản ứng gì cả, Nimitta “e thẹn” sẽ trở lại và ở lại lâu hơn. Chẳng bao lâu, Nimitta loại đó sẽ mất tính e thẹn, được chấp nhận tồn tại trong sự an tĩnh của tâm trí, và duy trì lâu hơn. Ta phải thực hiện theo kế hoạch này trước, nhưng nếu Nimitta cứ tiếp tục e thẹn mà lại không có dấu chỉ dẫn rằng nó sẽ tồn tại lâu hơn, thì ta nên quên nó đi để quay lại với hơi thở đẹp. Khi ta tạo được một tâm trí yên tĩnh hơn với hơi thở đẹp, ta có thể quay lại Nimitta “e thẹn” để xem nó có tự xuất hiện lần nữa không.

- Nimitta “chấm sáng”

Một kiểu Nimitta khác là Nimitta “chấm sáng”. Đó là một chấm ánh sáng, đơn giản, mạnh, nhưng rất nhỏ, tồn tại nhiều giây đồng hồ. Nimitta này có thể rất hữu dụng. Nó báo hiệu đã có định nhất tâm (one-pointedness), an tĩnh đầy đủ, nhưng hỉ-lạc còn thiếu. Tất cả điều cần làm là nhìn nhẹ nhàng vào cái nimitta chấm sáng này. Khi sự nhận biết của ta đến gần Nimitta này, kích thước của nó tăng lên. Nếu nó chỉ hơi lớn ra một chút, ta nên hướng sự tập trung vào vùng trung tâm của Nimitta chấm sáng, nhớ không phải là vào vùng cạnh rìa hay ngoài rìa. Giữ tâm trí thật tập trung vào trung tâm của Nimitta chấm sáng, nó sẽ gia tăng sức mạnh, phát triển hỉ-lạc. Không lâu sau đó, Nimitta chấm sáng loại này sẽ mở ra thành loại Nimitta tốt hơn tất cả các loại khác.

- Nimitta tốt nhất

Nimitta tốt nhất trong tất cả, có nghĩa là Nimitta hữu dụng nhất cho việc nhập định, bắt đầu bằng trạng thái giống như vầng trăng tròn ngày rằm giữa bầu trời không mây. Nó mọc ra từ từ khi hơi thở yếu nhỏ dần và biến mất. Cũng phải cần đến ba hay bốn giây để nó hình thành và ổn định. Nó yên tĩnh và rất đẹp đối với con mắt của tâm trí. Khi nó hiện diện mà không cần vận dụng đến bất cứ nổ lực nào thì nó trở nên sáng hơn, trong hơn. Chẳng bao lâu nó trở nên sáng hơn mặt trời giữa trưa, chiếu rọi an lạc. Hơn thế nữa, nó trở thành vật đẹp nhất mà ta từng thấy. Vẻ đẹp và lực lượng của nó thường vượt quá sức chịu đựng của ta. Ta phân vân sao mình có thể cảm nhận nhiều an lạc từ một lực lượng quá mức đến như vậy. Nhưng ta thực sự đã có thể cảm nhận rồi. Ta có thể cảm nhận an lạc ở bất kì giới hạn nào. Nimitta nổ bùng và nhận chìm ta vào nhiều an lạc hơn nữa hoặc là trạng thái giống như ta lặn sâu vào trung tâm của vùng cực khoái đang phát xạ. Nếu ta trụ tâm ở đây: Đó là Định Jhana.

Cách làm cho Nimitta sáng lên

Trực giác sâu xa cho ta biết rằng Nimitta thực sự là hình ảnh của một Tâm Trí. Giống như ta thấy mặt ta khi nhìn vào gương, ta nhìn thấy hình ảnh của Tâm trí ta trong vắng lặng của trạng thái Thiền. Nimitta là một hình ảnh phản ánh của tâm Trí.

Sự quan trọng của Đức hạnh

Khi Nimitta xuất hiện mờ nhạt hoặc thậm chí giống như dơ bẩn, điều đó có nghĩa là tâm ta đang mờ và đang bẩn. Hiện tượng này luôn do ta vừa mới đánh mất đức hạnh ví dụ như một cơn giận hay tính vị kỉ. Ở giai đoạn này của Thiền ta đang nhìn trực tiếp vào tâm ta vì thế ta không có cách nào để dối lừa chính ta được. ta luôn nhìn tâm trí như nó thực sự là. Nếu một Nimitta xuất hiện mờ đục và không hoàn chỉnh, ta phải thanh tẩy các hành vi trong đời sống hàng ngày. Ta phải thực hiện các giới về đạo đức, chỉ nói về những điều tốt lành, cống hiến không vị kỉ. Trong giai đoạn này của thiền, lúc Nimtta xuất hiện, thì Đức Hạnh là một yếu tố cần thiết cho sự hành thiền thành công.

Qua nhiều năm dạy những khóa thiền, tôi nhận ra rằng thiền sinh có tiến bộ sớm nhất và ấn tượng nhất đó là những người vui vẻ dễ thương, bản chất không phương hại ai, đó là những người ăn nói nhẹ nhàng, lịch sự và hạnh phúc. Kiểu cách sống đẹp như vậy giúp cho họ có một tâm trí đẹp. và một tâm trí đẹp lại củng cố một kiểu sống đức hạnh. Khi các người như vậy đạt đến giai đoạn thiền này, tâm trí của họ sẽ xuất hiện hình ảnh của Nimitta. Nó rất sáng chói và tinh khiết và dẫn họ nhập vào Định rất dễ dàng. Điều này chỉ ra rằng, không thể nào một người sống đời phóng túng và ích kỉ, lại có thể thành công dễ dàng trong thiền định. Trái lại cần phải giữ các đức hạnh, phát triển tâm từ để chuẩn bị việc hành thiền.

Biện pháp tốt nhất để làm sáng một Nimitta mờ đục vấy bẩn, là ta phải thanh tẩy các hành vi thật tinh khiết ngoài lúc hành thiền.

Tập trung vào trung tâm cái đẹp

Như trên đã nói, nếu đời sống ta không quá vô đạo đức, ta có thể làm sáng một Nimitta trong lúc hành thiền. Đó là bằng cách tập trung chú ý vào trung tâm của Nimitta. Các phần khác của Nimitta có thể mờ, nhưng ngay chính trung tâm của Nimitta luôn luôn là chỗ sáng nhất và tinh khiết nhất. Trong một Nimitta cứng ngắc và không thể hoạt động, vẫn có một trung tâm “mềm”. Nếu ta tập trung chú ý vào phần trung tâm, nó sẽ nở ra như một cái bong bóng để hình thành một Nimitta thứ hai, tinh khiết hơn và sáng hơn. Nếu ta lại nhìn vào chính trung tâm của Nimitta thứ hai, tức điểm sáng nhất của nó, thì nó lại biến thành Nimitta thứ ba tinh khiết hơn và sáng hơn. Bằng cách nhìn chăm chăm vào vùng trung tâm ta sẽ làm cho Nimitta sáng hơn. Cứ tiếp tục cách này cho đến khi Nimitta trở nên sáng đẹp rực rỡ.

Trong cuộc đời, nếu ta có loại tâm trí kiểu “vạch lá tìm sâu”, luôn ám ảnh với việc thấy cái này sai, cái kia lỗi, thì ta sẽ thấy rằng mình không thể nào tập trung và nhìn thấy cái đẹp giữa trung tâm của một nimitta mờ đục. Sỡ dĩ thế, vì ta đã bị quen với kiểu phản xạ chỉ nhìn thấy cái bất toàn. Phản xạ này trái ngược với sự cần thiết phải bỏ qua các bất toàn của Nimitta mà chỉ chăm chú tập trung vào cái trung tâm sáng đẹp của nó. Điều này lần nữa lại chỉ ra rằng, một thái độ không đúng trong cuộc đời có thể làm ngưng tiến triển đi sâu vào định. Nếu ta biết cách tha thứ hơn đối với cuộc đời, biết cách chấp nhận cả hai mặt thiện-ác, đừng quá thụ động ám ảnh, mà cũng đừng quá thái quá chủ động, chỉ giữ quân bình thái độ chấp nhận- như thế ta sẽ không chỉ nhìn thấy cái đẹp của lỗi lầm mà còn có khả năng nhìn thấy cả cái đẹp chính giữa tâm một Nimitta mờ đục.

Có một Nimitta chói sáng là điều thiết yếu giúp ta đi sâu vào Định. Một Nimitta bẩn không rõ nét giống như một cái xe cũ kĩ sẽ dễ hư hỏng trên hành trình. Một Nimitta mờ, nếu không được làm sáng, luôn biến mất sau một thời gian. Vì vậy nếu ta không đủ khả năng để làm sáng Nimitta thì nên quay lại tập hơi thở đẹp, tích lũy thêm năng lượng cho cái gọi là “Mỹ”, tạo nhiều hỉ lạc hơn cùng với hơi thở. Chờ đợi một lần nữa, khi hơi thở biến đi, Nimitta lại xuất hiện. Lần này có lẽ nó sẽ không mờ xỉn mà đẹp hơn, sáng hơn. Chúng ta đã làm sáng Nimitta trong giai đoạn hơi thở đẹp.

Cách làm Nimitta ổn định

Khi Nimitta đã thật sáng chói, nó cũng đẹp vô ngần. Nó mang tính huyền ảo trong tận chiều sâu của cái đẹp và rõ ràng đẹp hơn tất cả mọi thứ gì mà ta từng trải nghiệm. Nimitta, với bất cứ với màu gì, thì màu đó cũng ngàn lần rực rỡ hơn những màu mà ta thấy bằng mắt trần. Cái đẹp choáng váng đó sẽ bắt ta chú ý và điều đó cũng khiến Nimitta tồn tại. Càng đẹp, Nimitta càng bền vững và không nhảy đi mất. Một trong những phương pháp tốt nhất để ổn định Nimitta, giúp nó kéo dài thời gian xuất hiện là làm cho nó trở thành rực sáng như đã mô tả ở trên.

Tuy nhiên, vẫn có trường hợp các Nimitta sáng không tồn tại lâu. Chúng nổ tung trong tâm tưởng với đầy ắp hỉ lạc. Chúng tồn tại ngắn ngủi như ngôi sao băng sáng chói giữa bầu trời đêm. Những Nimitta này có lực lượng nhưng thiếu sức bền.

Để duy trì loại Nimitta như thế, điều quan trọng phải biết là có hai kẻ thù đã làm biến mất nimitta là Sợ hãi và Khích động.

- Sợ hãi

Trong hai kẻ thù, sợ hãi là cái thường gặp nhất. Những Nimitta này có năng lực và vẻ đẹp dị kì khiến ta trở nên rất sợ hãi. Sợ hãi là phản xạ tự nhiên khi ta nhận ra cái gì đó có sức mạnh vượt quá hơn mình. Hơn nữa trải nghiệm quá lạ lùng khiến ta có cảm giác sự an toàn bị đe dọa. Dường như lúc đó ta mất hoàn toàn tự chủ. Đúng ra lúc đó, ta phải buông bỏ cái “Ngã” trong an lạc, nếu có thể, cùng lúc đặt sự tin cậy vào Nimitta. Kẻ nào trải nghiệm mong muốn được khống chế toàn diện bởi an lạc siêu thế, thì tất cả những gì thuộc về bản ngã của hắn sẽ tan biến hết, chỉ còn để lại một cảm giác tự do tuyệt đối. Nỗi sợ phải mất đi một phần bãn ngã là nguyên nhân phải cảnh giác khi có một Nimitta xuất hiện quá mạnh.

Đối với người từng hiểu đôi chút về giáo pháp Vô Ngã (Anatta) của Đức Phật, rằng thực sự ta chẳng có Tự ngã (Self), thì người đó sẽ nhanh chóng làm thăng hoa sự sợ hãi để chấp nhận Nimitta. Họ nhận ra rằng họ chẳng có gì để mà bảo vệ vì thế buông xả sự kiểm soát, đặt tin cậy vào hư không, thưởng thức cái đẹp và sức mạnh một cách vô ngã. Nhờ vậy Nimitta ổn định. Ngay cả một người hiểu biết cũng thấy rằng chẳng có ai tại đây để giúp ta khống chế nỗi sợ hãi khi phải mất đi sự tự chủ sâu xa nhất bên trong. Tuy nhiên với ai chưa đủ hiểu biết về sự thực của vô ngã cũng có thể tạm khống chế nỗi sợ hãi bằng cách thay thế nó bằng cảm nhận an lạc giống như trường hợp khi một đứa trẻ xuống bể bơi.

Khi một đứa trẻ, mới chỉ vừa học cách tự tin đứng trên đất khô, lần đầu thấy một hồ bơi, chúng luôn hầu như sợ hãi. Môi trường không quen thuộc đe dọa sự an toàn của nó, chúng rất lo lắng làm thế nào mà cơ thể nhỏ bé của chúng có thể xử lí được trong chất liệu không rắn như thế. Chúng sợ hãi sẽ mất tự chủ. Chúng nhúng một ngón chân vào nước rồi nhanh chóng rút lên. Ổn rồi. Chúng tiếp tục nhúng ba ngón chân vào nước lâu hơn một chút. Cũng vẫn ổn. kế đến chúng nhúng cả bàn chân rồi hết cả cả chân vào. Khi sự tự tin tăng lên và có vẻ hồ bơi hứa hẹn nhiều vui thú, cái mong muốn vui thú trở nên mạnh hơn nỗi sợ. Đứa trẻ nhảy xuống nước và dầm hết cơ thể vào nước. Lúc đó là thời gian vui thú mà chẳng có bậc cha mẹ nào có thể bắt chúng phải rời đi.

Tương tự như vậy khi sợ hãi phát sinh với Nimitta quá mạnh. Điều cần làm là ở nguyên tại đó trong chốc lát. Điều này giống như đứa trẻ nhúng thử một ngón chân vào nước rồi rút ra liền. Lúc đó ta phải suy nghĩ trạng thái đó như thế nào? Nói nó tuyệt vời chắc là không đúng rồi! vậy lần nữa ta sẽ có can đảm trụ lâu hơn hơn nhờ vào trải nghiệm trước đó. Điều này giống như nhúng ba ngón chân vào nước, xong rồi nhúng cả bàn chân. Cuối cùng ta sẽ thấy mình trụ lâu hơn vơi loại nimitta mạnh này, giống như nhúng cả cẳng chân vào nước, và cảm thấy khá hơn. Bằng phương pháp này, tự tin vững mạnh hơn và nỗi mong chờ đến với vui thú chiếm ưu thế, ngay lúc đó ngay khi có Nimitta mạnh đẹp xuất hiện, ta nhảy vào, đắm mình hoàn toàn trong nó. Hơn thế nữa, ta có thời gian vui thú mà người khác thật khó khăn lắm mới kéo nổi ta ra.

Một biện pháp khéo léo nữa để khắc phục nỗi sợ hãi trong giai đoạn này, đặc biệt khi quá sợ, là thực hiện một chút nghi thức tâm trí để mang lại sự tin cậy. Giả dụ như ta là người cầm lái chuyến xe thiền định cho đến phút giây này, bây giờ là lúc phải trao hoàn toàn sự điều khiển cho Nimitta. Ta có thể tưởng tượng như đang trao chùm chìa khóa cho cái Nimitta mạnh mẽ này, giống như trao tay lái chiếc xe cho người bạn tin cậy. Với động tác tưởng tượng trao chìa khóa, ta trao đi sự tự chủ. Ta trao hết quyền điều khiển và tự chủ và đặt hoàn toàn tin tưởng vào Nimitta. Sự chuyển giao niềm tin từ một người đến Nimitta luôn luôn dẫn đến sự duy trì và ổn định của Nimitta một cách chắc chắn.

Thực ra, đó là ta mang niềm tin khỏi chính ta và đặt niềm tin ấy vào sự hiểu biết. Đây là sự thực ẩn dưới con đường thiền định. Ngay từ lúc bắt đầu, ta phải tự rèn luyện cách nhận biết thụ động, có nghĩa là khả năng nhận biết mà không can thiệp gì cả vào đối tượng mà ta nhận biết. Năng lượng, cùng với niềm tin, đi vào chánh niệm, thoát khỏi hành động. Một khi ta học được cách quan sát nhẹ nhàng  một đối tượng thông thường như hơi thở, mà không can thiệp bất cứ gì vào, thì ta có thể biết cách nhận thức thụ động đối với một đối tượng hấp dẫn hơn ví dụ như là loại hơi thở đẹp. Nếu ta vượt qua thử thách này thì Nimitta, đối tượng thách thức khó nhất, sẽ được xem là trắc nghiệm cao nhất về khả năng nhận thức thụ động. Mỗi khi ta đối diện với nimitta, dù chỉ với một chút xíu kềm chế, ta sẽ lại rớt kì thi chung kết, phải quay lại thực tập lần nữa về hơi thở đẹp để sửa chữa. Càng thiền ta càng học cách giữ chánh niệm mạnh mẽ trong việc buông xả. Khi kĩ năng này hoàn thiện ta sẽ dễ dàng vượt qua kì thi chung kết về cách duy trì sự ổn định Nimitta bằng nhận thức tụ động toàn hảo.

Ví dụ về cái gương có thể dùng tại đây. Khi ta nhìn khuôn mặt phản chiếu của ta rồi thấy hình ảnh này di chuyển tới lui, thật vô ích nếu lúc này cố giữ ổn định hình ảnh bằng cách giữ chặt cái gương! Nếu bạn cố gắng giữ, hình ảnh phản chiếu càng chuyển động hơn nữa. Hình ảnh trong gương di chuyển bởi vì người soi gương di chuyển. Cái gương không di động nên không cần phải giữ chặt. Lỗi lầm tại phía Người biết (knower).

Nimitta trong thực tế là phản ảnh của tâm trí, một hình ảnh đang được nhận biết. Khi hình ảnh phản chiếu này, tức cái nimitta, di động tới lui, thì hoàn toàn vô ích nếu ta duy trì ổn định Nimitta bằng cách giữ chặt nó! Nếu cố gắng thực hiện điều này Nimitta càng di chuyển hơn nữa. Nimitta di chuyển vì cái người nhìn Nimitta đang động. Hiểu được điều này ta sẽ thôi không tác ý, giữ chặt, thay vào đó phải tập trung vào cái biết, giữ cái biết an tĩnh. Bởi vì khi cái biết không di động thì Nimitta cũng không di động. Giống như hình phản chiếu của khuôn mặt trên gương, người soi gương bất động thì ảnh phản chiếu cũng bất động.

- Sự khích động

Tôi vừa đề cập ở trên, kẻ thù thứ hai trong việc duy trì nimitta là sự khích động hay phấn khởi, cái mà tôi thường gọi là phản ứng tán thán (Wow-respond). Ai cũng biết khi hành thiền thành công, điều kì diệu xuất hiện, người hành thiền trở nên rất phấn kích. Điều này đặc biệt xảy ra nếu một Nimitta tuyệt diệu lần đầu tiên xuất hiện, chiếu sáng hơn cả mặt trời, đẹp đẽ hơn tất cả các loài hoa cực đẹp! Lúc đó tâm trí thường bật lời Wow! Nhưng tiếc thay, sau tiếng Wow, Nimitta tắt ngủm và có khi nó rất chậm quay lại trong thời gian rất lâu, có khi đến hàng tháng. Để tránh một thảm họa như thế ta phải nhớ nằm lòng ví dụ nổi tiếng của ngài Ajahn Chah về “Mặt hồ tĩnh lặng”.

Chiều về, các tăng sĩ thiền lâm bước đơn độc trong rừng mong tìm ra một dòng sông hay một hồ nước. Họ cần có nước uống, tắm hoặc để giặt y áo. Sau khi uống và giặt, họ sẽ phải căng dù với mùng chống muỗi xa hồ nước để thiền qua đêm. Ajahn Chah đã nói rằng đôi khi ngài ngồi trong mùng với đôi mắt mở to quan sát các thú rừng đến bên hồ nước lúc chạng vạng, chúng cũng uống và tắm. Nhưng loài thú chỉ đến uống nước lúc ngài giữ thật yên lặng. Nếu ngài chuyển động, chúng sẽ đánh hơn thấy sự hiện diện của ngài, chạy ngược vào rừng không quay lại trong nhiều ngày. Ajahn Chah đã biết cách ngồi thật yên để thú rừng không biết ngài đang ở đó. Ngài đã có thể ngắm chúng uống nước và chơi đùa, đôi khi gấu ó với nhau, và ngài cũng đã sung sướng thưởng ngoạn các trò hề của đám trẻ con rừng rú này.

Đôi khi Ajahn Chah ngồi thật yên lặng. Rồi thì, sau khi các loài thú rừng không còn sinh hoạt bên hồ nữa, một vài loại thú rất đẹp, rất lạ đã xuất hiện trong bong đêm. Những sinh vật này đẹp và hiếm mà chưa ai từng nói với ngài. Hoặc có người nói thì chắc ngài cũng không thể hiểu. Ngài chẳng biết đến tên của chúng. Ngay khi vừa bước ra khỏi rừng, tai của chúng sẽ rà soát toàn bộ khu vực, mũi chúng đánh hơi mọi nỗi hiểm nguy. Nếu Ajahn Chah động đậy, dù rất nhẹ hay nói  “wow” tức thì chúng sẽ biết ngài có đấy và trốn biệt vào rừng, chẳng xuất hiện hàng tháng. Chúng là những loài e thẹn nhất cư trú trong rừng và cũng là loài hiếm nhất, tuyệt đẹp nhất. Chúng thật khó mô tả.

Trong ví dụ chính xác này, hồ nước trong rừng biểu tượng cho Tâm Trí, các vị sư ngồi gần cạnh hồ biểu tượng cho Chánh Niệm. Khi chánh niệm bất động, các con thú biểu tượng cho Hơi Thở Đẹp và Hỉ Lạc đi đến từ khu rừng để chơi đùa gần bờ cạnh của Tâm Trí. Chánh niệm phải được giữ yên tĩnh không can thiệp hay có tác động nào, nếu không Hơi thở đẹp hay Hỉ lạc sẽ kinh động rút lui vào rừng, khó ra trở lại. Nếu người biết, tức chánh niệm, luôn giữ yên lặng, thì sau khi Hơi thở đẹp và Hỉ lạc chấm dứt vận hành trong tâm trí, Nimitta e thẹn sẽ cẩn trọng lộ diện để vui đùa trong tâm trí. Nếu Nimitta cảm nhận thấy rằng chánh niệm không yên tĩnh, nếu nó nghe người biết nghĩ đến chữ Ồ (wow) thì Nimitta thẹn thùng tức thì chạy trở vào rừng, và nó sẽ chẳng trở lại trong thời gian rất lâu. Chánh niệm sẽ đánh mất cơ hội nếu khuấy động.

Khi Nimitta đẹp và mạnh xuất hiện, ta phải nhớ lấy ví dụ này và phải quan sát với sự tĩnh lặng của ngài Ajahn Chah, ngồi yên bất động xa bờ hồ. Ta phải kềm chế mọi phấn kích. Rồi ta sẽ thấy Nimitta kì lạ và tuyệt vời này hoan hỉ trong tâm trí ta một thời gian rất dài, cho đến lúc nó sẵn sàng đưa ta vào Định.

Điều làm Nimitta mất ổn định

Khi Nimitta ổn định và sáng chói thì ta đã đến cửa vào của Định Jhana. Ta phải kềm chế nhẫn nại chờ đợi, duy trì tĩnh lặng, không có bất cứ manh động nào, cho đến khi những nguyên nhân và kiều kiện đã đầy đủ cho sự chuyển dịch vào Định. Tuy thế ở giai đoạn này một vài người hành thiền phạm lỗi lầm gây bất ổn cho tiến trình bởi vì “trộm” nhìn vào rìa cạnh của Nimitta.

Một khi Nimitta đã bình ổn và chiếu sáng, ta có thể thấy thú vị về hình dạng hay kích thước của nó. Nó thì hình tròn hay hình chữ nhật? Cạnh của nó nét hay mờ? Nó nhỏ hay to? Khi ta nhìn vào bờ rìa của nó, chánh niệm ta mất khả năng “định nhất tâm”. Bờ rìa của nó là nơi của nhị nguyên, của trong và ngoài. Nhị nguyên thì luôn đối nghịch với tâm nhất điểm. Nếu ta nhìn vào bờ rìa, Nimitta trở nên bất ổn và có thể biến mất. Ta phải luôn giữ chánh niệm ngay chính giữa trung tâm của Nimitta, xa khỏi bờ rìa, cho đến khi mọi tri giác về bờ cạnh biến mất vào trạng thái bất nhị của định nhất tâm (one-pointedness). Tương tự như vậy, nếu ta cố gắng mở rộng hay thu nhỏ Nimitta thì ta cũng đánh mất cái thiết yếu là định nhất tâm. Mở rộng hay thu hẹp liên hệ đến tri giác về kích thước, liên hệ đến sự nhận biết về bờ cạnh của Nimitta và không gian quanh đấy. Lần nữa ta lại rơi vào cái bẫy của nhị nguyên và làm mất định nhất tâm chỉ vì sự cố làm to hay thu hẹp chẳng lợi ích gì.

Thế nên khi Nimitta đã ổn định và chói sáng, chỉ cần nhẫn nại. Đừng dịch chuyển. ta đang xây dựng các yếu tố cần thiết cho hỉ-lạc và định nhất tâm. Khi các yếu tố đã đủ lực lượng, chúng sẽ tự mở ra trạng thái Định.

Ghi chú về tâm trí chiếu sáng

Đây là một đoạn trích dẫn từ kinh rất có ý nghĩa nhưng thường bị hiểu lầm. Đoạn trích là từ Tăng Chi bộ kinh 1

“This mind, O monks, is luminous, but it is defiled by adventitious defilements. The uninstructed world_ ling does not understand this as it really is; therefore for him there is no mental development.

This mind, 0 monks, is luminous, and it is freed from adventitious defilements. The instructed noble disciple understands this as it really is; therefore for him there is mental development” (AN 1,1-2).

Ở giai đoạn Nimitta đẹp và ổn định, Nimitta phát tán ánh sáng rực rỡ. Nimitta như đã được giải thích là hình ảnh của tâm trí. Khi ta trải nghiệm một nimitta như thế, ta nhận ra rằng nó giống như tâm trí chiếu sáng của đoạn trích từ Bộ kinh Tăng Chi ở trên. Nimitta này chiếu sáng vì tâm trí đã thoát khỏi năm chướng ngại (năm triền cái). Vậy ta phải hiểu rằng Nimitta này-tâm trí chiếu sáng này, cái đã không còn năm chướng ngại chính là cửa vào Định Jhana. Cũng thế ta hiểu “sự phát triển tâm trí” có ý nghĩa thực sự là gì?

[ Tôi sử dụng bản dịch từ THE NUMERICAL DISCOURSES OF THE BUDDHA: An Anthology of Suttas from the Anguttara Nikaya, translated by Nyanaponika Thera & Bhikkhu Bodhi, Oxford: Altamira Press, 1999, p 36. ] back.

Nhập Định

Khi Nimitta sáng chói và ổn định, năng lượng của nó dần dần tích lũy. Giống như an bình được thêm vào, thêm vào, và thêm vào cho đến khi tràn ngập. Khi an bình đã tràn ngập, hỉ lạc cũng tràn ngập và Nimitta xuất hiện chiếu sáng. Nếu ta duy trì được định nhất tâm tại đây bằng cách giữ sự tập trung vào ngay chính giữa nimitta, sức mạnh sẽ đạt tới mức cần thiết của nó. Ta sẽ cảm giác rằng, Người biết (Knower) đang bị hút về phía Nimitta, ta đang rơi vào một vùng phúc lạc chói chang nhất. Kế đó ta thấy Nimitta tiến đến và ôm phủ Người Biết, nuốt chửng ta trong cơn cực khoái vũ trụ. Ta đã nhập vào Định Jhana.

- Định theo kiểu “YO YO và Snake ladder”

Đôi khi một người thiếu kinh nghiệm vừa nhập vào thiền thì người đó lập tức bị đẩy ngược về trạng thái tâm lúc khởi đầu. Tôi gọi cái này là ‘Định yo-yo”, giống như cái cuộn đồ chơi trẻ con, gọi là yo-yo, đi lên đi xuống bằng sợi dây. Đây không phải là Jhana thực sự, bởi vì nó không kéo đủ dài, mà quá ngắn, nên tôi gọi nó bằng cái tên như thế. Chính kẻ thù “khích động”, cái mà tôi đã từng giải thích ở trên, làm cho chánh niệm từ Định bị dội ngược lại. Kiểu phản ứng như thế hoàn toàn có thể hiểu được, bởi vì cái an lạc mà ta trải nghiệm lúc rơi vào nimitta lớn hơn tất cả những vui thú mà ta từng tưởng biết. Nếu ta từng nghĩ rằng cực khoái tình dục là cái gì hoàn hảo nhất, thì ngay lúc bấy giờ ta khám phá ra rằng nó chẳng là cái gì cả, quá tầm thường so với cái an lạc của những trạng thái Định loại này. Những Định Jhana có lực rất mạnh, nó có thể thổi ta bay, nó là an lạc thực sự. Ngay cả loại Định phù du kiểu yo-yo, cũng thường làm ta ứa lệ vì hạnh phúc và bật khóc vì trải nghiệm tuyệt vời này. Vì thế có thể hiểu được người mới hành thiền sẽ trải nghiệm Định yo-yo trước. Sau đó phải qua nhiều luyện tập để có thể “chịu đựng” được cái an lạc quá to lớn và mạnh mẽ như thế. Cần phải có nhiều trí tuệ để buông xả cái khích động trong thời điểm mà ta phải nhận lấy phần thưởng vĩ đại của đời sống tâm linh.

Đối với người già, chắc sẽ còn nhớ trò chơi “Rắn và bậc thang”. Trò chơi này đơn giản là một tấm bảng để chơi với các đồng xu. Ai cũng sẽ nhớ lại rằng cái ô nguy hiểm nhất là cái ô trước khi vào gôn. Ô thứ chín chín nằm ở đầu dài nhất của con rắn. Nếu bạn đi vào ô thứ một trăm, bạn sẽ thắng. Nhưng nếu bạn đi vào ô thứ chín chín, bạn thua, con rắn lại trở về như cũ lúc bắt đầu! Một “định yo-yo” giống như  đi vào ô thứ  chín chín trong trò chơi “Con rắn và bậc thang”. Ta đang rất gần đến chiến thắng trong cuộc chơi và sắp nhập vào định, nhưng ta lại hơi chệch chỉ một chút, đi vào cái đầu rắn của sự khích động, ta trượt, đúng hơn là bị dội ngược trở về lại với điểm xuất phát ban đầu.

Mặc dù “định yo yo” rất gần gũi với thực tế nhưng ta không thể cười chê chúng. Ta trải nghiệm an lạc cực kì và qua những vui thú. Ta có cảm tưởng ta như là một trái bóng khí tượng thả bay nhiều giờ trên trời cao mà mọi người không hay biết và lúc đó có quá nhiều năng lượng dồn nén làm ta không ngủ được. Đây là trải nghiệm lớn nhất trong đời. Nó sẽ làm thay đổi bạn.

Thêm một chút rèn luyện và biết cách phản xạ khôn ngoan trong trải nghiệm, ta hoàn toàn có thể để “rơi” vào Nimitta hay để cho nó trùm phủ lấy ta, mà ta không bị nảy ngược ra. Đó là lúc đi vào thế giới diệu kì của Định-Jhana.

PART III

I. Chuẩn mốc của các bậc thiền

Không có ý nghĩ, không có ý chí, không có nhận thức thời gian.

Kể từ lúc nhập vào Định, ta sẽ không còn tự chủ nào nữa. Ta không thể tác lệnh như lúc bình thường. Cái ý nghĩ “Ta sẽ làm gì tiếp?” không thể xảy ra. Khi cái Ý Chí dùng để kiểm soát biến mất, thì cái mệnh đề hình thành khái niệm về tương lai: “Tôi sẽ” cũng biến mất. Khái niệm về thời gian ngừng lại trong trạng thái Định. Trong trạng thái Định ta không thể quyết định làm cái gì tiếp. Thậm chí ta còn không thể quyết định khi nào thì xuất ra khỏi định. Chính cái vắng mặt của Ý chí và cái hậu sinh của nó là Thời gian làm cho Định Jhana có tính “ổn định vô thời gian” (timeless stability), làm cho trạng thái Định kéo dài, đôi khi an lạc đến hàng giờ.

- Ý thức bất nhị

Bởi vì lúc đó định nhất tâm (onepointedness, ekaggata) quá mạnh, sự tập trung được cố định, chúng ta sẽ không còn khả năng đối chiếu trong trạng thái Định Jhana. Nhận thức có được nhờ so sánh, liên hệ điều này với điều kia, nơi này với nơi khác. Trong Định Jhana, tất cả nhận thức có đuợc chỉ là an lạc bất nhị, bất động, thụ động, chẳng còn chỗ nào để khởi sinh sự đối chiếu. Giống như trong một trò chơi đánh đố, ta được cho xem một bức hình của một vật rất quen thuộc, nhưng lại được chụp dưới một góc độ lạ, rồi phải đoán xem nó là cái gì? Rất khó để nhận ra một vật nếu ta không thể dịch chuyển hay xoay đầu để nhìn nó dưới góc độ này hay góc độ khác. Khi khả năng so sánh đối chiếu mất đi thì sự nhận thức cũng không còn. Vì vậy, trong Định Jhana, ta không những chẳng có cảm giác về thời gian mà còn chẳng còn biết cái gì đang xảy ra! Đến một lúc ta sẽ chẳng biết ta đang ở trong cái Định gì. Tất cả cái ta biết là an lạc tràn ngập, không dời chuyển, không thay đổi, trong những khoảng thời gian không biết được.

- Sự nhận biết về An Lạc không dời đổi

Mặc dầu không có năng lực nhận thức trong Định Jhana vì do không có khả năng đối chiếu, nhưng ta chắc chắn không rơi vào một cơn hôn mê. Chánh niệm của ta tăng lớn đến mức sắc bén thực sự kinh ngạc. Ta thức tỉnh toàn diện. Chỉ có chánh niệm không dời đổi. Nó như đóng băng lại.  Và sự tịch lặng của siêu chánh niệm, sự tỉnh thức của định nhất tâm hoàn hảo, làm cho Định Jhana hoàn toàn khác với tất cả những gì ta từng biết trước đây. Đây không phải là vô-thức. Đây là Ý thức bất nhị. Ta chỉ biết một điều, đó là sự an lạc không dời đổi.

Sau đó, khi ta đã xuất khỏi Định Jhana, cái định nhất tâm tích lủy của ý thức rời ra. Khi định nhất tâm yếu đi, năng lực so sánh tái phục hồi, tâm trí lại có thể dịch chuyển như cũ. Tâm trí có lại không gian cần thiết cho sự so sánh và hiểu biết. Ý thức bình thường đã trở lại.

Ngay khi vừa thoát khỏi Định Jhana, ta thường quen nhìn lại xem cái gì đã vừa xảy ra và ôn lại trải nghiệm đó. Định Jhana là những biến cố rất mạnh mẽ, chúng thường lưu lại ấn tượng không phai trong kho chứa kí ức của ta. Sự thực ta sẽ không bao giờ quên chúng mỗi khi ta còn sống. Chúng rất dễ gợi nhớ lại với đầy đủ các chi tiết sau khi ta xuất định. Bằng cách ôn lại ngay sau đó, ta có thể nhận biết các chi tiết đã xảy ra trong Định Jhana và ta biết Định Jhana có những gì. Hơn thế nữa, thông tin thu thập được từ Định Jhana hình thành nên cơ sở của Tuệ giác, đó chính là Giác ngộ.

- Năm giác quan hoàn toàn đóng lại.

Đặc tính lạ lùng phân biệt Định Jhana với tất cả các trải nghiệm khác là trong trạng thái Định Jhana, năm giác quan hoàn toàn đóng lại. Ta không thể thấy, ta không thể nghe, ta không thể ngửi, nếm hay xúc chạm. ta không thể nghe tiếng chim hót, tiếng người khác ho. Ngay cả nếu có tiếng sét đánh gần bên, ta cũng không thể nghe trong trạng thái Định Jhana. Nếu ai đó vỗ vai ta, kéo ta dậy hay đẩy ta nằm xuống, ta cũng không thể biết gì trong Định Jhana. Tâm trí trong trạng thái Định Jhana tách biệt hoàn toàn với năm giác quan. (Tuy vậy âm thanh có thể khuấy động Sơ thiền, mỗi khi ta nhận biết tiếng động tức là ta không còn ở trong định nữa.)

Một người cư sĩ đệ tử có lần đã nói với tôi rằng ông ta đã “trúng mánh” một định Jhana rất sâu khi ở tại nhà. Bà vợ tưởng ông ta chết, bèn gọi xe cứu thương. Ông được xe cứu thương đưa nhanh tới bệnh viện trong tiếng còi hụ inh ỏi. Tại phòng cấp cứu, không thấy nhịp tim trên Điện tâm đồ. Vì thế bác sĩ đặt máy khử rung lên ngực ông để kích hoạt tim. Mặc dù bị nảy lên, nảy xuống, trên giường bệnh vì shock điện, xong ông ta đã chẳng cảm thấy điều gì! Khi xuất khỏi định trong phòng cấp cứu một cách hoàn toàn ổn, ông ta chẳng biết mình đến đây như thế nào, chẳng biết xe cứu thương, còi hụ hay máy kích tim làm nảy tung người. Trong suốt thời gian dài đó ông ta trụ trong Định Jhana, ông ta biết rõ nhưng biết chỉ duy nhất một điều, đó là an lạc. Đây là một ví dụ thế nào là sự tắt năm giác quan trong trải nghiệm Định Jhana.

Tổng kết những chuẩn mốc của tất cả các Định Jhana

Rất cần thiết phải biết trong Định Jhana:

- Không có khả năng để tư duy

- Không có ý chí cho bất cứ tiến trình nào

- Không có nhận thức về thời gian

- Ý thức có bản chất bất nhị khiến không thể nhận thức.

- Ta rất rất tỉnh táo nhưng chỉ biết có an lạc, một an lạc không dời chuyển, và

- Năm giác quan đóng lại hoàn toàn, chỉ có thức thứ sáu là tâm trí hoạt động.

Đây là những đặc tính của Định Jhana. Vì vậy trong một cơn định sâu, nếu ta có phân vân rằng đây có phải là định hay không? Thì câu trả lời chắc chắn là không. Chẳng thể nào có suy nghĩ như vậy được trong cái tĩnh lặng của Định Jhana. Những đặc tính như vậy sẽ được nhận ra khi ta xuất khỏi định bằng cách dùng chánh niệm xét duyệt lại lúc tâm trí ta có thể nhúc nhích được.

II. SƠ THIỀN- Định Jhana thứ nhất

- Sự dao động (Tầm và Tứ)

Tất cả các Định Jhana hầu hết là trạng thái an lạc không dời chuyển. Tuy nhiên trong Sơ Thiền có một vài chuyển động phân biệt được. Tôi gọi chuyển động này là “dao động” của Sơ Thiền. Ta cảm nhận được an lạc quá lớn, quá mạnh, làm giảm đi phần bản ngã thuộc về ý chí và hành động. Trong Định Jhana ta bị điều khiển một cách tự động, lúc đó ta không có cảm giác bị điều khiển. Tuy nhiên an lạc quá ngọt ngào nó có thể sinh ra một chút trói buộc. Tâm trí, chứ không phải người làm (doer), bám víu vào an lạc một cách bản năng. Bởi vì cái an lạc của sơ thiền là do sự buông xả, nên sự bám víu thụ động như thế làm an lạc giảm đi. Nhưng khi thấy an lạc giảm đi thì tâm trí lại tự động buông xả sự bấu víu để an lạc tăng lên trở lại. Cứ như thế, tâm trí nắm rồi buông.

Chuyển động vi tế và thụ động như thế làm phát sinh ra dao động của sơ thiền.

Diễn trình này có thể nhận biết theo một cách khác. Khi an lạc suy yếu vì sự nắm giữ thụ động, có vẻ giống như chánh niệm dời xa an lạc một khoảng cách nhỏ. Sau đó tâm trí tự động buông xả giúp kéo chánh niệm vào trong an-lạc. Sự chuyển động đến gần rồi rời xa an lạc là một cách thứ hai để mô tả sự dao động của sơ thiền.

Sự dao động này, sự thực là một cặp yếu tố của sơ thiền, gọi là Tầm (vitakka) và Tứ (Vicara). Tứ là cái bấu víu thụ động vào an lạc. Tầm là cái dịch chuyển tự động trở về an lạc. Nhiều nhà chú giải giải thích cặp đôi Tầm-Tứ như là ý nghĩ tiên khởi (initial thought) và ý nghĩ duy trì (sustained thought). Trong những giải thích khác cặp đôi này có thể được ám chỉ như là “ý nghĩ”. Trong Định Jhana chúng chắc chắn có nghĩa gì đó khác hơn nữa.

Không thể một hoạt động lớn như tư duy lại có thể tồn tại trong một trạng thái tinh ròng như Định Jhana.

Thực ra, tư duy ngưng lại từ lâu trước khi ta nhập định. Trong Định Jhana, Tầm và Tứ đều nằm dưới ngưỡng diễn đạt bằng lời (sub-verbal) nên không có phẩm chất như một ý nghĩ. Tầm là vận động “không thể nói ra”(sub-vebal) của tâm trí khi nó quay lại với an-lạc. Tứ là vận động “không thể nói ra” (sub verbal) của tâm trí để giữ yên trong an lạc. Lúc bên ngoài Định, những vận động như thế của tâm trí thường hình thành nên ý nghĩ và đôi khi có thể nói ra được. Nhưng khi ở trong định, Tầm và Tứ quá mờ nhạt để đủ tạo thành ý nghĩ. Chúng chỉ có thể làm chánh niệm trở lại với an-lạc và giữ chặt chánh niệm ở đây. Vận động này là dao động của sơ thiền, biểu hiện bằng một đôi thiền chi: Tầm và Tứ.

- Định nhất tâm (ekaggata, tâm nhất điểm, one-pointedness)

Yêu tố thứ ba của Định Jhana là định nhất tâm (Ekaggatha). Ta gọi “định nhất tâm” là cái chánh niệm thật nhọn sắc tập trung trên một vùng hiện hữu rất nhỏ. Nó có tính nhất điểm trong không gian bởi vì nó chỉ thấy một điểm nguồn của tịnh-lạc cùng với một vùng rất nhỏ quanh tịnh-lạc, tạo nên bởi sự dao động của sơ thiền. Nó có tính nhất điểm trong thời gian bởi vì nó chỉ tri giác cái khoảnh khắc hiện tại, rất đặc trưng và chính xác, toàn bộ nhận thức thời gian biến mất hoàn toàn. Nó có tính nhất điểm trong hiện tượng vì nó chỉ biết cái đối tượng tâm trí của hỉ-lạc và hoàn toàn không biết gì đến cơ thể vật lý cùng thế giới của năm giác quan.

Một định nhất tâm về không gian như thế tạo ra trải nghiệm đặc biệt, chỉ thấy trong Định Jhana, về ý thức bất nhị, cái đã được giải thích chi tiết trong phần trước. Ý thức bất nhị xác nhận tính đặc trưng của Định Jhana, nơi mà ta hoàn toàn nhận biết nhưng chỉ về một điều duy nhất, dưới một góc độ duy nhất, trong một khoảng không có thời gian. Ý thức quá tập trung vào một đối tượng khiến cho khả năng nhận thức bị tê liệt. Chỉ đến khi định nhất tâm tan biến dần, lúc ta xuất ra khỏi định, ta mới lại có thể nhận ra và thấu hiểu tất cả các đặc tính của Định Jhana.

Định nhất tâm tạo ra tính bền vững phi thường cho Định Jhana, giúp nó tồn tại không cần một nổ lực nào trong một thời gian dài. Khái niệm thời gian dựa trên sự đo đạc các khoảng cách: từ quá khứ đến hiện tại hay từ hiện tại đến tương lai. Khi tất cả tri giác có trong Định Jhana chỉ là khoảnh khắc chính xác của hiện tại thì chẳng còn chỗ nào cho việc đo đếm thời gian. Tất cả khoảng cách đều khép lại. Thay vào đó là tri giác về cái không có thời gian và bất động.

Định nhất tâm trong hiện tượng tạo ra sự an lạc chồng lên an lạc khác thường không thay đổi suốt thời gian nhập định. Điều này làm cho sơ thiền trở thành nơi chốn an nghỉ. Định nhất tâm trong hiện tượng là tác nhân cho tĩnh lặng tuyệt vời của Định Jhana.

Vậy, định nhất tâm của sơ thiền được trải nghiệm như ý thức bất nhị, không có thời gian và tĩnh lặng không cần nổ lực.

Trong kinh điển, Ekaggatha danh từ Pali, có nghĩa “trạng thái có đỉnh nhọn”. Chữ Agga (thiếng Sanskrit là Agra) ám chỉ một đỉnh núi, đỉnh cao của một trải nghiệm, hay có khi cũng ám chỉ thủ đô của một quốc gia (như Agra, thủ đô đế chế Mongul ở Ấn Độ). Ekaggatha vì vậy không chỉ có nghĩa “một hay vài đĩnh điểm cũ” mà ám chỉ sự tập trung độc nhất vào những gì vượt lên cao hay thăng hoa. Đỉnh cao duy nhất, sự tập trung của định nhất tâm trong Sơ thiền, là hạnh phúc tối thượng của hỉ-lạc (pitisukha).

- Hỉ-Lạc (Pitisukha)

Hai yếu tố cuối cùng của Sơ Thiền là Hỉ (piti) và Lạc (sukha). Tại đây tôi xem xét chúng cùng với nhau bởi vì chúng là đôi nốt đan gần nhau. Sự thực chúng chỉ tách rời trong Tam Thiền, khi đó Hỉ tắt đi để lại mình Lạc góa bụa. Chỉ vậy, sau đệ Tam Thiền ta mới biết bằng trải nghiệm thế nào là Hỉ và thế nào là Lạc. Ở đây chỉ cần giải thích cặp hỉ-lạc như một thực thể.

Hai yếu tố cuối cùng của Sơ Thiền gọi là Hỉ-Lạc ám chỉ đến an-lạc (bliss), đối tượng của sự tập trung, và tạo thành trung tâm của trải nghiệm gọi là Sơ Thiền. An-lạc là khía cạnh nổi trội của Sơ Thiền đến mức nó trở thành điều đầu tiên nhận ra khi ta nhớ lại lúc xuất định. Những truyền thống thần bí ngoài Đạo Phật đã từng bị trùm phủ bởi cái rộng lớn kì dị, bởi trạng thái vô ngã, tĩnh lặng, xuất thần, cực đỉnh và tinh khiết, siêu thế của Sơ Thiền, khiến trong suốt lịch sử họ đã mô tả lại trải nghiệm như là trạng thái “Hợp nhất với Thượng Đế”.

Tuy nhiên, Đức Phật đã giải thích đây chỉ là một dạng của an-lạc siêu thế gian và vẫn còn các trạng thái khác cao siêu hơn nữa! Khi trải nghiệm Định Jhana, người Phật tử phải biết rằng có nhiều mức độ của an-lạc siêu thế (supramundane). Sơ thiền là mức độ thứ nhất. Tuy vậy sau Sơ thiền ta không nhận thức được một trải nghiệm an-lạc hơn thế!

Các mức độ an-lạc khác nhau có một”mùi vị” khác nhau. Sự khác biệt về chất lượng làm chúng phân biệt với nhau. Chất lượng khác biệt của an-lạc có thể được giải thích bằng các nguyên nhân khác nhau của chúng. Ví dụ như cái nóng của mặt trời có chất lượng khác với cái nóng của củi lửa, và cái nóng của củi lửa lại có vị khác biệt với cái nóng từ lò sưởi. Vì thế, an-lạc do các nguyên nhân khác nhau có các điểm đặc trưng khác nhau.

Đặc tính phân biệt của an-lạc sơ thiền là nó hình thành bởi sự vắng mặt của năm giác quan. Khi năm giác quan đóng lại, kể cả các vọng âm của năm giác quan đã biểu hiện thành tư tưởng, ta rời bỏ thế giới của cơ thể và vật chất (Kamaloka) để bước vào thế giới của tâm trí thuần túy (Rupaloka). Tình huống này giống như quẳng đi một gánh nặng to lớn. Ngài Ajahn Chah thường mô tả nó giống như khi ta chịu đựng một sợi dây trói chặt cổ trong một thời gian dài, nhưng vì quen thế nên chẳng nhận ra sự đau đớn. Rồi bất ngờ áp lực giảm xuống, sợi dây được tháo ra. An lạc mà ta cảm nhận giống như hiệu ứng khi khối nặng biến mất đi! Giống như vậy, an lạc của sơ thiền được tạo bởi sự biến mất hoàn toàn sợi dây trói chặt, có nghĩa tất cả cái ta cưu mang là thế giới. Một tuệ giác như thế về nguồn gốc của an lạc trong sơ thiền sẽ là nền tảng cho ta thấu hiểu Diệu Đế về Khổ.

Tổng kết về Sơ Thiền

Định Sơ Thiền được phân biệt bằng năm yếu tố, được thu gọn thành ba:

1+2 : TẦM (Vitakka)- TỨ (Vicara): Trải nghiệm như sự dao động, chuyển động an lạc   vào-ra thật vi tế, khó biết.

3 :     ĐỊNH NHẤT TÂM (Ekaggatha): được trải nghiệm như bất nhị, không có thời gian và tĩnh lặng

4+5:   HỈ-LẠC (Pitisukha): trải nghiệm như an lạc vượt qua mọi thứ trong thế giới vật chất và tăng cường bởi sự siêu việt thế giới ấy sang thế giới tâm trí tinh ròng.

III. NHỊ THIỀN – Định Jhana thứ hai

- Giảm dần dao động

Như đã giải thích khi mô tả Định sơ thiền, Tầm và Tứ là sự nắm bắt an lạc không chủ ý, khiến chánh niệm bị dời chuyển. Tầm (Vitakka) là động tác tự động của tâm trí quay về trụ trên an lạc.

Khi sơ thiền sâu hơn, sự dao động giảm dần và an lạc được củng cố. Ta tiến đến trạng thái mà Tứ (vicara) vẫn đang nắm giữ an lạc bằng sự cầm nắm nhẹ nhàng, nhưng điều này không đủ để tạo nên sự bất ổn định của an-lạc. An-lạc không suy giảm vì Tứ, chánh niệm cũng không dời chuyển khỏi nguồn. An-lạc quá mạnh, Tứ không thể quấy nhiễu nó được. Mặc dù Tứ vẫn đang hoạt động, không có Tầm, không có hoạt động của tâm trí quay về nguồn của an-lạc. Sự dao động không còn nữa. Đây là trạng thái định mà kinh điển mô tả không có Tầm mà chỉ có một chút Tứ (ví dụ: DN 33.1.10.50, AN 8’s.63). Điều này gần với Nhị thiền hơn là sơ thiền, và thường là nghiêng về mô tả Nhị thiền.

Khi an lạc mạnh dần lên và ổn định vững chắc. Tứ không còn nhằm mục đích duy trì cái gì nữa. Thì lúc này, tâm trí trở nên hoàn toàn tự tin đủ để đạt đến một buông thả (letting go) tuyệt đối. Với sự buông thả cuối cùng này, tự tin sinh ra từ sự bền vững của an-lạc, Tứ (Vicara) biến mất, ta chính thức bước vào Nhị Thiền.

Khía cạnh đặc trưng thứ nhất mà kinh điển mô tả về Nhị Thiền là Avitakka và Avicara có nghĩa là không có Tầm, không có Tứ. Trong trải nghiệm, điều này có nghĩa không còn dao-động trong tâm trí. Khía cạnh thứ hai là “Ajhattam Sampasadanam” có nghĩa là tự tin bên trong. Trong trải nghiệm, điều này mô tả sự tự tin hoàn toàn vào tính ổn định của an-lạc, đây chính là nguyên nhân làm cho Tứ dừng lại.

- Định nhất tâm hoàn hảo của Tâm trí.

Khía cạnh đặc trưng thứ ba của Nhị thiền là Cetaso Ekodibbavam, có nghĩa là định nhất tâm hoàn hảo của tâm trí. Định nhất tâm tuyệt đối hoàn hảo của tâm trí là đặc trưng nổi bật trong trải nghiệm Nhị thiền. Lúc đó không còn có bất kì dao-động nào, tâm trí giống như một tảng đá, vững chắc như một ngọn núi và cứng hơn kim cương. Sự hoàn hảo của tĩnh lặng tuyệt đối thật lạ thường. Tâm trí ở trong an-lạc mà không có một rung động nhẹ nào.Điều này về sau ta biết là thuộc về một tính chất hoàn hảo gọi là Samadhi (Định).

Samadhi (Định) là năng lực duy trì sự chú tâm. Trong nhị thiền, sự chú tâm này duy trì trên đối tượng mà không còn bất cứ dịch chuyển nào. Không có cả những dao động vi tế. Ta bị cố định, bị đóng thành băng cứng, bị dán cứng bằng một loại keo thượng hạng. Không còn khả năng để run. Tất cả cái làm khuấy động tâm trí đều mất. Không có sự tĩnh lặng nào hơn trạng thái này, Nó gọi là Samadhi hoàn hảo, nó không chỉ đặc trưng cho Nhị thiền mà còn cho các định Jhana ở mức độ cao hơn.

- Sự an-lạc sinh từ Định (samadhijam pitisukha)

Chính vì Định (samadhi) hoàn hảo này mà an lạc của Nhị thiền có cái hương vị duy nhất. Khối nặng có trong Sơ thiền, cái đã biến mất trong nhị thiền, là nguyên nhân gây chuyển động. Tất cả đều đứng yên tuyệt đối trong Nhị thiền, kể cả Người biết (knower). Sự tĩnh lặng tuyệt đối đó vượt qua cái đau khổ vốn sinh ra từ chuyển động của tâm trí, và nó cũng bộc lộ niềm an-lạc lớn hơn, cái sinh ra bởi định tinh ròng. Trong kinh điển, an-lạc của Nhị thiền được gọi là hỉ lạc sinh từ Định (ví dụ: ON 9.11). An-lạc đó sung sướng hơn an lạc khi vượt qua thế giới của năm giác quan. Ta không thể hình dung trước cái an lạc như thế. Nó hoàn toàn là một loại khác. Sau khi trải nghiệm Nhị thiền, biết được hai loại an lạc siêu thế cực kì hiếm hoi, ta bắt đầu phân vân rằng còn có những mức độ an lạc nào khác ở phía trước không. Ta cân nhắc đâu là giới hạn của an lạc!

- Sự chấm dứt tất cả hành động.

Khía cạnh nổi bật khác của Nhị thiền là trong Nhị thiền tất cả mọi “hành động” hoàn toàn chấm dứt, kể cả hành động không chủ ý làm cho dao-động xuất hiện cũng hoàn toàn biến mất, chủ nhân của hành động (doer) đã chết. Chỉ khi nào từng trải nghiệm Nhị thiền, ta mới biết rõ ý nghĩa của danh từ “chủ nhân của hành động” (doer). Giống như con nòng nọc chỉ hiểu rõ ý nghĩa của từ “Nước” khi nước không còn lúc con nhái lần đầu trải nghiệm với đất khô. Trong Nhị thiền “chủ nhân của hành động” đã ra đi. Không còn gì hết. Chỉ còn lại cái tuyệt đối tĩnh lặng. Hơn nữa, dường như có cái gì đó quá rõ ràng đối với ta, đó là phần thiết yếu nhất trong cái ta vĩnh hằng, cái gọi là “chủ nhân của hành động” bây giờ đã bị loại bỏ hoàn toàn khỏi hiện hữu của ta. Chủ nhân của hành động dường như rất rõ ràng trong hiện tại này, bỗng biến thành ảo tượng, ảo giác! Đi qua Nhị thiền, ta có khả năng phát hiện ra cái ảo tưởng rằng bản ngã chính là chủ nhân của hành động. Ta xuyên thấu cái ảo tưởng về “ý chí tự do” bẵng những dữ liệu lấy từ trải nghiệm sinh động. Triết gia nào kết luận “Hiện hữu là hành động” có lẽ chưa từng biết trạng thái của Nhị thiền. Trong Nhị thiền “being” is (through knowing), but “doing” is not. Những tầng thiền thật quái lạ. Chúng thách thức những trải nghiệm bình thường. Nhưng chúng thực, rất thực hơn thế giới. Hơn nữa, Nhị thiền và các điều trên đã mở khóa cái ý nghĩa về trạng thái vô-ngã, Anatta.

Tổng kết về nhị thiền

Nhị thiền tức Định Jhana thứ hai, được phân biệt bởi tập hợp các đặc trưng như sau:

1+2 : Không có Tầm (avtakka)- Không có Tứ (Avicara), Tự tin bên trong (Ajhattam sampasadanam): Trải nghiệm như sự giảm dần “dao động” của Sơ thiền bằng sự tự tin bên trong khi duy trì tính ổn định của an-lạc.

3 :  Định nhất tâm hoàn hảo của tâm trí (Cetaso Ekodibbavam): nhờ ở sự tự tin hoàn toàn trong an lạc. Điều này thường được mô tả trong trải nghiệm như “tĩnh lặng giống đá cứng”, cái chết tạm thời của “chủ nhân của hành động” hay sự toàn hảo của định.

4 :  An-lạc sinh ra từ Định (Samadhijam Pitisukham): là đối tượng được tập trung trong Nhị thiền, loại an lạc siêu thế này sinh ra khi tất cả các vận động của tâm trí đã chấm dứt.

5 :  Sự chấm dứt tất cả các tác hành: là kết quả khi “chủ nhân của hành động” đã ra đi hoàn toàn.

IV. TAM THIỀN – Định Jhana thứ ba

Khi định (samadhi), sự tĩnh lặng của Cái Biết (the knowing), trở nên lâu dài hơn, thì sự tĩnh lặng của cái được biết (the known) cũng sâu lắng hơn. Phải biết rằng trong định Jhana, cái được biết chính là hình ảnh của tâm. Tâm (Citta) và tâm trí (mind) là Cái Biết. Nói cách khác, trong định Jhana Cái Biết biết hình ảnh của chính nó. Thoạt tiên Cái Biết trở nên yên tĩnh, kế đó hình ảnh của nó, tức Cái được biết, dần dần cũng trở nên vắng lặng.

Trong hai loại định Jhana đầu tiên, hình ảnh của tâm trí được nhận biết như một an-lạc, mà đến tận bây giờ ta gọi là hỉ-lạc. Trong Tam thiền, hình ảnh của tâm trí đi đến một mức độ kế của tĩnh lặng và đạt tới một kiểu an lạc hoàn toàn khác, một loại mà ta chưa từng biết đến trước đây bao giờ.

Hỉ đã biến mất

Trước khi đến định Jhana, tất cả các an-lạc đều có điểm chung cũng như có khác biệt về mùi vị tạo ra bởi các nguyên nhân khác nhau. Điểm chung đó là sự phối hợp giữa hỉ và lạc. Bởi vì chúng luôn ở bên nhau, không thể tách biệt như đôi sam.  Không chỉ vô nghĩa mà còn không thể, nếu nói về chúng một cách tách biệt. Chính về điểm phối hợp này, cho mãi tới tam thiền, tất cả an lạc đều có một chất lượng chung. Ngay khi đến tam thiền, Hỉ biến mất chỉ còn lại Lạc, tạo nên một loại an lạc rất khác biệt.

Chỉ sau khi có trải nghiệm với Tam thiền, ta mới có thể biết Lạc là gì, và qua mối liên hệ với Lạc, ta có thể biết Hỉ là gì. Hỉ biểu hiện như phần “thô nặng” của an lạc, chữ thô nặng (burdensome) này mang nội dung của phần thô nặng trong Nhị thiền. Lạc là phần tinh ròng hơn. Trong Tam thiền, cái an-lạc được nhận biết trong Nhị thiền bị phân rã, để chỉ còn lại duy nhất yếu tố Lạc.

Chánh niệm vững mạnh, Cái Biết rõ ràng và Xả niệm thanh tịnh

Cũng như các tầng thiền định khác, những trải nghiệm gần như không thể mô tả được. Tầng thiền jhana càng cao, trải nghiệm càng sâu đậm và càng khó chuyển đạt thành lời. Ngôn ngữ của các trạng thái này rất xa với thế gian. Bằng cách suy rộng, ta có thể nói an-lạc của định Tam thiền thanh thản hơn, yên tĩnh hơn và tinh khiết hơn. Theo kinh điển, nó đi cùng với các yếu tố niệm (sati), tỉnh giác (sampajanna, hiểu biết rõ ràng) và xả  (upekkha). Tuy nhiên kinh Bất Đoạn (MN 111) nói các phẩm tính này có trong tất cả các bậc thiền. Có lẽ kinh điển nhấn mạnh các đặc tính này là phẩm chất của Tam thiền nhằm mục đích chỉ ra rằng trong những bậc thiền rất sâu này ta đặc biệt chánh niệm, hiểu biết rất rõ ràng (tỉnh giác) và rất an tĩnh khiến ta có thể quan sát bất động. Đây là nguồn gốc của ý nghĩa chữ Xả (upekkha).

Tĩnh lặng như đá và vắng mặt chủ thể tác hành (doer)

Tam thiền vẫn duy trì định hoàn hảo, tĩnh lặng như đá, không có chủ thế tác hành và năm giác quan cô lập với thế giới bên ngoài. Tuy nhiên nó phân biệt với Nhị thiền bằng bản chất của an lạc, cái an lạc đó vượt lên một đẳng cấp khác và thể hiện như một chủng loại an lạc khác hẳn. Hơn thế nữa, kinh điển mô tả Tam thiền qua cách diễn đạt của Đấng Thế Tôn: “as one who abides in bliss (in the third jhana) mindful, just looking on” (DN 9.12)

Tổng kết đệ tam thiền

Đệ tam thiền có những đặc tính như sau

  1. An-Lạc tách ra,mất đi phần thô nặng đó là Hỉ.
  2. An-Lạc còn lại là Lạc (sukkha), thể hiện phẩm chất của chánh niệm mạnh mẽ, hiểu biết rõ ràng và cảm giác chỉ quan sát mà không tham dự.
  3. Giống Nhị thiền ở trạng thái tĩnh lặng tuyệt đối như đá và không có mặt chủ thể tác hành.

V. Đệ Tứ Thiền

Lạc biến mất!

Khi sự tĩnh lặng của Người biết làm an tĩnh cái bị biết, thì an-lạc, vốn là đặc điểm chính của ba loại định jhana trước đây, lần nữa lại thay đổi khi ta bước vào định thứ tư. Chính tại lần này, nó thay đổi một cách gốc rễ. Lạc (sukkha) không xuất hiện nữa. Nó biến mất hoàn toàn. Bây giờ chỉ còn là một Người biết, tĩnh lặng tuyệt đối, nhìn về một cái cũng tuyệt đối tĩnh lặng.

Sự hoàn hảo của an bình (peace)

Từ góc nhìn của đệ tứ thiền, tình trạng an lạc của các định jhana trước đó được xem là cái chuyển động còn sót lại của đối tượng tâm trí, và là một cái khổ (affliction) che dấu một cái gì đó lớn hơn. Khi an lạc giảm dần, tất cả còn lại là trạng thái an bình sâu thẳm. Trạng thái an bình này là dấu xác nhận của đệ Tứ thiền. Tại đây không có chuyển động, không có phát tán. Không có gì hạnh phúc, cũng không có cái đối nghịch của nó là khó chịu. Ta cảm nhận một cân bằng hoàn hảo chính ngay trung tâm của tâm trí. Giống như trong mắt bão cyclone, không có gì khuất động trong trung tâm của con mắt tâm trí. Có một cảm giác hoàn hảo tại đây, hoàn hảo của sự tĩnh lặng và hoàn hảo của sự nhận biết.

Đức Phật mô tả định thứ tư là sự thanh tịnh của niệm, chỉ có nhận biết mà không có sự tham dự hay can thiệp vào (just looking on, upekkha sati parisuddhim) theo DN 9.13.

An Bình của đệ tứ thiền không giống với bất cứ an bình nào trên thế giới này. Nó chỉ có thể nhận biết được sau khi ta đã đi qua trải nghiệm của những định jhana trước đó. Các trải nghiệm đã đi qua đó, là cách duy nhất để xác nhận, rằng trạng thái an bình bất động mà ta cảm nhận đó chính là của định thứ tư. Hơn thế nữa trạng thái của định jhana thứ tư rất tĩnh lặng, khiến ta có thể an trụ trong đó hàng giờ. Dường như ta không có thể trải nghiệm đệ tứ thiền trong khoảng thời gian ngắn hơn.

Hỉ và Lạc, cả hai đều ngừng lại trong đệ tứ thiền, chỉ còn lại sự hoàn hảo của an bình. Một trải nghiệm như thế, khi ta hồi tưởng lại, sẽ biết ra đó là một sung sướng tối thượng. Mặc dù tất cả an lạc đều biến mất, cái an bình (peace) hoàn hảo của đệ tứ thiền được xem là cái an lạc (bliss) hơn tất cả. Đó là cái an lạc không có gì an lạc hơn. Đây không phải là cách chơi chữ để cố tỏ ra thông minh hơn hay thần bí hơn. Nó chính là như vậy.

Tổng kết đệ tứ thiền

Đệ tứ thiền có đặc tính như sau

  1. Lạc (sukkha) biến mất
  2. Cảm nhận về một an bình hoàn hảo, không biến đổi và trong thời gian thật dài sau khi đi qua ba định jhana thấp hơn.
  3. Tĩnh lặng tuyệt đối như đá và không có chủ thể tác hành như định thứ hai và thứ ba.
  4. Năm giác quan và cơ thể được tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài.

VI. Một so sánh của Đức Phật khi nói về đệ Tứ thiền

Ví dụ của Đức Phật dùng so sánh về đệ tứ thiền

Đức Phật đã từng mô tả trải nghiệm về bốn bậc thiền bằng cách dùng ví dụ kiểu so sánh cho từng mỗi bậc thiền (MN 39. 15-18, MN 77.25.28 v.v…). Trước khi giải thích các ví dụ so sánh này, ta cần nên dừng lại để làm rõ nghĩa một từ chủ yếu đã được dùng trong tất cả các so sánh, đó là “Thân” (kaya). Từ “thân” (kaya) gần như đồng nghĩa với từ “body” trong tiếng Anh. Nhưng từ “thân” có thể ám chỉ nhiều thứ khác hơn là thân thể của con người, chẳng hạn như “cơ thể của bằng chứng” (body of evidence). Cũng như vậy chữ Kaya trong Pali có thể mang nhiều ngfhĩa hơn là một cơ thể vật lý, chẳng hạn như thân của các yếu tố tâm trí, nama-kaya (DN 15.20). Trong các định jhana, năm giác quan không còn hoạt động, có nghĩa là không có trải nghiệm của một cơ thể vật lý. Cơ thể đã bị vượt qua. Do đó tất cả điều Đức Phật nói trong bốn ví dụ so sánh “…vì thế không có phần nào của toàn thân hành giả mà không ngập tràn (bởi an lạc v.v…)” thì điều này có thể được hiểu như “…vì thế không có phần nào thuộc toàn thể trải nghiệm của tâm trí mà không ngập tràn (bởi an lạc v.v…)” (MN 39.16). Điểm này thường dễ bị lầm lẫn.

Ví dụ của Đức Phật để so sánh với định jhana thứ nhất (sơ thiền) là một nắm đất sét hình tròn (dùng làm xà bông tắm), với độ ẩm vừa đúng, không quá khô cũng không nhão nước. Nắm đất sét ví dụ cho toàn thể tâm trí, trong đó Niệm được giới hạn trong vùng rất nhỏ tạo bởi “sự dao động”. Độ ẩm ướt ví dụ cho cái an lạc tạo bởi sự tách biệt hoàn toàn của năm giác quan với thế giới bên ngoài. Sự ẩm ướt thấm đẫm vào nắm đất  sét ám chỉ an lạc thấm đẫm khoảng không gian và thời gian của trải nghiệm tâm trí. Điều này về sau được nhận biết như là an lạc tiếp nối an lạc, rồi lại tiếp thêm an lạc, không ngừng nghỉ. Sự ẩm ướt không rò rỉ diễn tả an lạc luôn luôn nằm trong khoảng không gian tạo bởi sự dao động, không thoát ra ngoài vùng không gian tâm trí để vào thế giới của năm giác quan suốt trong thời gian định jhana diễn tiến.

Đệ nhị thiền giống như một hồ nước, không có đường dẫn nước vào, nhưng có một mạch suối ở giữa, làm đầy hồ bằng nước mát. Hồ nước được ví cho tâm trí.  Sự không có  phương tiện nào để nước từ bên ngoài có thể vào hồ, mô tả sự cách ly của tâm trí trong Nhị thiền với các ảnh hưởng từ bên ngoài. Không có một chủ thể tác hành nào có thể đi vào một tâm trí như thế. Sự cô lập kín hoàn toàn các tác nhân từ bên ngoài như thế tạo ra sự tĩnh lặng như đá của định Nhị thiền. Nguồn suối bên trong cung cấp mạch nước mát tượng trưng cho sự tự tin bên trong (ajjhattam sampasadanam) của hỉ-lạc trong trạng thái nhị thiền. Sự tự tin bên trong tạo ra buông xả hoàn toàn, làm dịu tâm trí thành tĩnh lặng và giải phóng tâm trí khỏi tất cả mọi chuyển động. Sự dịu mát tượng trưng cho an lạc, sinh ra từ định hay sự tĩnh lặng, thấm ngập toàn bộ trải nghiệm tâm trí, không thay đổi trong suốt thời gian của định.

Đệ tam thiền được mô tả bằng ẩn dụ của một hoa sen lớn lên bằng nước mát của hồ. Hoa sen tượng trưng cho tâm trí trong định thứ ba. Nước có thể làm mát cánh sen hoặc lá sen nhưng không thể vào hoa sen, bởi vì tất cả nước đều trôi tuột khỏi hoa sen. Sự mát mẻ tượng trưng cho Lạc, sự ẩm ướt tượng trưng cho hỉ. Giống như khi hoa sen trầm vào nước, tâm trí của Tam thiền được làm mát dịu bởi lạc nhưng không bị hỉ thâm nhập. Tâm trí của tam thiền chỉ trải nghiệm lạc. Trong tam thiền, tâm trí tiếp tục trải nghiệm tĩnh lặng như đá, không di động ra ngoài, giống như ví dụ hoa sen luôn luôn ngâm mình dưới nước. Giống như an lạc của Tam thiền duy trì trong tâm trí, nước mát, tượng trưng cho an lạc, làm hoa sen lớn lên. Lần nữa cái an lạc duy nhất của Tam thiền thấm đẫm toàn bộ trải nghiệm tâm trí từ đầu đến cuối, giống như nước thấm mát hoa sen từ gốc tới ngọn.

Đệ Tứ thiền được so sánh như là một người đàn ông trùm vải trắng từ đầu đến chân. Người đàn ông ám chỉ tâm trí. Tấm vải trắng ám chỉ sự tinh khiết hoàn hảo của Niệm và Xả niệm thanh tịnh, đó là dấu ấn của Tứ thiền. Tâm trí trong Tứ thiền không nhiễm ô, không chấm bẩn giống như một tấm vải sạch, tĩnh lặng hoàn hảo và chỉ quan sát mà không tác ý, tinh ròng, đơn thuần. Dĩ nhiên trạng thái tinh ròng tuyệt đối của bình an này thấm đẫm toàn thể của trải nghiệm tâm trí, từ lúc khởi đầu đến chung cục, giống như tấm vải trắng hoàn toàn bao phủ người đàn ông từ đầu đến chân.

Đây là bốn ví dụ so sánh của định jhana theo như cách tôi hiểu.

VII. Di chuyển từ định này sang định kia

Như tôi đã nói ở trên, khi ta đang ở trong một định nào đó, ta không có thể làm một động tác nào. Ta không thể tính toán một quyết ý để chuyển từ một định này sang một định khác. Ta cũng  không thể quyết định để xuất ra. Những quyền kiểm soát như thế đã bị phế bỏ trong trạng thái định. Hơn thế nữa, cái tĩnh lặng cực kì của tâm trí trong định đã làm đóng băng hoạt động tâm trí. Khi đang trong định jhana, ta khó có thể cảm nhận trải nghiệm của ta. Những chuẩn mốc của định jhana chỉ có thể được nhận ra lúc về sau khi xuất khỏi định và nhớ lại. Vậy trong bất cứ định jhana nào, không những ta không thể tác ý mà còn không thể biết ta đang ở đâu, nơi nào ta di chuyển tới! Thế thì việc di chuyển từ định này sang định kia xảy ra như thế nào?

Ngôi nhà với bốn phòng

Hãy tưởng tượng một ngôi nhà có bốn phòng với chỉ một cửa vào. Đi qua cửa ta vào phòng thứ nhất. Ta phải đi qua phòng thứ nhất để vào phòng thứ hai, qua phòng thứ hai để vào phòng thứ ba, qua phòng thứ ba để vào phòng thứ tư. Để đi ra khỏi phòng thứ tư ta phải vào phòng thứ ba, rời phòng thứ ba ta phải đi ra phòng thứ hai, rời phòng thứ hai ta phải đi ra phòng thứ nhất, rời khỏi phòng thứ nhất ta phải ra đi qua cái cửa mà ta đã đi vào. Giả sử sàn của các phòng đều trơn không thể nào tạo thêm sức bên trong căn nhà. Vì vậy nếu ta vào nhà chỉ bằng một chút lực, ta sẽ trợt và dừng lại tại phòng thứ nhất. Với một lực đi vào mạnh hơn, ta có thể ngừng lại ở phòng thứ nhì, hay phòng thứ ba. Với một lực đi vào mạnh hơn nữa ta có thể tới được phòng thứ tư.

Một ví dụ so sánh như vậy diễn tả rõ cách di chuyển từ định này sang định kia thực sự xảy ra như thế nào. Trong định jhana không có sự tự chủ, giống như sàn nhà trơn khiến không thêm được lực đi vào. Nếu ta vào cửa của định với lực nhỏ, ta sẽ dừng lại tại sơ thiền. Với lực lớn hơn, ta sẽ tới được Nhị thiền hay Tam thiền. Và với lực vào mạnh hơn nữa ta có thể đạt đến Tứ thiền. Lực đi vào chỉ có thể tạo ra ở ngoài định, lúc sự tự chủ còn có thể. Loại “lực” được đề cập ở đây là lực của sự buông xả (letting go)

“Buông xả” được nuôi dưỡng trước khi nhập vào định

Sự buông xả được nuôi dưỡng trước khi nhập vào định đến mức nó trở thành một khuynh hướng tự động của tâm trí, một khuynh hướng tự nhiên mạnh mẽ. Nếu ta đi vào cửa của định với với “lực buông xả” không đủ mức, ta sẽ dừng lại ở Sơ thiền. Với lực buông xả tự động mạnh hơn, ta sẽ đạt tới Nhị thiền hay Tam thiền. Với một thế lực rất mạnh của sự buông xả, ta sẽ đạt tới Tứ thiền. Tuy nhiên ta không thể làm tăng sức mạnh của sự buông xả trong khi đang ở trong định. Khi ta đi vào với sức lực nào ta sẽ chỉ có như thế.

Nhớ lại trải nghiệm về sự an lạc

Ta có thể nuôi dưỡng “lực buông xả” ngoài trạng thái định bằng cách ôn lại những trải nghiệm về an lạc và bằng cách nhận biết những chướng ngại gọi là dính mắc. Khi tâm trí nhận ra hạnh phúc của trạng thái buông xả là siêu vượt thế nào, thì sự buông xả phát triển hơn. Đôi khi tôi cũng dạy cái tâm trí ngoan cố của tôi bằng cách nghĩ rằng:” Tâm trí, xem này, xem biết bao an lạc trong trạng thái của buông xả! Tâm trí! Đừng quên nhe tâm trí! Nhớ nhé, đồng ý không? Rồi thì tâm trí học được cách buông xả mạnh mẽ hơn. Hoặc tâm trí có thể nhận biết những chướng ngại đối với sự an lạc sâu là các mức độ khác nhau của dính mắc, cái sẽ ngăn chặn sự buông xả và cản trở an lạc. Khi tâm trí học bằng cách ôn lại, nhận biết các kẻ thù của hạnh phúc –tức cái dính mắc- thì khuynh hướng buông xả trở nên mạnh hơn nhờ trí tuệ. Đây là cách ta có thể nuôi dưỡng sức mạnh của buông xả ngoài trạng thái định, để có thể nhập định với sự buông xả mạnh mẽ hơn, nhằm đạt đến một định jhana sâu hơn.

Mỗi định lại nằm trong một định khác

Cách khác để biết cách ta di chuyển từ định này sang định khác là ví dụ so sánh hoa sen nghìn cánh. Mỗi cánh trong hoa sen nghìn cánh mở ra theo thứ tự, kế tiếp một cách chặt chẽ, chỉ sau khi được mặt trời hơ ấm. Sơ thiền được so sánh với những cánh hoa hàng thứ 993. Ngay khi hàng cánh thứ 993, được hơ ấm bởi mặt trời, giữ và che dấu bên trong hàng cánh hoa thứ 994, thì cái Sơ thiền hiếm hoi và mong manh được hơ ấm bởi sự buông xả, giữ và che bên trong cái Nhị thiền vốn có nhiều an lạc hơn. Khi hàng cánh hoa thứ 993 mở ra, thì hàng cánh hoa thứ 994 xuất hiện trong trung tâm của nó. Cùng một cách như vậy khi Sơ thiền mở ra thì Nhị thiền xuất hiện tại trung tâm của nó. Như vậy Nhị thiền thực sự nằm trong Sơ thiền, và Tam thiền nằm trong Nhị thiền, Tứ thiền nằm trong Tam thiền.

Bằng cách nhìn khác, trong ví dụ căn nhà có bốn phòng, các phòng đồng tâm. Như vậy ta không thể đi ra khỏi Sơ thiền để đi vào Nhị thiền. Thay vì thế ta phải đi sâu hơn vào Sơ thiền để vào Nhị thiền, sâu hơn vào Nhị thiền để đến Tam thiền, và sâu hơn vào Tam thiền để đến Tứ thiền. Mức độ kế tiếp của định luôn luôn nằm bên trong của định hiện tại.

Năng lực của Nguyện

Khi ta đã có thật nhiều kinh nghiêm với định jhana, ta có thể di chuyển từ định này sang định khác bằng cách sử dụng năng lực của Nguyện (Aditthana). Trong bài viết này, chữ Pali Aditthana biểu thị cho cách lập trình tâm trí của người phật tử. Lúc khởi đầu thiền định, ta có thể lập trình tâm trí để nhập vào một định đặc biệt nào đó trong một khoảng thời gian đã lập trình trước. Tuy nhiên, điều này chỉ thực hiện được với ai đã rất quen thuộc với đích đến và rất quen với con đường đó. Đây là phương pháp được sử dụng bởi nhiều người thực hành thiền đã hoàn thiện. Giống như ta lập chế độ bay tự động sau khi cất cánh. Tuy nhiên đối với ngay cả những người hành thiền thành thạo, để đi đến một định đặc biệt nào đó, lộ trình phải luôn giống như cũ. Ví dụ, nếu ta lập trình tâm trí đi vào Tam thiền, thì lộ trình bắt buộc phải đi qua Sơ thiền, rồi qua Nhị thiền để đến Tam thiền. Tuy vậy, ta có thể đi qua những trạng thái định thấp hơn một cách thật nhanh.

VIII. Đạt các Định Vô Sắc

Trong ví dụ hoa sen nghìn cánh đã nêu trên, hàng cánh hoa thứ 993 biểu thị cho Sơ thiền, hàng thứ 994 biểu thị Nhị thiền, hàng thứ 995, 996 biểu thị Tam thiền và Tứ thiền. Tuy nhiên bạn có thể thắc mắc hàng thứ 997,998, 999 và 1000 biểu thị cho cái gì?

Vượt quá bốn định Jhana là bốn chứng đạt vô sắc giới. Rất cần phải chú thích rằng, trong kinh điển, Đức Phật không gọi những chứng đạt này là Định (Jhana). Chỉ trong các chú giải, biên tập hàng ngàn năm sau này, mới gọi chúng là các Định (Jhana).

Bốn chứng đạt vô sắc là:

  1. Cơ sở tâm trí Không vô biên xứ (the mind-base of unlimited-space)
  2. Cơ sở tâm trí Thức vô biên xứ (The mind-base of un-limited consciousness)
  3. Cơ sở tâm trí Vô sở hữu xứ (The mind-base of nothingness)
  4. Cơ sở tâm trí Phi tưởng phi phi tưởng xứ (The mind-base of neither perception nor non-perception)

Cũng như Tứ thiền nằm bên trong Tam thiền, chứng đạt vô sắc thư nhất nằm bên trong Tứ thiền, chứng đạt vô sắc thứ hai nằm trong chứng đạt vô sắc thứ nhất, và cứ như thế giống như những hàng cánh của hoa sen tàn. Vậy, Bốn chứng đạt vô sắc có những đặc tính của các định jhana.

Giống như ba định jhana đầu tiên lấy các hình thái khác nhau của an lạc làm đối tượng và định Tứ thiền lấy trạng thái thăng hoa của an bình tinh khiết làm đối tượng, mỗi một trong các chứng đạt vô sắc lấy một đối tượng thuần túy tâm trí làm đối tượng. Tôi gọi các tri giác về những đối tượng này là những “cơ sở tâm trí” (mind bases) bởi vì chúng là các nền tâm trí mà trên đó các chứng đạt vô sắc tựa vào. Khi các “nền tâm trí” bất động này càng tinh ròng và trống rỗng thì các chứng đạt vô sắc càng cao.

Trong Tứ thiền, chánh niệm rất mạnh, yên tĩnh, chỉ quan sát cái an bình hoàn hảo ngoài thế giới của năm giác quan và định chính xác tại một điểm. Trong trạng thái nhất định tâm cực đỉnh, những khái niệm thông thường thuộc thế gian được vắt sạch và thay vào đó là các tri giác không thuộc thế gian.

Ví dụ, khi người hành thiền ở những giai đọan đầu của thiền định trở nên hoàn toàn tập trung vào khoảnh khắc hiện tại, định nhất tâm trong thời gian,  những khái niệm thường có về thời gian bị loại bỏ và được thay bằng những tri giác về thời gian không thuộc thế gian. Khi ta tập trung hoàn toàn vào khoảnh khắc hiện tại, một mặt ta nhận thấy không có thời gian trôi qua, một mặt ta lại thấy dường như ta trải qua tất cả thời gian của thế giới. Trong cái điểm tuyệt đối của “bây giờ”, thời gian không có rìa cạnh, không xác định được và không đo đếm được. Cùng một lúc nó là vô tận và trống không. Nó không có giới hạn (ananta). Trải nghiệm về nhất định tâm trong thời gian, được thấy rất sớm trong thiền, có thể là chìa khóa để thấu hiểu cái cảm giác đồng thời của vô tận và hư không, trong những trạng thái sâu hơn của nhất định tâm, gọi là các chứng đạt vô sắc.

Kể từ đệ Tứ thiền, tâm trí có thể nhìn vào an bình hoàn hảo để tri giác cái “định nhất tâm tuyệt đối trong không gian”. Đây là một trong những đặc điểm của đệ Tứ thiền, nó luôn có thể quán sát như vậy, và nó là cửa dẫn vào các chứng đạt vô sắc. Trong định nhất tâm tuyệt đối này, không gian được tri giác với cả hai tính chất vô biên và hư không, một loại không có không gian. Bởi vì vật chất (rupa), cái luôn có giới hạn không gian, được tri giác như trống rỗng, chứng đạt này và những chứng đạt tiếp theo được gọi là các chứng đạt vô sắc (arupa).

Cơ sở tâm trí của Không vô biên xứ

Chứng đạt vô sắc thứ nhất là cơ sở tâm trí về không gian vô tận, được tri giác như cả hai yếu tố vô tận và trống rỗng, không đo lường được và không xác định được. Đây là tri giác tràn đầy trong tâm trí và kéo dài không gián đoạn trong một thời gian dài. Chánh niệm, mạnh mẽ, yên tĩnh, tinh khiết, quan sát trên tri giác này vơi sự hài long.

Cơ sở tâm trí của Thức vô biên xứ

Trong tri giác của không gian vô biên, là tri giác về sự “không có không gian” và về một “không gian đã mất ý nghĩa của nó”. Khi tâm trí theo dõi đặc điểm này trong chứng đạt vô sắc thứ nhất, không gian biến mất và được thay bằng tri giác về một nhất định tâm tuyệt đối của ý thức. Giống như phần trên, về trải nghiệm thông thường của nhất định tâm trong thời gian, trong trạng thái tri giác về nhất định tâm trong ý thức, ý thức đồng thời cảm nhận vô tận và trống rỗng, không đo lường và xác định được. Ta đã đi vào chứng đạt vô sắc thứ hai về cơ sở trí tuệ của thức vô biên xứ. Đây là tri giác hoàn toàn tràn ngập tâm trí và tồn tại không thay đổi trong một thời gian dài hơn các trạng thái trước.

Cơ sở tâm trí của vô sở hữu xứ

Trong tri giác của ý thức vô biên xứ có tri giác về sự “không có ý thức”, về một “ý thức đang mất đi ý nghĩa của nó”. Khi tâm trí tập trung vào đặc điểm này trong chứng đạt vô sắc thứ hai, tất cả tri giác về ý thức biến mất. Tri giác về hình thái vật chất và về không gian đều hoàn toàn biến mất, và tất cả chỉ còn lại là nhất định tâm về “không có vật gì”. Ta đã đi vào chứng đạt vô sắc thứ ba của cơ sở tâm trí Vô sở hữu xứ. Đây là khái niệm hoàn toàn tràn ngập tâm trí, tồn tại không thay đổi trong một thời gian dài hơn các trạng thái trước nữa.

Cơ sở tâm trí của Phi tưởng phi phi tưởng xứ

Trong tri giác của vô sở hữu xứ là tri giác về không của “không có gì. Nếu tâm trí đủ tế nhị để thấy đặc điểm này thì tri giác về vô sở hữu biến mất và thay vào đó là tri giác về “không có tri giác” cũng không “không có tri giác”. Tất cả gì mà ta có thể nói về đạt chứng vô sắc thứ tư là như thế, chỉ là một tri giác (AN 9’s, 42). Trong ví dụ hoa sen nghìn cánh, trạng thái nàybiểu thị cho hàng cánh hoa thứ 1000, vẫn còn khép kín, với 999 hàng cánh hoa khác đã mở ra hoàn toàn. Cánh hoa thứ 1000 hầu như chẳng phải là cánh hoa, là cái tế vi nhất và thăng hoa nhất trong tất cả. Bởi vì cái mỏng manh như tơ lụa của nó nắm chặt khái niệm nổi tiếng “Châu ngọc bên trong tim đóa hoa sen”, Níp bàn.

IX. NÍP BÀN sự chấm dứt mọi tri giác

Trong tri giác của phi tưởng phi phi tưởng xứ chứa đựng sự chấm dứt của mọi tri giác. Sự ngừng lại của tất cả những gì được tri giác, Níp bàn. Khi tâm trí chú ý vào điều này, tâm trí sẽ dừng lại. Khi tâm trí vận hành trở lại ta đạt được các quả A La Hán hay A na hàm, đây là các khả năng duy nhất.

Qui trình của sự đoạn tận lần lượt

Một cách khác để nhìn các định jhana và bốn chứng đạt vô sắc là đặt chúng vào qui trình của sự đoạn tận lần lượt. Qui trình dẫn đến Sơ thiền là sự đoạn tận với thế giới của năm giác quan cùng với cơ thể và mọi tác hành (doing). Con đường từ Sơ thiền đến đệ Tứ thiền là sự đoạn tận phần của tâm trí nhận biết sung sướng và không sung sướng. Con đường từ đệ Tứ thiền đến bốn chứng đạt vô sắc là sự đoạn tận, hầu hết, các hoạt động còn lại của tâm trí hay cái tâm trí gọi là “cái biết” (Knowing). Bước sau chót là đoạn tận vết tích cuối cùng của cái biết. Thông qua tứ thiền (jhana) và bốn chứng đạt vô sắc, đầu tiên ta buông xả thân thể và thế giới của năm giác quan. Kế đó ta buông xả chủ thể hành động. Kế đó buông xả cảm giác sướng khoái và không sướng khoái. Kế đó buông xả không gian và ý thức. Kế đó buông xả tất cả Cái biết. Khi ta buông xả một đối tượng, đối tượng biến mất, đoạn tận. Nếu nó còn ở đó, nghĩa là ta chưa buông xả. Bằng cách buông xả tất cả Cái biết, cái biết đoạn tận. Đây là sự đoạn tận của tất cả mọi thứ, kể cả tâm trí. Đây là nơi không có biểu hiện của ý thức, nơi mà đất, nước, lửa gió không có nơi để tồn tại, nơi mà Danh và Sắc hoàn toàn bị tiêu hủy (DN 11, 85). Hư không. Đoạn tận. Níp bàn. Ngọc báu trong tim hoa sen.

Lời cuối

Trong đoạn bài này về các định Jhana, tôi đã hướng dẫn các bạn qua một hành trình lý thuyết, bằng cách thực hành lên các rặng núi cao, nơi có các đỉnh lớn như Định (Jhana) và cao hơn nữa đến các đỉnh hiếm hoi là các chứng đạt vô sắc. Mặc dù hành trình, trong thời điểm hiện tại, dường như vượt quá khả năng của bạn. Nhưng trong tương lai, bạn vẫn có thể thấy chính mình đi trên con đường này. Vì vậy, vẫn có ích cho bạn ngày hôm nay nếu có sẵn tấm bản đồ này trước mặt.

Hơn thế nữa, các định Jhana giống như những mỏ vàng to lớn, nhưng chúng chứa những trí tuệ còn quí hơn bất cứ một loại quí kim nào. Chúng cung cấp những chất liệu sinh động, những dữ kiện không ngờ. Chúng xây dựng những tuệ đặc biệt khai mở mắt ta về Nip Bàn. Những Định Jhana là ngọc báu trang hoàng cho diện mạo Đạo Phật. Hơn thế nữa, không những chúng chỉ thiết yếu cho trải nghiệm chứng ngộ, mà chúng còn có thể hiện thực được trong ngày nay!

Tôi kết luận phần này bằng những lời của Đức Phật:

Natthi Jhanam Apannassa

Không có Định nào mà không có Tuệ

Panna Natthi Ajhayato

Không có Tuệ nào mà không có Định

Yamhi Jhanan Ca Panna ca

Với người có cả Định và Tuệ

Sa Ve Nibbana Santike

Họ đã gần với Níp-Bàn

(Kinh Pháp Cú, đoạn 372)

———-ooOoo———

This book may be copied or reprint for free distribution without permission from the publisher.

Otherwise all rights reserved.

October 2005

THE JHANAS

An Inward Journey Book PUBLISHED BY

INWARD PATH PUBLISHER @ House of Inward Journey 35 Lebuh Batu Maung 8, Iping Garden 11960 Bayan Lepas, Penang, Malaysia Tel / Fax: 04-6264 696

P.O. Box 1034,10830 Penang, Malaysia
Email: sunanda@pc.jaring.my. sunandahelim@gmail.com www.buddhanet.net/ipp.htm

ISBN 983-3512-05-4 (IJ111/05)

COPYRIGHT @ 2005 Ajahn Brahmavamso

“This book is for FREE DISTRIBUTION ONLY and printed and published with permission granted by Ajahn Brahmavamso; and is made available by

Bro Khaw Cheow Poh & Sis Amy Khaw Mei Chen

Special Thanks to

Ajahn Brahmavamso and all the donors.

ALL RIGHTS RESERVED

This book had been published for Free Distribution Only and NOT for Sale.

For additional information, please contact the author and publisher.

FIRST EDITION: DHAMMA JOURNAL Vol. 4, No. 1, 2003 (January) published by

Buddhist Society of Western Australia, Perth, AUSTRALIA

SECOND RE-PRINT: 3,500 copies May 2003 printed by BGF, Selangor, MALAYSIA

REVISED EDITION: 2003 published by Buddhist Fellowship, SINGAPORE

THIS EDITION 2,000 copies year 2005 Penang

COVER DESIGN & BOOK LAYOUT BY Sunanda Lim

PRINTED IN PENANG, MALAYSIA

———-ooOoo———

May the merits generated be to the well-being and happiness of the donors, departed ones and all sentient beings.

May all beings be liberated from suffering.

Sadhu! Sadhu! Sadhu!

The JHANA by AjahnBrahmavamso in PDF—-> Dowload here

———-ooOoo———

 


Kính Mừng Đại Lễ Tam Hợp – PL 2554

Namo tassa bhagavato arahato sammā sambuddhassa
Kính mừng Đại lể Tam Hợp Rằm tháng tư – Visakha puja PL 2554

( BỒ TÁT ĐẢN SINH – BỒ TÁT THÀNH ĐẠO – PHẬT NHẬP NÍP BÀN)


VISAKHA PUJA- Đại Lễ Tam Hợp

ajaanleedhammadharoBy Ajaan Lee Dhammadharo

Chú thích của Thanissaro:

Nữ  cư  sĩ Arun Abhivanna lấy note trong buổi thuyết pháp của Ajaan lee tại chùa Asokaram này 24/05/ 1956, sau đó chép lại tóm lược này.

Bài này được in ra với sự đồng ý của Ajaan Lee, như một phần của cuốn sách “Four years’s sermons”.

Puja ca pujaniyanam

Etammangalamuttamam

Tưởng niệm ân đức đối với những người xứng đáng được tưởng niệm:

Đây là sự chúc phúc cao cả nhất.

Bây giờ tôi sẽ thuyết pháp, thảo luận về những lời dạy của Đức Phật, như một đóng góp làm mỹ mãn thêm cho chánh niệm và tuệ giác của tất cả thính chúng đã tập hợp đến đây. Để mọi người sẽ có thể đem Giáo Pháp vào thực hành và đạt được những lợi ích từ việc nghe Giáo Pháp.

Hôm nay, Visakha Puja (Lễ tam hợp), là một ngày vô cùng quan trọng trong truyền thống Phật giáo, đó là ngày mà Ðức Phật đã được sinh ra, ngày mà 35 năm sau đó ngài tự chứng ngộ, và rồi sau đó 45 năm nữa Ngài nhập níp bàn. Các sự kiện đã xảy ra vào cùng ngày trăng tròn của tháng năm, khi mặt trăng cùng nằm trong một tập hợp với chòm sao Visakha, đó là lý do tại sao ngày này được gọi là Lễ Visakha.

Hàng năm, khi lại đến ngày quan trọng này, Phật tử chúng ta lại có cơ hội tưởng niệm Ðức Phật như là một cách để bày tỏ lòng biết ơn của chúng ta đối với Ngài. Chúng ta hy sinh lợi nhuận của công việc hàng ngày để thay vào đó bằng một lợi ích tinh tế hơn như thực hành lòng nhân ái, chăm giữ giới luật, và lắng nghe Giáo Pháp. Điều này được gọi là tưởng niệm đến ân đức của tam bảo: Ðức Phật, Giáo Pháp, và Tăng đoàn. Ðức Phật giống như cha của chúng ta, Giáo Pháp giống như mẹ của chúng ta – mà từ đó sinh ra trí tuệ của lời Phật dạy. Hiện nay, cha của chúng ta đã qua đời, chỉ có mẹ của chúng ta còn sống. Cả hai, cha và mẹ đã bảo vệ chăm sóc chúng ta, để chúng ta có thể ở lạị tự do và hạnh phúc cho đến nay. Như vậy, chúng ta đã mang nợ và chúng ta nên thể hiện lòng biết ơn bằng cách nhận ra rằng chúng ta là con cái của họ.

Thường, khi cha mẹ chết, người ta phải khóc và than van, mặc màu đen, vv… như là một cách để biểu hiện tang chế. Ngày Visakha Puja, đó là ngày kỷ niệm cha của chúng ta, Ðức Phật, đã qua đời. Chúng ta cũng cùng biểu lộ sự tang chế, nhưng chúng ta làm điều đó bằng một cách khác. Thay vì khóc, chúng ta ca ngợi những ân đức của Ðức Phật, Giáo Pháp, và Tăng đoàn. Thay vì mặc y phục màu đen, chúng ta cởi bỏ các vật trang sức, không thoa hương thơm, và ăn mặc thật đơn giản. Chúng ta thôi không dùng nệm giường thoải mái mà ta vẫn sử dụng mỗi ngày. Thay vì ăn ba hay bốn lần một ngày như thường khi, chúng ta cắt bớt lại còn chỉ một hoặc hai lần. Chúng ta từ bỏ các lạc thú hàng ngày nếu chúng ta muốn biểu hiện sự tiếc thương Ðức Phật – cha của chúng ta – một cách chân thành và chính đáng.

Ngoài việc này, chúng ta mang theo hoa, nến, hương để dâng lên tưởng niệm ân Ðức Phật, Giáo Pháp, và Tăng đoàn. Điều này được gọi là amisa-puja, tức sự tưởng niệm ân bằng vật chất. Đây là một hình thức thực hành ở mức độ bên ngoài, một loại của ngôn từ và hành động. Nó thường thể hiện dưới hình thức nhân ái và đức hạnh, nhưng không được kể như là hình thức cao nhất của sự niệm ân.Còn có một mức độ niệm ân khác mà Ðức Phật đã nói- patipatti-puja, là tưởng niệm bằng sự thực hành giáo pháp. Chính đó mới là mức độ siêu vượt: tức là sự thực hành pháp, phát triển của tâm trí để nó có thể an trụ vững chắc vào bản chất tốt đẹp bên trong, độc lập với bất kỳ và tất cả các đối tượng bên ngoài. Đây là điểm rất quan trọng mà Ðức Phật muốn chúng ta tập trung càng nhiều càng tốt, bởi vì loại thực hành này đã giúp Đức Phật đạt đến quả vị tối thượng và trở thành bậc chánh đẳng chánh giác, và đã giúp nhiều đệ tử cao thượng của ngài trở thành những vị A La Hán. Vì vậy, chúng ta phải chú tâm noi gương của họ như một cách để bước theo dấu chân của cha mẹ chúng ta. Bằng cách này, chúng ta có thể được gọi là kẻ biết ơn, là kẻ thừa tự trung thành, bởi vì chúng ta đã trân trọng lắng nghe lời dạy của cha mẹ và hiện thực lời dạy bằng sự thực hành pháp.

“Những câu kệ từ Mangala Sutta mà tôi trích dẫn ở đầu của thảo luận, Puja ca pujaniyanam etammangalamuttamam, có nghĩa là “Tưởng niệm đến những gì xứng đáng tưởng niệm: Đây là chúc lành cao nhất.”. Có hai loại tưởng niệm, như chúng ta đã đề cập: tưởng niệm vật chất và tưởng niệm thông qua việc thực hành pháp. Cùng với hai cách tưởng niệm, người ta nhắm hy vọng vào hai loại hạnh phúc. Một số người thực hành với mục đích muốn tiếp tục vòng luân hồi sanh tử, với mục đích của hạnh phúc của thế gian. Kiểu này được gọi là thực hành vattagamini-kusala, hoặc kĩ năng đi vào luân hồi. Ví dụ, họ chăm giữ các giới luật, để từ đó họ sẽ được tái sanh có thân người tốt đẹp hay được làm thiên nhân trong các cõi trời. Họ thực hành bố thí để họ sẽ không phải nghèo khó, mà được tái sanh giàu có, như chủ ngân hàng hoặc làm vua. Loại kĩ năng này nhiều nhất là tạo ra sự tốt đẹp cho tái sanh trong cõi người hay cõi trời. Điều này chỉ như đi vòng quanh các cõi giới mà cuối cùng không tới được bất cứ đích nào.

Lý do khác mà một số người có thể dùng để tưởng niệm là thoát ra khỏi đau khổ. Họ không muốn trôi lăn qua sinh tử của thế giới này. Điều này được gọi là vivattagamini-kusala, kĩ năng vượt thoát khỏi luân hồi.

Cả hai loại thực hành, đều có cứu cánh là hạnh phúc, nhưng một là hạnh phúc với khoái lạc trần gian, và một là hạnh phúc ở trên, vượt qua khỏi thế giới. Khi chúng ta phải tưởng niệm ân Ðức Phật, Giáo Pháp, và Tăng Đoàn, không phải là chúng ta nhận phước báu của việc thực hành và cố gắng để suy tôn tam bảo nhiều hơn. Thực ra, những gì mà chúng ta đang làm là phát triển sự tốt đẹp cho chính bản thân chúng ta. Vì thế để tìm kiếm sự tốt đẹp, chúng ta phải giữ trong tâm một quan điểm như Ðức Phật đã dạy: Asevana ca balanam panditanañca sevana, điều này có nghĩa là, “không gần gũi với kẻ ngu, chỉ gần gũi với những người trí tuệ. Chỉ như thế, chúng ta sẽ được an toàn và hạnh phúc.

“Người ngu” ở đây có nghĩa là người có tư duy và hành động hiểm độc và xấu ác. Họ hành xử hiểm độc trong hành động của họ – giết hại, trộm cắp, tà dâm – và hiểm độc trong lời nói: nói dối, nói gây bất hòa, nói lừa gạt những người khác. Nói cách khác, họ hoạt động như kẻ thù của một xã hội tốt đẹp. Đó là những gì mà chúng ta định nghĩa người ngu. Nếu bạn kết hợp với những loại người này, nghĩa là bạn cho phép họ kéo bạn vào một cái hang, nơi không có gì ngoài bóng tối. Bạn càng xuống sâu, nó càng tối, đến khi bạn không còn nhìn thấy bất kỳ ánh sáng nào cả. Không có cách nào thoát ra ngoài. Bạn càng gắn bó với người ngu, bạn càng ngu, và bạn thấy mình trợt vào con đường chẵng dẫn đến đâu ngoài đớn đau và thống khổ. Nhưng nếu bạn gắn liền với những người trí tuệ và khôn ngoan, họ sẽ đưa bạn trở ra ánh sáng, bạn sẽ có thể trở nên thông tuệ hơn. Bạn sẽ có con mắt để thấy điều gì tốt, điều gì xấu, cái gì đúng, cái gì sai. Bạn sẽ có thể tự giúp mình thoát khỏi mọi khổ đau và rối rắm, và sẽ được hạnh phúc, tiến bộ, an lạc. Đây là lý do tại sao chúng tôi giảng dạy chỉ nên kết bạn với người tốt, tránh kết bạn với người xấu.

Nếu chúng ta kết bạn với những người xấu, chúng ta sẽ gặp các rắc rối và đau đớn. Nếu chúng ta kết bạn với những người tốt, chúng tôi sẽ tìm được với hạnh phúc. Đây là một cách tự chúc phúc để tự bảo vệ cho chính mình. Loại chúc phúc này chúng ta có thể tự chúc cho bản thân vào bất cứ lúc nào và bất kỳ nơi nào. Chúng ta sẽ được bảo vệ ở bất cứ nơi nào, bất cứ khi nào khi chúng ta muốn. Vì lý do này, chúng ta sẽ chúc một lời chúc bảo vệ phước lành cho bản thân ở mọi lúc, mọi nơi vì sự an ổn của chính chúng ta.

Đối với những việc tưởng niệm xứng đáng: cho dù đó là các tưởng niệm vật chất hoặc tưởng niệm thông qua việc thực hành, các hành động tưởng niệm đều mang đến một phước lành bảo hộ theo cùng một cách. Nó mang đến hạnh phúc theo cùng một cách. Những hạnh phúc thế gian, phụ thuộc vào những con người và các sự vật bên bên ngoài, phải chịu dựng cái chết và tái sanh; nhưng hạnh phúc của Giáo Pháp là loại hạnh phúc bên trong hoàn toàn phụ thuộc vào cái tâm. Nó giải thoát mọi khỏi đau khổ và căng thẳng, không lôi kéo chúng ta phải trở lại với cái chết và tái sanh trên thế gian nữa. Hai hình thức hạnh phúc đến từ cách tưởng niệm bằng vật chất và tưởng niệm bằng thực hành, là những thứ hoặc có thể làm cho chúng ta hoặc phải trở lại với tái sanh, hoặc giúp cho chúng ta thoát khỏi bị tái sanh. Sự khác biệt nằm ở một điều nhỏ nhặt: Chúng ta muốn được tái sanh hay không.

Nếu chúng ta tạo ra những nhân cho quả về dài lâu, quả sẽ lâu đến. If we create short causes, the results will have to be short, too. Nếu chúng ta tạo nhân mau cho quả, quả sẽ đến nhanh. Long, drawn-out results are those that involve death and rebirth without end. Nhân đưa đến quả dài lâu về sau liên kết với cái chết và tái sanh không ngừng. This refers to the mind whose defilements haven’t been polished away, the mind that has cravings and attachments fastened on the good and bad actions of people and things in the world. Điều này đề cập đến cái tâm ô nhiễm chưa được gột rửa, tâm còn khát ái và còn các dính mắc vào hành động tốt và xấu của người và vật trên thế gian. If people die when their minds are like this, they have to come back and be reborn in the world. Nếu người ta chết với tư duy như thế, họ phải quay lại và  tái sanh trên thế giới. To create short causes, though, means to cut through and destroy the process of becoming and birth so as never to give rise to the process again. Để tạo ra nhân mau trổ quả có nghĩa là cắt ngang và tiêu hủy quá trình “trở nên” và “tái sanh” như vậy không bao giờ để cho tiến trình phát sinh trở lại. Điều này đề cập đến cái tâm bên trong mà sự ô nhiễm đã được rửa sạch và tiêu trừ. Điều này có được bằng cách kiểm tra tội lỗi và các hình thức của bất thiện khởi lên bên trong tâm của chúng ta, bằng cách ghi nhớ trong tâm trí các đức hạnh của Ðức Phật, Giáo Pháp, và Tăng đoàn, hoặc bất kỳ một trong 40 đề mục thiền định nêu lên trong kinh văn, cho đến khi chúng ta có thể nhìn xuyên suốt tất cả các tâm được tạo dựng với bản chất của chúng như các sự kiện. Nói cách khác, chúng ta phải thấy cách chúng phát sinh, tồn tại, và sau đó tan rã. Chúng ta giữ mức nhận biết của chúng ta ngắn và gần gũi tức cơ thể của chúng ta, từ đầu đến chân, mà không có cột buộc với bất kỳ hành động tốt hay xấu của bất kỳ người nào hay bất cứ thứ gì trên thế giới. Chúng ta tìm một nền tảng cho cái tâm, để nó có thể an trụ cố định và an ổn hoàn toàn trong chính nó, mà không có ràng buộc vào tất cả, ngay cả đối với cơ thể. Khi chúng ta đã đạt đến tình trạng này, thì khi chúng ta chết, chúng ta sẽ không phải bơi ngược trở lại dòng tái sanh trên thế gian này nữa.

Cho dù chúng ta tưởng niệm bằng vật chất hay bằng sự thực hành pháp, nếu chúng ta đặt sự chú ý của tâm vào hành động của chúng ta – Ví dụ, nếu chúng ta chấp vào các hành động tốt của chúng ta, như việc thực hành đức hạnh, vị tha, vv… thì đó gọi là vattagamini-kusala, kĩ năng dẫn vào luân hồi. Cái tâm nói trên không được tự do. Nó đã trở thành nô lệ cho cái này hoặc cái kia, cho hành động này hoặc hành động kia,  sự lo lắng này này hoặc sự lo lắng kia. Đây là một nhân dài, đẩy chúng ta trở lại tái sanh. Nhưng nếu chúng ta đem những kết quả của việc làm tốt của chúng ta, cái gọi là đức hạnh, vị tha, vv… vào sâu bên trong cái tâm, để chúng ẩn trong tâm, để không cho tâm chạy theo nguyên nhân bên ngoài, điều này sẽ giúp giảm bớt tình trạng muốn “trở thành” và “tái sanh” của chúng ta, khiến cuối cùng, chúng ta không còn phải trở lại và tái sanh. Đây là vivattagamini-kusala, kĩ năng vượt thoát luân hồi. Đó là sự khác biệt giữa hai kĩ năng.

Tâm trí con người cũng giống như loại trái bael. Khi nó hoàn toàn chín, nó không thể ở lại trên cây. Nó phải rơi, phải chạm đất, và cuối cùng tiêu tan vào đất. Sau đó, khi nó được tiếp chạm với đúng số lượng không khí và nước, các hạt giống từng bước đâm chồi trở thành một cây, với các cành nhánh, hoa, trái có chứa tất cả các đặc tính của tổ tiên trong những  hạt của nó. Cuối cùng quả lại rơi vào mặt đất và lại mọc ra một cây khác. Việc này cứ luân hồi xoay vòng theo cùng một cách, mà không bao giờ đoạn diệt. Nếu chúng ta không tiêu diệt dưỡng chất trong các hạt giống, chất giúp nó sanh sản, nó sẽ giữ thừa kế di truyền đó cho đến một kỉ nguyên.

Nếu chúng ta muốn được thoát ra khỏi đau khổ và căng thẳng, chúng ta phải làm cho tâm của chúng ta thoát ra khỏi thế gian, thay vì để cho tâm rơi trở lại thế gian giống như cách trái bael đã làm. Khi tâm vượt thoát khỏi thế gian, nó sẽ tìm thấy một nơi an trú không để nó phải quay lại với tái sanh. Nó sẽ ở trên cao, hoàn toàn tự do, thoát khỏi mọi cột buộc.

Tự do ở đây có nghĩa là chủ quyền. Cái tâm tự chủ trong chính nó. Chịu trách nhiệm với chính nó. Nó không phải phụ thuộc vào bất cứ ai, và không phải bị nô lệ vào bất cứ điều gì cả. Trong bản thân, chúng ta thấy cái tâm ghép nối với cơ thể. Cơ thể không quan trọng chút nào, bởi vì nó không tồn tại lâu. Khi nó chết, các yếu tố đất, nước, gió, và lửa  tan rã và quay trở lại tình trạng ban đầu của chúng. Cái tâm rất quan trọng, bởi vì nó tồn tại. Đó là thành tố thật sự trú trong cơ thể. Nó chính là những gì khởi sinh cho trạng thái “trở thành” và “tái sinh”. Nó chính là cái trải nghiệm khoái lạc và đau đớn. Nó vẫn tồn tại, nhưng rất lạ là không thể nhìn thấy nó. Nó giống như những ngọn lửa của một cây nến: candle Khi cây nến lụi tàn, yếu tố lửa vẫn còn đấy, nhưng ánh sang không đi đâu. Chỉ khi chúng ta thắp lại cây nến mới, lúc đó lửa sẽ tái xuất hiện và phát ra ánh sáng một lần nữa.

Khi chúng ta quan sát Cơ thể (cấu tạo bởi các thành tố, các uẩn, trường cảm giác, và 32 chi thể) và Cái tâm (cái Biết) – rồi đơn giản hóa chúng vào các từ ngữ cơ bản nhất, chúng ta chỉ còn thấy có Danh (Nama) và Sắc (Rupa). Sắc cũng là một thuật ngữ ám chỉ cơ thể gồm có bốn yếu tố. Danh là một thuật ngữ ám chỉ cái tâm ở trong cơ thể, cái yếu tố tạo ra cơ thể. Nếu chúng ta muốn phân tích trạng thái của sự “trở thành” và “sinh ra”, chúng ta chỉ nên lấy hai phạm trù này làm khung qui chiếu: Danh và Sắc – bởi vì ta có thể cảm nhận chúng ngay trong hiện tại. Làm thế nào Danh (cơ thể) tồn tại? Nó vẫn còn tồn tại là nhờ hơi thở. Do đó, hơi thở là quan trọng nhất trong cuộc sống. Ngay sau khi ngưng thở, cơ thể liền phải chết Nếu hơi thở đi vào mà không đi ra, chúng ta phải chết. Nếu nó đi ra mà không đi vào, chúng ta phải chết.

Vì vậy, hãy suy nghĩ về hơi thở theo ý nghĩa này, trong mọi khoảnh khắc, mọi lúc, bất kể bạn đang ngồi, đứng, đi, nằm. Đừng hít thở mà không nhận biết được cái lợi ích của nó. Một người không nhận biết hơi thở của mình được gọi là chết, không quan tâm, thiếu chánh niệm. Như Ðức Phật đã nói, không quan tâm là đường dẫn đến nguy hiểm, đến cái chết. Chúng ta không nên để tâm chạy ra bên ngoài, để dính mắc vào những phiền não bên ngoài, như suy nghĩ về quá khứ hay tương lai, cho dù nó tốt hay xấu. Chúng ta phải giữ tỉnh thức với hơi thở vào ra ngay trong hiện tại,. Điều này được gọi là định nhất tâm (ekaggatarammana). Chúng ta không nên để tâm rơi vào vào bất kỳ suy nghĩ hay phiền não nào cả. Chánh niệm của chúng ta được thiết lập vững chắc bằng sự tỉnh thức của chúng ta ngay trong khoảnh khắc hiện tại. Từ đó tâm sẽ có thể phát triển sức mạnh, có khả năng chịu đựng bất kỳ phiền não nào đánh vào nó, tâm không còn sinh khởi cảm giác tốt, xấu, thích hay không thích – tức những trở ngại có thể làm tâm ô nhiễm.

Chúng ta phải giữ sự tỉnh thức trong hiện tại, luôn cảnh giác và nhanh chóng phát hiên ngay khi phiền não phát sinh và khi nó biến mất. Buông xả cả hai loại tâm tốt và xấu, không cột buộc vào chúng. Khi tâm chú ý bền vững trong chỉ một loại phiền não – hơi thở – nó sẽ tập trung, đến một lúc sẽ xuất hiện con mắt của trí tuệ bên trong. Ví dụ, nó có thể sinh ra thiên nhãn hay thiên nhĩ, khiến cho chúng ta có thể thấy các sự kiện trong quá khứ và tương lai, gần hoặc xa. Hoặc nó có thể sinh ra tuệ tri về các kiếp sống trước đó, chúng ta có thể biết làm thế nào mà chúng ta và các chúng sanh khác đã được sinh ra, đã chết, đã đến và đi, làm thế nào để biết tất cả những sự việc này sinh ra bởi các hành động tốt hay xấu. Điều này sẽ dẫn đến một cảm giác sợ hãi và chán chường với các trạng thái “trở thành” và “sinh ra”, và cũng giúp khuyến cáo chúng ta không bao giờ muốn tạo ra nghiệp xấu nữa.

Cái “chán chường” này đôi khi rất  hữu ích và tốt đẹp, mà chẳng có bất lợi nào. Nó không giống như là người anh em bà con của nó là cái “chán nhất thời”. Chán nhất thời là những gì sẽ xảy ra khi một người, ngày hôm nay ăn đến mức mà nếu ăn thêm nữa sẽ là mứa. Nhưng đến ngày mai, cái chán của anh ta hết và anh ta lại sẽ lại cảm thấy thích tiếp tục ăn thêm nữa..Cái chán chường này không bao giờ hết Bạn sẽ không bao giờ cảm thấy khoái lạc trong bất kỳ đối tượng nào mà bạn đã chán.. Bạn thấy sinh, lão, bệnh, tử như những căng thẳng và đau khổ, và bạn không bao giờ muốn tạo ra những điều kiện nào để buộc bạn phải quay lại chịu đựng các cảnh sinh, lão, bệnh, tử một lần nữa.

Yếu tố quan trọng cho bất cứ ai thực hành thiền để nhằm giải thoát ra khỏi mọi căng thẳng và đau khổ là sự bền bỉ và sức chịu đựng. Tất cả sự thiện luôn bị trở ngại chặn đường và luôn bị đe dọa tiêu diệt. Ngay cả khi Ðức Phật đã nỗ lực thực hành, binh đoàn của Ma Vương luôn ở sát cạnh để quấy nhiễu ngài liên tục, cố gắng giữ không cho ngài đạt được mục tiêu của mình. Tuy nhiên, ngài đã không đầu hàng, không để mất dũng khí, không từ bỏ các nỗ lực của mình. Ngài đã dùng sự chân thật hoàn hảo của mình, sử dụng nó để tránh thoát các lực lượng của Ma Vương, cho đến khi Ma vương bị đánh bại hoàn toàn. Ngài đã sẵn sàng đặt cuộc sống của mình trên chiến tuyến để đối chiến với các lực lượng của Ma Vương. Trái tim ngài cứng rắn, không bối rối, và dũng cảm. Đây là lý do tại sao cuối cùng ngài đã có thể đạt được một chiến thắng huy hoàng, thực hiện đại giác ngộ, trở thành Đức Phật của chúng ta. Đây là một ví dụ quan trọng tỏ rằng ngài là “cha” của chúng ta và hậu duệ đời sau của ngài phải chiêm ngưỡng và ghi nhớ trong tim.

Vì vậy, khi chúng ta có ý định tu tập tâm trí cho tốt, ắt cũng phải có trở ngại – đó là các lực lượng của Ma Vương – giống như trong trường hợp của Ðức Phật, chúng ta cần đơn giản lách tránh qua chúng, bằng cách sử dụng sức chịu đựng và chống lại chúng bằng tất cả khả năng của chúng ta. Bình thường khi chúng ta có cái gì tốt, sẽ có những người muốn có những gì mà chúng ta có. Giống như trái cây ngọt có xu hướng có sâu và côn trùng cố ăn nó. Một người đi bộ dọc theo con đường tay trống rỗng sẽ không thu hút sự chú ý của một ai, nhưng nếu chúng ta đang mang một cái gì đó có giá trị, chắc chắn sẽ có những người khác thèm muốn những thứ mà chúng ta đang có, và thậm chí sẽ cố gắng để ăn cắp nó.Nếu chúng ta mang thức ăn trong tay, chó hay mèo sẽ cố gắng chồm giựt thức ăn đó. Nhưng nếu chúng ta không có bất kỳ thực phẩm nào trong tay, chúng sẽ không nhảy chồm lên chúng ta.

Cũng giống như khi chúng ta thực hành. Khi thực hành tốt, nếu muốn thành công, chúng ta nên chấp nhận có các trở ngại. Chúng ta phải có trái tim cứng rắn như đá và kim cương, không bị thiêu đốt khi đặt vào trong lửa. Kể cả khi bị nghiền ra, các mảnh vụn vẫn cứng rắn như đá và kim cương. Đức Phật đã tạo ra trái tim cứng rắn thậm chí sau khi thiêu đốt, thành phần của thân thể ngài đã không cháy mà vẫn tồn tại như xá lợi cho chúng ta chiêm ngưỡng tới hôm nay. Đây là năng lực của sự trong sáng và chân thực.

Vậy chúng ta nên chú ý đến việc thanh tẩy cơ thể và tâm trí ,cho đến khi chúng thực sự tinh ròng, để lửa không thể thiêu đốt được, giống như xá lợi Phật. Ngay cả khi chúng ta không thể làm cho cơ thể cang cường như thế, thì ít ra chúng ta cũng làm cho nó giống như hột me nằm trong vỏ, côn trùng có đục xuyên vỏ ăn được phần thịt của trái me thì chúng cũng chẳng thể nào làm gì được với hột me cả. Hột me mãi luôn duy trì độ cứng.

Để tổng kết: Cắt ngang trạng thái “trở thành” và “tạo sinh” có nghĩa là kéo cái tỉnh giác của chúng ta vào trong. Chúng ta phải gom tâm và trồng cứng nó vào trong cơ thể không để cột buộc vào bất cứ hoạt động nào bên ngoài. Chúng ta phải buông xả mọi điều mọi loại, những cái tuân theo luật hiện tượng, sinh khởi và biến mất như bản chất của chúng. Chúng ta làm việc thiện, nhưng không để tâm trí chạy theo việc thiện. Chúng ta chỉ để cái quả của việc thiện mà ta đã làm đi vào tâm trí. Chúng ta lôi tất cả các thứ các loại ra khỏi tâm trí đừng để tâm trí phân tán ra ngoài, đừng vui hay buồn trước các hậu quả của các hành động hay sự việc nào khác bên ngoài. Chúng ta làm giống như cách trái bael giữ thân cành hoa lá của cây bael trong hột của nó. Nếu chúng ta có thể giữ cho điều kiện đất nước bên ngoài không kết hợp được với tiềm năng bên trong của cái hột thì nó sẽ không thể sinh ra một cây bael mới.

Tất cả những ai thực hành theo cách mà tôi đã thảo luận tại đây, người đó đang tưởng niệm ân của Đức Phật một cách đúng nhất. Người như thế sẽ được chúc phúc trọn đời.

Tôi đã bàn luận một vài câu kệ trong kinh Hạnh Phúc như một cách để phát triển tuệ trí, hầu chúng ta có thể thọ nhận những bài học, mang chúng vào việc thực hành pháp, như một cách để tưởng niệm ân Đức Phật, Giáo Pháp và Tăng Đoàn trong ngày Visakha này.

Bài pháp đến đây là vừa đủ. Vì thế xin được chấm dứt tại đây.

Evam

Thanissaro dịch từ tiếng Thái sang tiếng Anh

Phạm Doãn dịch từ Anh sang Việt


Ý Nghĩa rằm tháng tư

Tỳ khưu Hộ Pháp
(Dhammarakkhita Bhikkhu)

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa
Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn,
Đức Arahán, Đức Chánh Đẳng Giác ấy.

1- Kỷ niệm 2.550 năm, Đức Phật Gotama tịch diệt Niết Bàn.

2- Kỷ niệm 2.595 năm, Đức Bồ Tát Siddhattha thành Đức Phật Gotama.

3- Kỷ niệm 2.630 năm, Đức Bồ Tát Siddhattha đản sinh kiếp chót.

Đêm nào cũng là đêm, song đêm rằm tháng tư (âm lịch) là một đêm có ý nghĩa lịch sử trọng đại của Phật giáo.

Lịch sử trọng đại như thế nào?

* Ngày rằm tháng tư cách nay 2.630 năm, tại khu rừng Lumbinī (nay thuộc xứ Nepal), khoảng giữa kinh thành Kapilavatthu và kinh thành Devadaha, Đức Bồ Tát Thái tử Siddhattha đản sinh kiếp chót từ lòng bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayadevī của Đức vua Suddhodana thuộc dòng dõi Sakya.

* Canh chót đêm rằm tháng tư cách nay 2.595 năm, tại Đại cội Bồ Đề trong khu rừng Uruvela (nay gọi Bodh Gaya xứ Ấn Độ), tỉnh Senanigama, Đức Bồ Tát Siddhattha chứng đắc thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác có danh hiệu Đức Phật Gotama.

* Canh chót đêm rằm tháng tư cách nay 2.550 năm, tại khu rừng Sālā xứ Kusinārā (xứ Ấn Độ), Đức Phật Gotama tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.

Đó là 3 sự kiện trọng đại, tuy khoảng cách thời gian khác nhau, nhưng xảy ra đều trùng hợp vào đêm rằm tháng tư, đúng theo ý nguyện của Đức Phật Gotama. Cho nên, tất cả mọi người phật tử từ những bậc xuất gia đến các hàng tại gia cư sĩ trên toàn thế giới, đều lấy đêm rằm tháng tư, làm ngày lễ cúng dường Đức Phật, gọi là: “Vesakhapūjā”.

-ooOoo-

1- ĐỨC BỒ TÁT THÁI TỬ SIDDHATTHA ĐẢN SINH KIẾP CHÓT

Đức Bồ Tát Thái tử đản sinh kiếp này là kiếp chót.

Vậy kiếp bắt đầu của Ngài từ thuở nào?

Thật ra, từ vô thủy trước khi Đức Bồ Tát phát nguyện muốn trở thành một Đức Phật Chánh Đẳng Giác, thì không rõ kiếp bắt đầu của Ngài. Khi Đức Bồ Tát phát nguyện muốn trở thành một Đức Phật Chánh Đẳng Giác có trí tuệ ưu việt hơn đức tin và tinh tấn, Ngài đã trải qua vô số kiếp tử sinh luân hồi để hoàn thành 30 pháp hạnh ba-la-mật hầu mong chứng đắc thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác có trí tuệ ưu việt, trong suốt khoảng thời gian bằng một nửa thời gian của Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có đức tin ưu việt, và bằng một phần tư thời gian của Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có tinh tấn ưu việt.

10 pháp hạnh ba-la-mật là:

- Bố thí ba-la-mật (dānapāramī)
- Giữ giới ba-la-mật (sīlapāramī)
- Xuất gia ba-la-mật (nekkhammapāramī)
- Trí tuệ ba-la-mật (paññāpāramī)
- Tinh tấn ba-la-mật (vīriyapāramī)
- Nhẫn nại ba-la-mật (khantipāramī)
- Chân thật ba-la-mật (saccapāramī)
- Chí nguyện ba-la-mật (adhiṭṭhānapāramī)
- Tâm từ ba-la-mật (mettāpāramī)
- Tâm xả ba-la-mật (upekkhāpāramī)

30 pháp hạnh ba-la-mật chia làm 3 bậc:

- 10 pháp hạnh ba-la-mật bậc thường.
- 10 pháp hạnh ba-la-mật bậc trung.
- 10 pháp hạnh ba-la-mật bậc thượng.

* 10 pháp hạnh ba-la-mật bậc thường như thế nào?

Đức Bồ Tát tạo pháp hạnh ba-la-mật bậc thường nào chỉ có hy sinh của cải tài sản, ngôi báu, thậm chí đến vợ con,… để thành tựu pháp hạnh ba-la-mật bậc thường ấy mà thôi; nhưng không liên quan đến những bộ phận trong thân thể và sinh mạng của Ngài.

* 10 pháp hạnh ba-la-mật bậc trung như thế nào?

Đức Bồ Tát tạo pháp hạnh ba-la-mật bậc trung nào không những hy sinh của cải bên ngoài mình, mà còn phải hy sinh những bộ phận trong thân thể như mắt, v.v… để thành tựu pháp hạnh ba-la-mật bậc trung ấy; nhưng không liên quan đến sự hy sinh sinh mạng của Ngài.

* 10 pháp hạnh ba-la-mật bậc thượng như thế nào?

Đức Bồ Tát tạo pháp hạnh ba-la-mật bậc thượng nào không những hy sinh những của cải bên ngoài và các bộ phận trong thân thể, mà còn phải hy sinh sinh mạng của Ngài để thành tựu pháp hạnh ba-la-mật bậc thượng ấy.

Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có 3 hạng:

1- Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có trí tuệ ưu việt (paññādhikabodhisatta) thời gian tạo 30 pháp hạnh ba-la-mật trải qua 3 thời kỳ:

Thời kỳ đầu: Đức Bồ Tát phát nguyện trong tâm suốt 7 a-tăng-kỳ.

Thời kỳ giữa: Đức Bồ Tát phát nguyện ra bằng lời nói suốt 9 a-tăng-kỳ.

Thời kỳ cuối: Đức Bồ Tát được Đức Phật Chánh Đẳng Giác thọ ký xác định thời gian còn lại là 4 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp trái đất, để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác có trí tuệ ưu việt.

2- Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có đức tin ưu việt (saddhādhikabodhisatta) thời gian tạo 30 pháp hạnh ba-la-mật gấp đôi thời gian của Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có trí tuệ ưu việt, trải qua 3 thời kỳ:

Thời kỳ đầu: Đức Bồ Tát phát nguyện trong tâm suốt 14 a-tăng-kỳ.

Thời kỳ giữa: Đức Bồ Tát phát nguyện ra bằng lời nói suốt 18 a-tăng-kỳ.

Thời kỳ cuối: Đức Bồ Tát được Đức Phật Chánh Đẳng Giác thọ ký xác định thời gian còn lại là 8 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp trái đất, để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác có đức tin ưu việt.

3- Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có tinh tấn ưu việt (vīriyādhikabodhisatta) thời gian tạo 30 pháp hạnh ba-la-mật gấp đôi thời gian của Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có đức tin ưu việt, và gấp 4 lần thời gian của Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có trí tuệ ưu việt, trải qua 3 thời kỳ:

Thời kỳ đầu: Đức Bồ Tát phát nguyện trong tâm suốt 28 a-tăng-kỳ.

Thời kỳ giữa: Đức Bồ Tát phát nguyện ra bằng lời nói suốt 36 a-tăng-kỳ.

Thời kỳ cuối: Đức Bồ Tát được Đức Phật Chánh Đẳng Giác thọ ký xác định thời gian còn lại là 16 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp trái đất, để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác có tinh tấn ưu việt.

Đức Phật Gotama là Đức Phật Chánh Đẳng Giác có trí tuệ ưu việt. Tiền kiếp của Đức Phật Gotama là Đức Bồ Tát Chánh Đẳng Giác có trí tuệ ưu việt đã tạo các pháp hạnh ba-la-mật, trải qua 3 thời kỳ:

* Thời kỳ đầu: Đức Bồ Tát phát nguyện trong tâm muốn trở thành một Đức Phật Chánh Đẳng Giác, để tế độ, cứu vớt chúng sinh giải thoát khỏi biển khổ luân hồi trong ba giới bốn loài, trải qua suốt 7 a-tăng-kỳ như sau:

Nanda asaṅkhyeyya: Có 5.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Sunanda asaṅkhyeyya: Có 9.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Pathavī asaṅkhyeyya: Có 10.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Maṇḍa asaṅkhyeyya: Có 11.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Dharaṇī asaṅkhyeyya: Có 20.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Sāgara asaṅkhyeyya: Có 30.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Puṇḍarika asaṅkhyeyya: Có 40.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Tổng cộng trong 7 a-tăng-kỳ có 125.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Khi các pháp hạnh ba-la-mật của Đức Bồ Tát đã có đủ năng lực để tiến triển đến thời kỳ giữa.

* Thời kỳ giữa: Đức Bồ Tát phát nguyện ra bằng lời nói cho chúng sinh biết ý nguyện của Ngài muốn trở thành một Đức Phật Chánh Đẳng Giác, để tế độ, cứu vớt chúng sinh giải thoát khỏi biển khổ luân hồi trong ba giới bốn loài, trải qua suốt 9 a-tăng-kỳ như sau:

Sabbabhadda asaṅkhyeyya: Có 5.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Sabbalulla asaṅkhyeyya: Có 60.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Sabbaratanā asaṅkhyeyya: Có 70.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Usabhakkhandha asaṅkhyeyya: Có 80.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Mānibhadda asaṅkhyeyya: Có 90.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Paduma asaṅkhyeyya: Có 20.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Usabha asaṅkhyeyya: Có 10.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Khandhuttama asaṅkhyeyya: Có 5.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Sabbapāla asaṅkhyeyya: Có 2.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Tổng cộng trong 9 a-tăng-kỳ có 342.000 Đức Phật Chánh Đẳng Giác tuần tự xuất hiện trên thế gian.

Những tên a-tăng-kỳ (asaṅkhyeyya) và số lượng Đức Phật Chánh Đẳng Giác xuất hiện trên thế gian được ghi chép trong những bộ Sotattakī, bộ Tathā-gatuppatti, Chiengmai paṇṇāsa, bộ Jinakālamāli mà trong 6 kỳ kết tập Tam Tạng và Chú giải, Phụ chú giải không ghi lại rõ.

Tuy đã tạo các pháp hạnh ba-la-mật trải qua hai thời kỳ trên, nhưng vì Đức Bồ Tát chưa được một Đức Phật Chánh Đẳng Giác nào thọ ký xác định thời gian còn lại sẽ trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, nên Ngài vẫn còn là Đức Bồ Tát bất định (aniyatabodhisatta) nghĩa là Đức Bồ Tát vẫn có thể thoái chí, từ bỏ ý nguyện muốn trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác chỉ muốn trở thành Đức Phật Độc Giác hoặc Bậc Thánh Thanh Văn Giác.

Nếu Đức Bồ Tát có quyết tâm không lay chuyển, có ý nguyện muốn trở thành một Đức Phật Chánh Đẳng Giác, và tiếp tục tạo 30 pháp hạnh ba-la-mật, thì sẽ tiến triển đến thời kỳ cuối.

* Thời kỳ cuối: Đức Bồ Tát được Đức Phật Chánh Đẳng Giác thọ ký xác định thời gian còn lại, chắc chắn trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác trong thời vị lai.

Đức Bồ Tát tiền kiếp của Đức Phật Gotama là Đạo sĩ Sumedha đã chứng đắc 8 bậc thiền: 4 bậc thiền hữu sắc và 4 bậc thiền vô sắc; chứng đắc ngũ thông: Thần túc thông, nhãn thông, nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông (thuộc trong tam giới). Một hôm, Đức Bồ Tát Đạo sĩ Sumedha du hành bay trên hư không, nhìn thấy dân chúng xứ Rammavatī đang vui mừng hoan hỷ sửa sang đường sá. Muốn biết do nguyên nhân nào khiến người ta làm việc một cách hoan hỷ như vậy, Đạo sĩ liền đáp xuống và hỏi rằng:

- Thưa bà con, bà con sửa sang con đường này để cho ai đi, mà thấy bà con vui mừng hoan hỷ thế?

- Kính thưa Ngài Đạo sĩ Sumedha, Đức Phật Dīpaṅkara cao thượng nhất trong toàn cõi thế giới chúng sinh đã xuất hiện trên thế gian. Chúng tôi đang sửa sang con đường này để đón rước Đức Phật Dīpaṅkara cùng 400 ngàn chư Thánh Arahán sắp ngự qua đây.

Đức Bồ Tát Đạo sĩ Sumedha vừa lắng nghe danh từ “Buddha” (Đức Phật), tâm vô cùng hoan hỷ, suy nghĩ: “Đức Phật xuất hiện trên thế gian là một điều hiếm có, thật vô cùng hy hữu. Ta nên cố gắng gieo phước thiện, tạo duyên lành nơi Đức Phật”.

Đức Bồ Tát Đạo sĩ liền thưa với bà con rằng:

- Thưa bà con, bà con sửa sang con đường này để đón rước Đức Phật Dīpaṅkara cùng 400 ngàn vị Thánh Arahán ngự đến; xin bà con nhường cho bần đạo một đoạn đường, để bần đạo cùng sửa sang, đón rước Đức Phật cùng chư Thánh Arahán.

Dân chúng biết Đạo sĩ có nhiều oai lực thần thông, nên họ chỉ cho Đạo sĩ đoạn đường bùn lầy khó khăn nhất. Đạo sĩ nghĩ rằng:

“Nếu ta dùng phép thần thông để sửa đoạn đường này thì quá dễ, phước thiện sẽ không nhiều được. Vậy, ta nên tự dùng sức mình để sửa sang, chắc chắn sẽ có nhiều phước thiện vô lượng”.

Đức Bồ Tát dùng sức lực của chính mình, lấy đất từ nơi khác đến để san lấp mặt bằng, công việc sửa đoạn đường còn độ một sải tay nữa là hoàn thành.

Khi ấy, nghe mọi người reo hò vui mừng đón Đức Phật Dīpaṅkara cùng 400 ngàn chư Thánh Arahán sắp đến. Đức Bồ Tát Sumedha quyết định rằng: “Hôm nay ta xin cúng dường sinh mạng của ta đến Đức Phật Dīpaṅkara, bằng cách nằm sấp trên đoạn đường còn lại. Nguyện lấy tấm thân này làm một chiếc cầu, để cúng dường Đức Phật Dīpaṅkara cùng 400 ngàn chư Thánh Arahán ngự đi qua. Chắc chắn ta sẽ được sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc lâu dài”.

Đức Bồ Tát Sumedha suy tư rằng:

“Hôm nay, nếu ta từ bỏ ý nguyện muốn trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, thì chắc chắn ta sẽ trở thành một bậc Thánh Arahán trong giáo pháp của Đức Phật Dīpaṅkara, rồi sẽ tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sinh luân hồi trong tam giới chỉ một mình ta; nhưng còn bao nhiêu chúng sinh khác vẫn đang chìm đắm trong biển khổ tử sinh luân hồi. Ta không đành giải thoát khổ riêng một mình ta”.

Nghĩ vậy, với tâm đại bi vô lượng thương xót chúng sinh, nên Đức Bồ Tát Sumedha phát nguyện rằng:

- “Buddho bodheyyaṃ…” Khi ta tự mình chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác rồi; khi ấy ta sẽ thuyết pháp giáo hóa chúng sinh cũng chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn trở thành bậc Thánh Arahán y theo ta vậy (tự giác – giác tha).

- “Mutto moceyyaṃ…” Khi ta tự mình giải thoát khỏi mọi sự ràng buộc của tham ái, phiền não, chứng ngộ Niết Bàn rồi; khi ấy, ta sẽ dẫn dắt chúng sinh cùng giải thoát khỏi mọi sự ràng buộc của tham ái, phiền não, chứng ngộ Niết Bàn y theo ta vậy (tự độ – độ tha).

- “Tinno tareyyaṃ…” Khi ta tự mình vượt qua được biển khổ tử sinh luân hồi, đạt đến Niết Bàn an lạc rồi; khi ấy, ta sẽ cứu vớt, dẫn dắt chúng sinh cùng vượt qua biển khổ tử sinh luân hồi, đạt đến Niết Bàn an lạc y theo ta vậy (tự đáo – đáo tha).

Trong khi đó có một nữ Bàlamôn tên là Sumittā [1] trên tay cầm 8 đóa hoa sen để cúng dường Đức Phật Dīpaṅkara, nhìn thấy Đạo sĩ Sumedha nằm sấp, lấy thân mình làm chiếc cầu trên đoạn đường ấy, cô liền phát sinh đức tin trong sạch, kính dâng đến vị Đạo sĩ 5 đóa hoa sen, còn lại 3 đóa hoa sen, cô để cúng dường đến Đức Phật. Đạo sĩ Sumedha nằm sấp, hai tay cầm 5 đóa hoa sen để trên trán cúng dường đến Đức Phật. Khi ấy, Đức Phật Dīpaṅkara cùng 400 ngàn chư vị Thánh Arahán ngự đi ngang qua bằng phép thần thông một cách nhẹ nhàng trên tấm thân của Đạo sĩ Sumedha; cho nên, sinh mạng của Đức Bồ Tát vẫn an toàn, chẳng hề hấn gì.

Thường Đức Phật Chánh Đẳng Giác chỉ thọ ký lần đầu tiên cho Đức Bồ Tát nào có đầy đủ 8 điều kiện như sau:

1- Là loài người thật (không phải Long vương hoặc chư thiên hóa thành người).

2- Là người nam thật (không phải là ái nam, ái nữ).

3- Kiếp hiện tại có đầy đủ pháp hạnh ba-la-mật, có thể chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn trở thành bậc Thánh Arahán.

4- Trực tiếp đến hầu Đức Phật Chánh Đẳng Giác.

5- Là bậc xuất gia Đạo sĩ có chánh kiến về nghiệp.

6- Chứng đắc đầy đủ 4 bậc thiền hữu sắc và 4 bậc thiền vô sắc, chứng đắc ngũ thông tam giới.

7- Quyết định cúng dường sinh mạng đến Đức Phật.

8- Có ý nguyện vững chắc, không thoái chí nản lòng, quyết tâm trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác.

Đức Phật Dīpaṅkara ngự đứng phía trên đầu của Đức Bồ Tát Đạo sĩ Sumedha quán xét ý nguyện muốn trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác của Đạo sĩ Sumedha có thành tựu hay không. Với trí tuệ thấy rõ, biết rõ trong kiếp vị lai (anāgataṃsañāṇa), vị Bồ Tát Đạo sĩ này chắc chắn sẽ thành tựu như ý nguyện, nên Đức Phật Dīpaṅkara thọ ký xác định thời gian còn lại rằng:

“Trong thời vị lai, còn 4 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp trái đất nữa, Đạo sĩ Sumedha này sẽ trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, có danh hiệu là Đức Phật Gotama”.

Đức Phật Dīpaṅkara là Đức Phật Chánh Đẳng Giác đầu tiên thọ ký cho Đức Bồ Tát Sumedha, tiền kiếp của Đức Phật Gotama.

Đức Bồ Tát Sumedha đương nhiên trở thành Đức Bồ Tát cố định (niyatabodhisatta) chắc chắn sẽ trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, trong thời vị lai. Khi lắng nghe lời thọ ký của Đức Phật Dīpaṅkara, Đức Bồ Tát phát sinh tâm thiện vô cùng hoan hỷ. Tất cả nhân loại, chư thiên, chư phạm thiên đồng hoan hỷ chắp tay lễ bái Đức Bồ Tát Đạo sĩ, tán dương ca tụng rằng:

“Đạo sĩ Sumedha chắc chắn sẽ là mầm mống trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác trong thời vị lai”.

Từ đó, Đức Bồ Tát tiền kiếp của Đức Phật Gotama tinh tấn không ngừng bồi bổ cho đầy đủ 30 pháp hạnh ba-la-mật trong thời gian còn lại 4 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp trái đất.

4 a-tăng-kỳvà 100 ngàn đại kiếp trái đất: [2]

* 4 a-tăng-kỳ [3]

A-tăng-kỳ thứ nhất: Kể từ Đức Phật Dīpaṅkara đến Đức Phật Koṇḍañña, thời gian trải qua 1 a-tăng-kỳ thứ nhất gọi là Sela asaṅkhyeyya, chỉ có một Đức Phật Koṇḍañña xuất hiện trên thế gian.

A-tăng-kỳ thứ nhì: Kể từ Đức Phật Koṇḍañña đến Đức Phật Maṅgala, thời gian trải qua 1 a-tăng-kỳ thứ nhì gọi là Bhāsa asaṅkhyeyya, có 4 Đức Phật là: Đức Phật Maṅgala, Đức Phật Sumana, Đức Phật Revata và Đức Phật Sobhita tuần tự xuất hiện trên thế gian.

A-tăng-kỳ thứ ba: Kể từ Đức Phật Maṅgala đến Đức Phật Anomadassī thời gian trải qua 1 a-tăng-kỳ thứ ba gọi là Jaya asaṅkhyeyya, có 3 Đức Phật là: Đức Phật Anomadassī, Đức Phật Paduma và Đức Phật Nārada tuần tự xuất hiện trên thế gian.

A-tăng-kỳ thứ tư: Kể từ Đức Phật Anomadassī đến Đức Phật Padumutara thời gian trải qua 1 a-tăng-kỳ thứ tư gọi là Ruci asaṅkhyeyya, chỉ có một Đức Phật Padumutara xuất hiện trên thế gian.

* 100 ngàn đại kiếp trái đất

Trong khoảng thời gian lâu 100 ngàn đại kiếp trái đất, có 14 Đức Phật tuần tự xuất hiện trên thế gian là Đức Phật Sumedha, Đức Phật Sujāta, Đức Phật Piyadassī, Đức Phật Atthadassī, Đức Phật Dhammadassī, Đức Phật Siddhattha, Đức Phật Tissa, Đức Phật Phussa, Đức Phật Vipassī, Đức Phật Sikhī, Đức Phật Vessabhū, Đức Phật Kakusandha, Đức Phật Koṇāgamana, Đức Phật Kassapa.

Mỗi khi Đức Phật nào xuất hiện trên thế gian, Đức Bồ Tát tiền kiếp của Đức Phật Gotama đều đến hầu Đức Phật ấy và được Ngài thọ ký xác định thời gian còn lại, chắc chắn sẽ trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác có danh hiệu là Đức Phật Gotama.

Đức Bồ Tát tiền kiếp của Đức Phật Gotama đến kiếp áp chót hóa sinh làm thiên nam tên là Setaketu trong cõi trời Tusita; cõi trời thứ tư trong 6 cõi trời dục giới.

Thỉnh Đức Bồ Tát Giáng Thế

Bốn Đức vua trời cõi Tứ Đại Thiên Vương, Đức vua trời Sakka cõi Tam Thập Tam Thiên, Đức vua trời Suyāma cõi Dạ Ma Thiên, Đức vua trời Santussita cõi Đấu Xuất Đà Thiên, Đức vua trời Sunimmita cõi Hóa Lạc Thiên, Đức vua trời Vasavatti cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên, cùng chư thiên 6 cõi trời dục giới, chư phạm thiên các cõi trời sắc giới cùng tụ hội đến hầu Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu, tất cả đồng chắp tay bạch rằng:

-         – Kính bạch Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu, Ngài đã tạo đầy đủ trọn vẹn pháp hạnh ba-la-mật xong rồi. Các pháp hạnh ba-la-mật ấy không phải Ngài để mong ngôi vị các vua trời, cũng không phải để mong sinh làm phạm thiên, cũng không phải để mong ngôi vị Đức Chuyển Luân Thánh Vương; mà sự thật, các pháp hạnh ba-la-mật ấy là để hỗ trợ Ngài chứng đắc thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, để thuyết pháp tế độ chúng sinh giải thoát khỏi khổ tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.

Kính bạch Đức Bồ Tát thiên nam, bây giờ là đúng lúc, đúng thời kỳ, để cho Ngài trở thành một Đức Phật Chánh Đẳng Giác.

Kính bạch Đức Bồ Tát thiên nam, tất cả chúng con thành kính thỉnh Ngài tái sinh làm người, để trở thành một Đức Phật Chánh Đẳng Giác, để thuyết pháp tế độ chúng sinh giải thoát khỏi khổ tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.

Lắng nghe lời thỉnh cầu của chư thiên, phạm thiên, Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu chưa nhận lời thỉnh cầu ấy, mà Ngài quán xét trong thời quá khứ: “Chư Bồ Tát kiếp chót tái sinh xuống làm người, để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, đã quán xét như thế nào?

Quán xét 5 điều trước khi tái sinh [4].

Theo lệ thường Chư Bồ Tát kiếp chót tái sinh xuống làm người để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác, cần phải quán xét đầy đủ 5 điều như sau:

1- Quán xét thời kỳ tuổi thọ con người: Đức Bồ Tát Setaketu quán xét thấy tuổi thọ con người vào thời kỳ ấy khoảng 100 năm, thích hợp đối với Đức Phật Chánh Đẳng Giác có trí tuệ ưu việt.

2- Quán xét châu đến tái sinh: Trong 4 châu loài người, cõi Nam Thiện Bộ Châu là châu mà Đức Bồ Tát kiếp chót tái sinh để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác.

3- Quán xét xứ sở đến tái sinh: Trong cõi Nam Thiện Bộ Châu rộng lớn, Đức Bồ Tát kiếp chót tái sinh trong Trung xứ vùng Sakka kinh thành Kapilavatthu.

4- Quán xét dòng họ nơi tái sinh: Đức Bồ Tát kiếp chót tái sinh trong dòng họ Sakya, Đức vua Suddhodana trải qua nhiều đời vua tinh khiết (không lẫn lộn với dòng khác).

5- Quán xét mẫu thân và tuổi thọ của bà: Bà Mahāmayādevī chánh cung Hoàng hậu của Đức vua Suddhodana là người có giới hạnh trong sạch. Bà từng tạo pháp hạnh ba-la-mật suốt 100 ngàn đại kiếp và được Đức Phật Chánh Đẳng Giác trong thời quá khứ thọ ký rằng: “Bà sẽ là Mẫu thân của Đức Phật trong thời vị lai”. Bà chánh cung Hoàng hậu có tuổi thọ còn đúng 10 tháng 7 ngày. Đức Bồ Tát kiếp chót chọn bà Mahāmayādevī làm Mẫu thân của Ngài.

Sau khi quán xét thấy đầy đủ 5 điều rồi, Đức Bồ Tát Thiên nam Setaketu quyết định tái sinh xuống làm người để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác.

Đức Bồ Tát Thiên nam Setaketu truyền dạy rằng:

“Này chư thiên, chư phạm thiên, ta đồng ý nhận lời thỉnh cầu của các ngươi. Ta sẽ tái sinh xuống làm người trong cõi Nam Thiện Bộ châu, Trung xứ, kinh thành Kapilavatthu, trong dòng vua Sakya, Đức vua Suddhodana là phụ thân và bà Mahāmayādevī – chánh cung Hoàng hậu của Đức vua Suddhodana, làm mẫu thân của ta”.

Sau khi lắng nghe lời truyền dạy của Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu, tất cả chư thiên và chư phạm thiên vô cùng hoan hỷ cùng nhau tán dương ca tụng Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu, rồi cùng nhau xin phép trở về cảnh giới của mình. Chư thiên, chư phạm thiên loan báo cho khắp toàn thế giới chúng sinh biết rằng: “Đức Phật sẽ xuất hiện trên thế gian!”

Đức Bồ Tát Kiếp Chót Tái Sinh Làm Người

Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu quyết định từ bỏ kiếp thiên nam ở cõi trời Tusita (Đấu Xuất Đà Thiên) sẽ tái sinh đầu thai vào lòng mẫu thân Mahāmayādevī – chánh cung Hoàng hậu của Đức vua Suddhodana, kinh thành Kapilavatthu vào ngày thứ năm, nhằm ngày rằm tháng sáu lúc canh chót.

Vào ngày rằm tháng sáu (âm lịch), Chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī của Đức vua Suddhodana đến hầu vị Đạo sư Kāḷadevila xin thọ trì uposathasīla (bát giới). Canh chót đêm ấy, trước khi Đức Bồ Tát tái sinh đầu thai vào lòng bà Mahāmayādevī, bà nằm mộng thấy Tứ Đại Thiên Vương cung nghinh bà lên núi Himavanta, đặt bà nằm trên một tảng đá lớn gần hồ Anotatta. Sau đó, có 4 chánh cung Hoàng hậu của Tứ Đại Thiên Vương cùng chư thiên nữ đến tắm sạch sẽ cho bà, xoa các thứ vật thơm của cõi trời, dâng những đóa hoa trời xinh đẹp, rồi cung nghinh bà đến một ngọn núi bằng bạc, có một lâu đài bằng vàng nguy nga tráng lệ và đặt bà nằm nghiêng bên phải nghỉ ngơi nơi đó. Khi ấy, một con bạch tượng cao thượng hiện đến lâu đài bằng vàng nơi bà đang nằm nghỉ. Con bạch tượng ấy đi vòng quanh nơi bà nằm 3 vòng, rồi chui vào hông phía bên phải của bà.

Khi bà Mahāmayādevī đang nằm mộng, đó cũng là lúc Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu từ bỏ kiếp thiên nam ở cõi trời Tusita (Đấu Xuất Đà Thiên), đồng thời với đệ nhất đại quả tâm (đại quả tâm thứ nhất hợp với trí tuệ đồng sinh với hỷ, không cần động viên) làm phận sự tái sinh đầu thai vào lòng mẫu thân Mahāmayādevī, nhằm vào ngày thứ năm canh chót đêm rằm tháng sáu (âm lịch). Khi ấy, bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī có tuổi thọ được 55 năm 6 tháng 20 ngày [5]. Ngay lúc ấy, trái đất rùng mình rung chuyển và có 32 hiện tượng xảy ra chưa từng thấy bao giờ; chư thiên, phạm thiên trong 10 ngàn thế giới chúng sinh vô cùng hoan hỷ loan báo tin lành rằng: “Đức Bồ Tát đã tái sinh rồi!”

Chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī đã trải qua giấc mộng lành và sau khi tỉnh dậy, bà đến chầu Đức vua Suddhodana và tâu trình lên Đức vua về giấc mộng của bà.

Sáng sớm hôm sau, Đức vua Suddhodana bèn truyền lệnh cho mời nhóm Bàlamôn quân sư vào triều yết kiến. Sau khi thiết đãi và ban thưởng xong, Đức vua bèn tường thuật lại giấc mộng canh chót đêm qua của chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī cho nhóm quân sư Bàlamôn nghe để họ cùng nhau suy đoán.

Đức vua truyền hỏi rằng:

- Thưa quân sư, giấc mộng như vậy có ý nghĩa như thế nào? Xin quý quân sư tâu cho Trẫm được rõ.

Một vị Bàlamôn trưởng bèn tâu rằng:

- Muôn tâu Đại vương, xin Đại vương an tâm, chánh cung Hoàng hậu đã thụ thai, thai nhi không phải là Công chúa mà chắc chắn là Thái tử, Bậc cao thượng nhất.

Nếu Thái tử sống trong triều, thì sẽ là Đức Chuyển Luân Thánh Vương trị vì thiên hạ có 4 biển làm ranh giới.

Nếu Thái tử bỏ nhà đi xuất gia, thì sẽ là Đức Phật Chánh Đẳng Giác cao thượng nhất trong toàn cõi thế giới chúng sinh.

Từ khi Đức Bồ Tát kiếp chót tái sinh đầu thai vào lòng mẫu thân, do oai lực của Đức Bồ Tát, nên ngày đêm Tứ Đại Thiên Vương theo hầu, để tỏ lòng cung kính; không phải theo hộ trì bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī; bởi vì, Đức Bồ Tát kiếp chót có oai lực phi thường, nên không có một ai có thể làm hại bà được.

Mẫu thân của Đức Bồ Tát có giới đức tự nhiên, bà không phải đến làm học trò vị Đạo sư Kāḷadevila, để xin thọ giới như trước đây nữa; thân và tâm của bà thường an lạc. Tâm tham muốn trong dục lạc không hề phát sinh và khi Đức vua Suddhodana nhìn thấy bà liền phát sinh thiện tâm trong sáng, do đó Đức vua rất tôn trọng bà.

Đức Bồ Tát phát triển và tăng trưởng ở trong bào thai mẫu thân, như ở trong một căn phòng sạch sẽ và sang trọng. Đức Bồ Tát ngồi kiết già như vị Pháp sư đang ngồi trên pháp tòa, cho đến khi tròn đủ 10 tháng.

Đức Bồ Tát Kiếp Chót Đản Sinh

Bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī biết gần đến ngày đản sinh Thái tử, bà đến chầu Đức vua Suddhodana bèn tâu rằng:

- Muôn tâu Bệ hạ, thần thiếp xin phép trở về Cố quốc Devadaha để hạ sinh Thái tử.

Đức vua chuẩn tấu lời xin của bà và truyền lệnh cho các quan sửa sang đường sá bằng phẳng, trang hoàng đẹp đẽ từ xứ Kapilavatthu cho đến xứ Devadaha, để làm lễ tiễn đưa chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī trở về cố quốc; Đức vua còn truyền lệnh làm một chiếc kiệu mới thật sang trọng để cho bà ngự đi.

Mọi việc đều chuẩn bị sẵn sàng, bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī được thỉnh ngự lên chiếc kiệu, các quan khiêng chiếc kiệu đi từ kinh thành Kapilavatthu đến kinh thành Devadaha. Trên đường, khi đoàn người vừa đến khu vườn Lumbīnī, hôm ấy, thật tuyệt vời! Cả muôn hoa đều đua nở và muôn chim cùng ca hót như hân hoan đón mừng một sự kiện trọng đại. Bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī muốn dừng kiệu lại, ghé vào vườn Lumbīnī, để du lãm. Các quan tuân lệnh dừng kiệu.

Khi bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī ngự vào vườn Lumbīnī, hôm ấy chư thiên, chư phạm thiên tụ hội tại khu vườn, và cả vạn thế giới chúng sinh vui mừng reo hò rằng:

“Hôm nay, tại khu vườn Lumbīnī này, Đức Bồ Tát sẽ đản sinh ra đời khỏi lòng bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī”.

Chư thiên, chư phạm thiên, tay cầm những món quà từ cõi trời như vật thơm trời, những đóa hoa trời, nhạc trời trỗi lên để cúng dường Đức Bồ Tát cùng với những chiếc lọng trắng che phủ khắp không gian.

Bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī ngự đến một cây Sālā có thân to, cành cây đầy hoa đang nở rộ. Khi bà đứng đưa cánh tay phải lên, thì cành cây tự nhiên sà xuống, bà đưa tay nắm lấy cành cây với tư thế dáng đứng rất đẹp và rất vững vàng, các quan, các cung nữ che màn xung quanh nơi bà đang đứng; khi ấy, Đức Bồ Tát cao thượng đản sinh ra đời khỏi lòng bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī bằng đôi chân ra trước, rồi xuôi hai tay, toàn thân mình sạch sẽ ra sau, một cách suôn sẻ an lành cho cả Đức Bồ Tát lẫn mẫu thân của Ngài. Lúc đó, vào ban ngày của ngày thứ 6, nhằm ngày rằm tháng tư (âm lịch). Khi ấy, một dòng nước ấm và một dòng nước lạnh từ trên hư không chảy xuống làm cho sạch sẽ thân hình của Đức Bồ Tát và mẫu thân của Ngài.

Khi Đức Bồ Tát cao thượng vừa ra khỏi lòng bà chánh cung Hoàng hậu Mahā-mayādevī, trước tiên 4 vị Đại Phạm Thiên có thiện tâm trong sạch, không bị ô nhiễm bởi phiền não, mỗi vị cầm mỗi chéo tấm lưới bằng vàng đón nhận Đức Bồ Tát xong, rồi đặt trước mặt bà chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī và tâu rằng:

- Muôn tâu chánh cung Hoàng hậu, xin bà phát sinh tâm hoan hỷ! Đây là Thái tử của bà, cũng là Đức Bồ Tát kiếp chót cao thượng. Ngài là Bậc đại phước, có nhiều oai lực nhất trong tất cả chúng sinh trong tam giới.

Sau đó, Đức Bồ Tát từ trên tay 4 vị Đại Phạm Thiên được trao sang cho 4 vị Tứ Đại Thiên Vương đón tiếp bằng tấm da mềm mại; một lần nữa, Đức Bồ Tát từ tay 4 vị Tứ Đại Thiên Vương được trao sang cho các quan đón tiếp bằng tấm vải trắng tinh.

Khi ấy, Đức Bồ Tát từ trên tay các quan, bước xuống đạp trên mặt đất bằng đôi bàn chân bằng phẳng của Ngài, Đức Bồ Tát đứng quay mặt nhìn về hướng Đông, chư thiên dâng hoa cúng dường Đức Bồ Tát, rồi tán dương ca tụng rằng:

- Kính bạch Đức Đại nhân, trong tất cả chúng sinh trong hướng này, Ngài là Bậc cao thượng nhất, không có một ai cao thượng hơn Ngài.

Tiếp đến, Đức Bồ Tát quay mặt nhìn về hướng Nam… hướng Tây… hướng Bắc… hướng Đông Nam… hướng Tây Nam… hướng Tây Bắc… hướng Đông Bắc trong tám hướng, mỗi hướng chư thiên và nhân loại đều dâng hoa cúng dường Đức Bồ Tát, rồi tán dương ca tụng rằng:

- Kính bạch Đức Đại nhân, trong tất cả chúng sinh trong hướng này, Ngài là Bậc cao thượng nhất, không có một ai cao thượng hơn Ngài.

Đức Bồ Tát cúi mặt nhìn xuống hướng dưới, rồi ngẩng mặt nhìn lên hướng trên, chư thiên, chư phạm thiên đều dâng hoa tán dương và ca tụng rằng:

- Kính bạch Đức Đại nhân, trong số chư thiên, chư phạm thiên hướng trên này, Ngài là Bậc cao thượng nhất, không có chư thiên, chư phạm thiên nào cao thượng hơn Ngài.

Đức Bồ Tát đứng nhìn về hướng Bắc rồi bước đi 7 bước, bước đầu tiên Ngài bước bằng chân phải [6]. Khi Đức Bồ Tát bước đi, Vua trời phạm thiên cầm chiếc lọng màu trắng che cho Ngài, Đức vua Suyāma cầm quạt lông, còn 3 thứ khác là đôi hia, gươm báu, vương miện, mỗi vị Vua trời cầm mỗi thứ đi theo sau Đức Bồ Tát. Đó là 5 bảo vật của lễ phong vương.

Đức Bồ Tát dừng lại ở bước chân thứ 7. Khi ấy tất cả chư thiên, chư phạm thiên đều bảo với nhau rằng:

“Bây giờ, Đức Bồ Tát cao thượng sẽ truyền dạy những lời tối quan trọng”.

Tất cả đều im lặng, chờ lắng nghe, Đức Bồ Tát dõng dạc truyền dạy rằng:

“Ago¢ ham¢ asmi lokassa!
Jeṭṭho¢ ham¢ asmi lokassa!
Seṭṭho¢ ham¢ asmi lokassa!
Ayamantimā jāti
Natthi dāni punabbhavo”.

“Ta là Bậc Cao Cả nhất, trong toàn cõi thế giới chúng sinh!
Ta là Bậc Vĩ Đại nhất, trong toàn cõi thế giới chúng sinh!
Ta là Bậc Tối Thượng nhất, trong toàn cõi thế giới chúng sinh!
Kiếp này là kiếp chót của ta
Ta không còn tái sinh kiếp nào khác nữa!”

Chư thiên, chư phạm thiên và nhân loại vô cùng hoan hỷ, đồng thanh tán dương ca tụng Đức Bồ Tát.

Đức Bồ Tát Thái tử Siddhattha kiếp chót chắc chắn sẽ trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác. Khi Ngài đản sinh ra đời có đầy đủ 32 tướng tốt chính của Bậc Đại nhân và 80 tướng tốt phụ. Đó là quả của nghiệp thiện mà Đức Bồ Tát đã tạo và tích lũy từ vô số kiếp trong quá khứ, hoàn toàn không liên quan huyết thống của Đức vua Suddhodana và chánh cung Hoàng hậu Mahāmayādevī hay dòng dõi Sakya.


[1] Nữ Bàlamôn Sumittā chính là tiền kiếp của Công chúa Yasodharā.

[2] Tìm hiểu rộng trong Nền Tảng Phật Giáo, quyển I: “Tam Bảo” (trang 38), cùng một soạn giả.

[3] Asaṅkhyeyya: A-tăng-kỳ có 4 loại:

1) Gaịana asaṅkhyeyya: A-tăng-kỳ tính bằng số là số 1 theo sau 140 số 0 (không), viết tắt: 10140.

2) Anumāṅna asaṅkhyeyya: A-tăng-kỳ ước lượng. Ví dụ: Trời mưa trên toàn mặt đất suốt 3 ngày, ước lượng a-tăng-kỳ số giọt mưa rơi xuống mặt đất.

3) Kappa asaṅkhyeyya: A-tăng-kỳ kiếp có 4 loại

- Āyukappa: Kiếp tuổi thọ.
- Antarakappa: Khoảng thời gian kiếp giảm còn 10 năm và kiếp tăng đến a-tăng-kỳ năm.
- Asaṅkhyeyya kappa: A-tăng-kỳ kiếp trái đất hoại rồi thành trở lại.
- Mahākappa: Đại kiếp trái đất trải qua 4 thời kỳ: a-tăng-kỳ hoại kiếp trái đất ® a-tăng-kỳ không kiếp trái đất ® a-tăng-kỳ thành kiếp trái đất ® a-tăng-kỳ trụ kiếp trái đất.

4) Buddha asaṅkhyeyya: A-tăng-kỳ thời gian tạo ba-la-mật để trở thành Đức Phật Chánh Đẳng Giác không thể tính bằng số lượng. Thời gian trải qua vô số đại kiếp trái đất thành-trụ-hoại-không không thể tính được, như vậy gọi Buddha asaíkhyeyya.

Ví dụ: Đức Bồ Tát Đạo sĩ Sumedha cần phải bồi bổ thêm 30 pháp hạnh ba-la-mật suốt 4 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp trái đất, để trở thành Đức Phật Gotama.

[4] Xem rộng trong Nền Tảng Phật Giáo, quyển I: “Tam Bảo”, trang 52-53, cùng một soạn giả.

[5] Theo bộ Samantacakkhudīpanī.

[6] Theo thói quen, Đức Phật bước chân phải trước tiên.

-ooOoo-

Nguồn: http://www.viet.net/anson/uni/u-hophap/rt4-01.htm


Đạo Phật không phải là một tôn giáo

Wiki định nghĩa như sau về “tôn giáo”:

Tôn giáo hay đạo, đôi khi đồng nghĩa với tín ngưỡng, thường được định nghĩa là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, cũng như những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó. Những ý niệm cơ bản về tôn giáo chia thế giới thành hai phần: thiêng liêng và trần tục[1]. Trần tục là những gì bình thường trong cuộc sống con người, còn thiêng liêng là cái siêu nhiên, thần thánh. Đứng trước sự thiêng liêng, con người sử dụng lễ nghi để bày tỏ sự tôn kính, sùng bái và đó chính là cơ sở của tôn giáo. Trong nghĩa tổng quát nhất, có quan điểm đã định nghĩa tôn giáo là kết quả của tất cả các câu trả lời để giải thích nguồn gốc, quan hệ giữa nhân loại và vũ trụ; những câu hỏi về mục đích, ý nghĩa cuối cùng của sự tồn tại. Chính vì thế những tư tưởng tôn giáo thường mang tính triết học. Số tôn giáo được hình thành từ xưa đến nay được xem là vô số, có nhiều hình thức trong những nền văn hóa và quan điểm cá nhân khác nhau. Tuy thế, ngày nay trên thế giới chỉ có một số tôn giáo lớn được nhiều người theo hơn những tôn giáo khác.

Trong từ điển Việt Nam “tôn giáo” được định nghĩa là:

Sự công nhận một sức mạnh coi là thiêng liêng quyết định một hệ thống ý nghĩ tư tưởng của con người về số phận của mình trong và sau cuộc đời hiện tại, do đó quyết định phần nào hệ thống đạo đức, đồng thời thể hiện bằng những tập quán lễ nghi tỏ thái độ tin tưởng và tôn sùng sức mạnh đó.

Thực tế, Đạo Phật không phải là 1 tôn giáo theo như định nghĩa của mọi người. Đạo Phật không chấp nhận rằng có 1 thế lực, sức mạnh, thần linh, chúa trời, thần thánh, lễ nghi, tục lệ nào có thể quyết định vận mệnh của chúng ta. Do vậy, Đạo Phật không có các tập quán lễ nghi nào tỏ thái độ tin tưởng và tôn sùng sức mạnh, thế lực nào đó.

Theo Đạo Phật, mọi vật vận hành theo luật nhân quả. Do ta gieo nhân là các hành động (hành nghiệp) có chủ ý ở quá khứ mà chúng ta sẽ gặt hái các quả trong hiện tại hay trong tương lai; tương tự, hành động có chủ ý ở hiện tại sẽ cho quả ở tương lai. Hành động ở đây bao gồm ý hành, thân hành và khẩu hành. Ý hành là các suy nghĩ trong tâm, thân hành là các hành động bằng thân thể và khẩu hành là lời nói. Quả ở hiện tại hay ở tương lai có cơ hội trổ ra hay không còn tùy thuộc vào các duyên cần thiết. Khi nhân duyên chín muồi thì quả chắc chắn sẽ trổ mà không thể ngăn cản được. Nhân giống như hạt giống, nếu hạt giống tốt được gieo ở mảnh đất có độ ẩm thích hợp, dinh dưỡng đầy đủ, tưới nước vừa đủ (các yếu tố này là duyên) thì quả chắc chắn sẽ trổ.

Các hành động chịu sự chi phối bởi tham ái, sân hận và si mê là các hành động bất thiện (bất thiện nghiệp). Các hành động có động cơ là vô tham, vô sân, có hoặc không có kết hợp với vô si là hành động thiện (thiện nghiệp).

Hành động vô si theo Đạo Phật không phải là từ trí tuệ sắc sảo về 1 ngành nghề nào cả, mà chính là hành động xuất phát từ trí tuệ hiểu biết và tin tưởng về luật nhân quả, tin vào nghiệp và quả của nghiệp. Do vậy ông tiến sĩ thực hiện bố thí mà không có hiểu biết, tin tưởng về nhân quả thì hành động thiện đó vẫn là ly trí (có si).

Thiện nghiệp (là nhân) khi có duyên đầy đủ sẽ cho quả tốt lành (điều tốt đẹp) như là được sanh ra ở cảnh giới tốt đẹp (cõi người, cõi trời), sanh ra vào thời kỳ hòa bình, có dung sắc xinh đẹp, mắt gặp cảnh đẹp, tai nghe tiếng hay, mũi ngữi mùi thơm, lưỡi nếm vị ngon, thân xúc chạm vật khả ái…

Khi bất thiện nghiệp có duyên thích hợp thì sẽ cho quả xấu ngược lại các điều trên.

Khi ta gặp các quả thiện hay bất thiện thì đó không phải là hành nghiệp của ta. Mà chính thái độ của ta đối với cảnh (cảnh ở đây là sắc, thanh, hương, vị, xúc và đối tượng của tâm) là có nhân tham, sân, si hay vô tham, vô sân, vô si hay không mà chúng ta lại tiếp tục tạo ra các nghiệp mới, có thể là thiện hoặc bất thiện.

Ví như khi ta gặp cảnh đẹp như vườn hoa xinh tươi mà tâm ta không khởi lên sự tham ái, si mê là chúng ta đã tránh tạo bất thiện nghiệp. Gặp được cảnh đẹp là quả của thiện nghiệp quá khứ, tâm phản ứng lại là tạo nghiệp mới ở hiện tại.

Do vậy mà không có các thế lực, sức mạnh siêu nhiên, chúa trời, thần linh, thần thánh, lễ nghi nào quyết định số phận, vận mệnh của ta. Nếu có tồn tại 1 vị chúa trời có thể tác động đến vận mệnh của ta thì đó chính là nghiệp của ta. Nhưng vì nghiệp là do ta tạo ra nên không thể có vị chúa trời nào cả. Nghiệp đích thực là của thừa kế, là tài sản của ta.

Khi nhân sanh thì quả sanh, khi nhân diệt thì quả diệt. Do vậy luật nhân quả là vô thường. Cái gì phải chịu sanh và diệt thì cái ấy phải chịu khổ. Vì luật nhân quả phải chịu sanh và diệt nên luật nhân quả là khổ. Vì không thể có một cái tự ngã nào lại muốn mình chịu khổ cả nên luật nhân quả là vô ngã. Vì luật nhân quả là vô ngã nên luật nhân quả không thể nào là 1 nhân vật chúa trời hay đấng tạo hóa nào được. Như vậy, luật nhân quả là vô thường, khổ và vô ngã.

Đạo Phật không chấp nhận thuyết định mệnh. Quyền quyết định tạo thiện nghiệp hay bất thiện nghiệp nằm trong tay ta, dù chúng ta có hiểu biết hay ko hiểu biết gì về thiện hay bất thiện nghiệp. Thiện nghiệp có thể làm duyên cho bất thiện nghiệp trổ sanh và bất thiện nghiệp cũng có thể làm duyên cho thiện nghiệp trổ sanh. Vấn đề ở chỗ là chính ta phản ứng lại với quả của thiện nghiệp hay bất thiện nghiệp đó như thế nào. Ví như câu chuyện về việc ta gặp cảnh đẹp là quả của thiện nghiệp, khi tâm ta phản ứng bằng hành động tham ái, si mê thì ta đã thực hành bất thiện nghiệp. Ví dụ nữa là nếu ta có dung sắc xấu xí là quả của bất thiện nghiệp sân hận ở quá khứ, và khi biết được như vậy thì ta cố gắng tránh sân hận với mọi người xung quanh ở hiện tại này, và như vậy là quả bất thiện nghiệp làm duyên cho thiện nghiệp trổ sanh.

Tất nhiên là quả của thiện nghiệp sẽ là duyên rất tốt, rất thuận lợi cho việc tạo thiện nghiệp. Ví như ta giàu có (quả của thiện nghiệp quá khứ) thì ta sẽ dễ dàng bố thí (thiện nghiệp ở hiện tại) cho người khác hơn.

Tương tự, quả của bất thiện nghiệp sẽ tạo duyên rất tốt cho việc tạo bất thiện nghiệp. Ví như ta phải bị sanh ra vào thời kỳ chiến tranh, loạn lạc, nghèo khổ… thì ta sẽ rất dễ dàng tạo rất nhiều bất thiện nghiệp vào lúc đó.

Đức Phật không phải là 1 đấng tối cao quyết định vận mạng của chúng ta. Đức Phật ra đời và dạy chúng ta 4 chân lý cao thượng là Khổ Đế, Khổ Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế.

Khổ Đế: là chân lý về Khổ, là cái ta cần phải biết rõ.
Khổ Tập Đế: là chân lý về Nguyên Nhân, Nguồn gốc của Khổ, là cái chúng ta cần phải diệt trừ.

Diệt Đế: là chân lý về Khổ Diệt chính là Niết-bàn, là cái cần phải chứng ngộ.

Đạo Đế: là chân lý về con đường đi đến Khổ Diệt, đó là con đường Bát Thánh Đạo, là cái chúng ta cần phải tu tập để biết rõ Khổ Đế, diệt trừ Khổ Tập Đế, chứng ngộ Diệt Đế.

Đức Phật chỉ có dạy cho chúng ta hiểu biết chân lý mà thôi, Đức Phật không sáng tạo ra chân lý, chân lý tự nó vẫn hoạt động và tồn tại kể cả khi Đức Phật không xuất hiện hay khi chúng ta tin hay không tin vào chân lý đó. Đức Phật dạy thế nào là điều nên làm và thế nào là điều không nên làm. Nếu làm điều nên làm thì sẽ có kết quả tốt đẹp, còn không thì sẽ gặp cảnh khổ; và quyền quyết định làm như thế nào là do ta quyết định. Do vậy mà Đức Phật không tu hành giùm ta, không giác ngộ giùm ta, không giải thoát giùm ta.

Nếu như, ngày xưa khi ta học lớp 1, rồi khi ta lớn lên dù nhiều hay ít cũng có lòng biết ơn, tôn trọng vị thầy của ta khi xưa. Dù rằng, không vị thầy này dạy ta viết chữ thì cũng có người khác dạy ta mà thôi. Cũng vậy, chúng ta cũng tôn trọng các vị thầy ở lớp 2, 3… đại học,… và các vị thầy gặp trong cuộc sống…

Tuy vậy, nếu không có Đức Phật thì thậm chí việc làm tốt đẹp hay không tốt đẹp ta cũng còn không biết nữa. Vì rằng quan điểm, tục lệ, lối sống, tập quán của con người chắc chắn không thể hoàn toàn phù hợp với chân lý. Và điều cực kỳ quan trọng là nếu không có Đức Phật thì ta không thể biết con đường thoát khỏi khổ cảnh. Do vậy mà Đức Phật là vị thầy tối thượng trong tất cả chúng sanh.

Vì lý do như vậy mà chúng ta phải biết tôn kính Đức Phật, vì đó là vị thầy tối thượng: Thiên Nhân Sư, vị thầy của chư thiên và nhân loại. Và để nói đầy đủ về các phẩm chất của Đức Phật, ta phải dùng các danh hiệu sau:

1) Ứng Cúng: người không còn ô nhiễm, bậc A-la-hán, bậc xứng đáng cúng dường, Bậc Ứng Cúng.
2) Chánh Đẳng Giác: Bậc Tự Giác Ngộ hoàn toàn, không ai chỉ dạy.
3) Minh Hạnh Túc, người có trí tuệ và đức hạnh thành tựu một cách trọn vẹn.
4) Thiện Thệ, vị đã ra đi một cách trọn vẹn, đã Niết-bàn.
5) Thế Gian Giải: người hiểu biết rõ ràng về thế gian.
6) Vô Thượng Sĩ: không gì hơn được.
7) Ðiều Ngự Trượng Phu: người có khả năng điều khiển, huấn luyện kẻ khác.
8) Thiên Nhân Sư: vị thầy của chư thiên và loài người.
9) Phật: bậc đã giác ngộ, đức Phật.
10) Đức Thế Tôn: Ngài là bậc tối-thượng hơn cả chúng sanh và có những ân-đức cao quí không ai bì.

Vì lý do trên mà các Phật tử thờ cúng Đức Phật để tỏ lòng kính trọng chứ không phải như các tôn giáo khác là thờ cúng vị thần linh, chúa trời, sức mạnh siêu nhiên là các thế lực được cho là quyết định vận mạng của họ.

Với tâm từ,

Bùi Thiếu Khoa


Good friends

LỜI NÓI ĐẦU

Cuộc hành trình của chúng ta trên con đường sanh tử luân hồi (sasāra) vô cùng gian truân và nghiệt ngã bởi chúng ta chưa thấu suốt được các Pháp về Tứ Thánh Đế với sự hiểu biết đúng đắn về Tam tướng. Mặc dù cuộc hành trình sanh tử luân hồi này quá dài đến nổi không thể nhận thức được điểm khởi đầu, tuy nhiên, điểm kết thúc quả thực là có thể biết được. Điều quan trọng ở đây là cố gắng làm sao thể nhập được Tứ Thánh Đế bằng cách học hỏi với một vị thầy. Đức Phật luôn nhắc nhở chúng ta điều này. Mặc dù, thực ra, Đức Phật là vị thầy tối thượng trong tất cả các vị thầy. Nhưng tiếc thay, Đức Phật đã không còn tại thế nữa. Từ khi Đức Phật nhập diệt Vô Dư Niết Bàn thì Tam Tạng Kinh trở thành vị thầy chính của chúng ta, cũng như là người bạn đồng hành đáng tin cậy của chúng ta. Giờ đây, chúng ta hoàn toàn dựa vào người bạn đáng tin cậy này trong cuộc giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi (sasāra).

Các bạn đồng hành có thể được chia ra làm bốn loại như sau: (1) hạng thứ nhất là người có năng lực truyền đạt lời dạy như từ kim khẩu của Đức Phật. (2) hạng thứ hai là người có khả năng tổ chức hoằng hoá Tam Tạng Kinh được kết tập bởi các bậc Trưởng lão y theo Giáo Pháp của Đức Thế Tôn. (3) hạng thứ ba, người có thể thu thập được các Chú giải những lời được giảng bởi Đức Phật. (4) Và, hạng thứ tư là người tổ chức truyền thừa Giáo Pháp được biết đến bởi các bậc Trưởng lão danh tiếng như Ngài Mahasiva, Mahapaduma và những vị khác của thời đại Sinhal.

Trong bốn loại bạn ví dụ như loại thứ nhất, có sức mạnh truyền đạt chính xác lời dạy quý báu (được ghi chép bằng tiếng Pāli) từ kim khẩu của Đức Phật thì không còn nghi ngờ gì nữa, đó là người bạn tốt nhất. Tuy nhiên, Giáo Pháp vô cùng thâm sâu và trừu tượng. Nếu ai không đủ khả năng để hiểu thấu đáo những lời dạy này thì chẳng khác nào một con thỏ muốn thăm dò đại dương. Vì thế, chắc chắn chúng ta sẽ phải cần sự giúp đỡ của ba loại bạn kia.

Ngài Thiền Sư Pa-Auk hết sức khả kính của chúng ta đã nhận thức được điều đó và do đó, tất cả các bài thuyết pháp và bài viết của Ngài đều được ghi chép đầy đủ với các tham chiếu cần thiết với Chú giải bằng tiếng Pāli. Bộ sách năm tập phi thường tên là Pháp Hành Dẫn Đến Niết-bàn (Nibbānagāmini Paipadā) của Ngài đã được viết và đúc kết theo lối ấy. Toàn bộ bộ sách chỉ nhằm mục đích chỉ rõ cho chúng ta làm thế nào tiếp cận những loại bạn này. Ngài Thiền Sư bảo chúng tôi rằng điều đó có nghĩa để tạo một chiếc cầu hoặc chiếc bàn đạp đến Chú giải Thanh Tịnh Đạo. Điều mong ước của ngài Thiền Sư rằng các vị học trò và đệ tử của ngài sẽ tin tưởng vào các người bạn tốt này như là ngài vẫn đang làm.

Quyển sách nhỏ này sẽ giúp cho bạn đọc cách tiếp cận các vị thầy giỏi và bạn tốt trong Giáo Pháp, ngõ hầu tiến hoá trên con đường tâm linh để liễu tri Tứ Thánh Đế với sự tham chiếu rõ ràng với các bài kinh. Quyển sách chỉ cho ta biết Tứ Thánh Đế là gì; việc thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi (sasāra) là điều không thể nếu không tuệ tri Tứ Thánh Đế; rằng phát triển Định lực (samādhi) là điều thiết yếu để đạt được sự tuệ tri Tứ Thánh Đế. Nó còn mô tả cách thực hành niệm hơi thở (ānāpānasati) một cách có hệ thống, đây cũng là một trong những phương pháp phát triển định tâm (samādhi). Mặc dù nó không chỉ dẫn chi tiết làm thế nào một hành giả từ lúc thực hành phát triển định tâm có thể tiến triển đến lúc chứng đạt quả vị A-la-hán bằng cách phân biệt các Pháp về nhân quả, về Danh Sắc và về các tâm sở khác. Tuy nhiên, quyển sách này còn chỉ rằng chúng ta phải dựa vào vị thầy giỏi và bạn tốt trong tu tập nhiều như thế nào là đúng đắn.

Bài pháp về ‘Sợi dây trói buộc’ (Gaddula-baddha Sutta), về bốn pháp thành tựu và phi thành tựu, bài pháp ‘Thừa Tự Pháp’, và những điều cần luôn quán tưởng của bậc xuất gia (Pabbajita-abhiha Sutta) được trình bày trong hình thức quyển sách này để giữ cho người đọc sự quan tâm và chú ý nghiêm túc.

Chủ ý của tôi là đem lại sự nhận biết chủ đích của Ngài Thiền Sư Pa-Auk cho độc giả. Vì vậy, tôi quyết định cách tốt nhất và hiệu quả nhất là đưa ra (thuyết giảng lại) các bài pháp của Ngài Viện trưởng được chuyển từ tiếng Miến sang tiếng Anh. Tôi đã tập hợp các bài do Ngài Viện trưởng Pa-Auk đã thuyết từ các năm qua. Những bài trong quyển sách này đã được giảng trong mùa an cư kiết hạ lần thứ nhất của tôi tại Việt Nam năm 2008. Các bài này sau đó đã được phát hành ra trong nhiều ngày. Rải rác trong các bài pháp là các mẫu chuyện nhỏ dựa trên kinh nghiệm sống cá nhân tôi trong khi thu hoạch sự hiểu biết trưởng thành hàng ngày qua thiền tập. Hành giả dường như rất hưởng ứng với các chia sẻ này.

Tôi dám chắc rằng lý do mà quyển sách này được quan tâm ra đời là nhờ có niềm tin sâu sắc của Phật tử Việt Nam đối với Giáo Pháp (sāsana) của Đức Phật, với sự đồng hành khéo léo của nhóm biên, phiên dịch, góp phần đem lại niềm tin của thiền sinh nơi Giáo Pháp. Đối với người thuyết, những sự nhận thức này quả thực đáng ghi nhớ. Bởi bài Pháp đã được giảng hằng ngày và các bản in được phát hành tại chỗ. Ngay trước khi kết thúc bài pháp, các tài liệu đã có sẵn. Một người phụ trách trang Phật học ‘Buddha Sāsana’ tại Úc, ông Bình Anson đã ngỏ ý muốn phát hành và ấn tống quyển sách này như một món quà. Với mong muốn này, quyển sách đã được hoàn chỉnh và ra đời theo tâm nguyện của thí chủ ngõ hầu làm cơ sở cho các Phật tử học hỏi sau này.

Làm trường tồn Giáo Pháp của Đức Phật (Buddha Sāsana) cũng chính là mục tiêu chính của chúng tôi. Và, vì thế, việc tái ấn tống, sao chép quyển sách này không cần phải xin phép tác giả và nhà xuất bản.

Tỳ-kheo Dhammapala (Trung Tâm Thiền Pa-Auk)

Tháng 9 năm 2009

Chuyển ngữ từ tiếng Miến sang tiếng Anh: Ban Biên Tập, trung tâm thiền Pa-Auk,

Trích “Vận hành của Nghiệp” và các bài khác cùng Tác giả

Ngài Thiền Sư Viện Trưởng Pa-Auk, Myanmar.

Thực hiện bởi nhóm phiên, biên dịch và đánh máy tại TP Hồ Chí Minh,

Tu nữ Santacitta, Tu nữ Minh Duyên, Nguyệt Minh và Aggañani

GOOD FRIENDS

Xem tại LINK  này:

http://thienviennguyenthuy.wordpress.com/tu-h%E1%BB%8Dc/good-friends/


BIẾT và THẤY – phần II

Thiền sư Pa Auk Tawya Sayadaw

Biết và Thấy
Knowing and Seeing

Thiền sư Pa-Auk Tawya Sayadaw (U Acinna)
Tỳ khưu Pháp Thông dịch

Biên tập từ các bài pháp thoại trong khóa thiền hai tháng tại
Tu viện Yi-Tung, Thành phố Sing-Choo, Đài Loan

BÀI PHÁP THOẠI 4

Làm thế nào để phân biệt Sắc

Hôm nay chúng ta sẽ bàn về thiền tứ đại[1] (catudhātu vavatthāna), tức thiền phân biệt hay xác định tứ đại hoặc các tính chất của sắc (rūpa). Sắc là uẩn đầu tiên trong năm thủ uẩn, bốn uẩn còn lại (thọ, tưởng, hành, thức) có thể gọi chung là Danh (nāma). Trong thế gian của năm uẩn (pañcavokāra), danh nương vào sắc, tức là các thức khởi lên dựa vào sắc căn tương ứng của chúng. Đối với nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt và thân sắc, căn và môn là một. Như vậy, một nhãn thức khởi sanh nương vào sắc được gọi là nhãn môn; một nhĩ thức khởi sanh nương vào sắc gọi là nhĩ môn… vv… Nhưng ý môn, nương vào đó ý thức khởi sanh, lại là danh (tức bhāvaga: hữu phần), còn sắc nó dựa vào là tâm căn, sắc chất nằm trong máu nơi trái tim; vì vậy sắc trên đó ý môn nương vào cũng còn gọi là tâm cơ (căn)[2].

Để thấy được điều này, hành giả cần thấy ra các yếu tố riêng biệt là thành phần của sắc, nghĩa là hành giả trước hết cần phải khám phá ra các phần tử cực nhỏ gọi là các tổng hợp sắc (rūpa-kalāpas). Hành giả phải thấy được rằng sắc không là gì khác ngoại trừ các tổng hợp sắc này. Nhưng đây vẫn chưa phải là thực tại cùng tột (sắc chân đế)[3]. Muốn thể nhập vào thực tại cùng tột, hành giả cần phải thấy rằng mỗi loại tổng hợp sắc đặc thù bao gồm các giới (dhātu)[4] riêng biệt. Chỉ khi ấy hành giả mới có thể thấy được sắc thực sự là gì, và mới có thể thấy nó liên quan đến danh (nāma) như thế nào. Đây chính là mục đích của thiền tứ đại.

Tuy nhiên, trước khi giải thích thiền này, chúng ta cũng cần bàn thảo một cách ngắn gọn các loại tổng hợp sắc khác nhau và các giới của chúng. Kế đó giải thích về tập khởi (nguồn gốc) của sắc, nhờ vậy hành giả mới có thể dễ dàng hiểu được loại thiền sâu sắc gọi là thiền tứ đại này.

Ba loại tổng hợp sắc (Rūpa-kalāpa)

Như đã đề cập ở trên, sắc không là gì khác ngoại trừ các tổng hợp sắc[5] (rūpa-kalāpa), và về căn bản có ba loại tổng hợp sắc.

1 – Các tổng hợp tám (sắc) – aṭṭhaka (tám sắc căn bản)
2 – Các tổng hợp chín (sắc) – navaka (tám sắc căn bản cộng với sắc thứ chín)
3 – Các tổng hợp mười (sắc) – dasaka (chín sắc cộng với sắc thứ mười)

Nói chung sắc thân của chúng ta bao gồm ba loại tổng hợp sắc này trộn lẫn với nhau theo những cách khác nhau vậy thôi.

Các sắc chất trong ba loại Tổng hợp sắc

Loại tổng hợp đầu tiên – các tổng hợp tám sắc – bao gồm bốn đại (catu dhātu), còn gọi bốn “đại chủng” (mahābhūta) và bốn sở tạo sắc hay sắc y đại sinh (upādā rūpa)[6] tổng cộng có tám:

1. Đất (pathāvi)
2. Nước (āpo)
3. Lửa (tejo)
4. Gió (vāyo)
5. Màu (vaṇṇa)
6. Mùi (gandha)
7. Vị (rasa)
8. Dưỡng chất (ojā)

Do có tám yếu tố nên loại tổng hợp sắc này được gọi là Tổng hợp tám sắc (aṭṭhaka kalāpa), và vì dưỡng chất là yếu tố thứ tám, nên nó cũng còn được gọi là Tổng hợp sắc có dưỡng chất là yếu tố thứ tám (ojaṭṭhamaka kalāpa). Tổng hợp tám sắc này được tìm thấy ở khắp toàn thân. Là những sắc không trong suốt hay phi tịnh sắc (napasāda rūpa), và vô tri, không có sự sống[7].

Loại tổng hợp sắc thứ hai bao gồm 8 sắc căn bản này và sắc mạng căn jivintindrīya kể như yếu tố thứ chín. Vì có chín yếu tố, nên loại tổng hợp sắc này được gọi là Tổng hợp chín sắc (Navakakalāpa), và vì nó có mạng căn là yếu tố thứ chín, nên cũng còn được gọi là một tổng hợp có mạng căn là yếu tố thứ chín (jīvita navaka kalāpa). Chúng được tìm thấy ở khắp toàn thân và cũng là phi tịnh sắc (sắc mờ). Do có mạng căn, nên chúng sinh động, có sự sống.

Loại tổng hợp sắc thứ ba bao gồm 8 sắc căn bản, sắc mạng căn kể như thứ chín và thêm yếu tố thứ mười. Vì có mười sắc, nên loại này được gọi là tổng hợp mười sắc (dasaka kalāpa). Có ba loại tổng hợp mười sắc.

1.- Các tổng hợp mười sắc thuộc nhãn (hay đoàn nhãn), các tổng hợp mười sắc thuộc nhĩ (đoàn nhĩ), các tổng hợp mười sắc thuộc tỷ (đoàn tỷ), các tổng hợp mười sắc thuộc thiệt (đoàn thiệt), và các tổng hợp mười sắc thuộc thân (đoàn thân) – gọi theo i (cakhu- , sota- , ghāna- , jivhā- , kāya dasaka kalāpas )

Các yếu tố thứ mười của chúng là nhãn tịnh sắc, nhĩ tịnh sắc, tỉ tịnh sắc, thiệt tịnh sắc, và thân tịnh sắc (pasadā rūpa).

2.- Các tổng hợp mười sắc thuộc tâm (trái tim) hadāya dasaka kalāpa, trong tổng hợp này yếu tố thứ mười của chúng là sắc trái tim hay sắc tâm (hadāya-rūpa), sắc này là phi tịnh sắc (napasāda).

3. – Tổng hợp mười sắc thuộc tánh (bhāva dasaka kalāpas) yếu tố thứ mười của chúng là sắc tánh (bhāva-rūpa), cũng là sắc mờ hay phi tịnh sắc.

Các tổng hợp mười sắc thuộc nhãn hay đoàn nhãn, đoàn nhĩ, đoàn tỷ, đoàn thiệt, đoàn thân được tìm thấy trong cơ quan (giác quan) tương ứng. Yếu tố thứ mười của chúng, tức sắc tịnh sắc (pasāda rūpa), là căn môn tương ứng. Năm căn xứ vật chất cũng gọi là năm căn môn vật chất; có nghĩa là năm xứ căn (vatthu: vật) nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt và thân xứ cũng là năm căn môn (dvāra)[8] – nhãn môn, nhĩ môn, tỷ môn, thiệt môn và thân môn vậy.

Các tổng hợp mười sắc thuộc trái tim được tìm thấy nơi chất máu trong trái tim. Yếu tố thứ mười của chúng, phi tịnh sắc, cũng là xứ căn, tức ý vật hay tâm căn (vatthu). Song đó không phải là ý môn (bhāvaga hữu phần), vì ý môn là “danh”, mặc dù nó nương vào yếu tố vật chất thứ mười, phi tịnh sắc của một tổng hợp mười sắc thuộc trái tim.

Bất cứ khi nào một đối tượng đập vào một trong năm căn môn, nó cũng đồng thời đập vào môn thứ sáu (ý môn – bhāvaga)[9]. Chẳng hạn khi một sắc trần đập vào nhãn môn, nó đập vào tịnh sắc (thần kinh nhãn), yếu tố thứ mười của một tổng hợp mười sắc thuộc mắt (đoàn nhãn), và đồng thời đập vào ý môn (bhāvaga), và ý môn thì lại dựa trên sắc mờ hay phi tịnh sắc, yếu tố thứ mười của một tổng hợp mười sắc thuộc trái tim (đoàn tâm)[10]. Sắc trần trước tiên được biết bởi một ý – thức, thứ đến bởi một nhãn – thức, và rồi được biết bởi ý thức thêm nữa. Khi một thinh trần đập vào nhĩ môn, nó đập vào tịnh sắc căn, (thần kinh nhĩ), yếu tố thứ mười trong tổng hợp mười sắc thuộc tai..vv.. Ngoài các đối tượng đập vào năm căn môn ra cũng có những đối tượng chỉ đập vào ý môn (bhāvaga) thôi: đó là các loại pháp trần[11].

Các tổng hợp mười sắc thuộc tánh được tìm thấy khắp toàn thân. Yếu tố thứ mười của chúng, phi tịnh sắc, là sắc tánh (bhāva), sắc này có hai loại:

- Sắc nam tánh (purisa bhāva) là sắc cung cấp những đặc tánh thể chất của nam giới, nhờ đó chúng ta biết: “Đây là một người nam”. Sắc này chỉ tìm thấy ở nam giới.

- Sắc nữ tánh (ithi bhāva) là sắc cung cấp những đặc tánh thể chất của người nữ, nhờ đó chúng ta biết: “Đây là một người nữ”. Sắc này chỉ tìm thấy ở nữ giới.

Chính vì yếu tố thứ mười của chúng là sắc tịnh sắc mà các tổng hợp mười sắc thuộc nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt và thân là sắc tịnh sắc (thần kinh sắc). Còn tất cả các loại tổng hợp sắc khác đều không phải là sắc tịnh sắc, đó là lý do tại sao chúng lại mờ hay không rõ (phi tịnh sắc), chẳng hạn như các tổng hợp mười sắc thuộc tánh và trái tim chúng ta vừa đề cập.

Bốn loại nguồn gốc của sắc

Trên chúng ta đã đề cập đến những cấu trúc cơ bản của sắc cùng tột (sắc chân đế), bây giờ chúng ta tiếp tục bàn về nguồn gốc của sắc, điều mà hành giả cũng sẽ dần dần phải phân biệt khi hành thiền tứ đại. Sắc có một trong bốn nguồn gốc: kamma (nghiệp), tâm, thời tiết và vật thực. Do bốn nguồn gốc này chúng ta có bốn loại sắc:

1. Sắc do nghiệp sanh – Kammaja-rūpa
2. Sắc do tâm sanh – Cittaja-rūpa
3. Sắc do thời tiết sanh – Utuja-rūpa
4. Sắc do vật thực sanh – Āhāraja-rūpa

Như đã đề cập, sắc của thân chúng ta không gì khác ngoài các tổng hợp sắc (rūpa-kalāpas), và tất cả tổng hợp sắc đều có ít nhất tám sắc căn bản: đất, nước, lửa, gió, màu, mùi, vị và dưỡng chất. Yếu tố thứ tám, dưỡng chất, duy trì sắc, đó là lý do vì sao khi không còn dưỡng chất, sắc sẽ tan rã.

Bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu thêm về mỗi trong bốn loại nguồn gốc của sắc màu.

Sắc do Nghiệp sanh

Sắc do nghiệp sanh (Kammaja rūpa) bao gồm các tổng hợp sắc có mạng căn là yếu tố thứ chín, và các tổng hợp mười sắc thuộc nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, tâm và tánh. Do có sắc mạng căn, nên chúng có sự sống. Dưỡng chất (ojā) của chúng là do nghiệp sanh.

Chính trong sắc do nghiệp sanh này mà chúng ta thấy ra một điều gì đó là sự thực thuộc Thánh đế thứ Hai, Thánh đế về Nguồn gốc của Khổ (Tập đế). Sắc linh hoạt là sắc có sự sống, và sự sống này là “sanh”, Khổ Thánh đế, và như đức Phật đã giải thích trong “Mahāsatipaṭṭhāna sutta” (Kinh Đại Niệm Xứ), sanh (Khổ) có mặt là do ái (tanhā), và ái khởi lên đối với bất cứ điều gì được xem là khả ý và khả lạc: các sắc qua mắt, đập vào sắc tịnh sắc của các tổng hợp mười sắc thuộc mắt (mắt thập pháp hay đoàn nhãn) – tức nhãn môn, và bhāvaga (ý môn); các tiếng qua tai, đập vào sắc tịnh sắc của các tổng hợp mười sắc thuộc tai (đoàn nhĩ) – tức nhĩ môn, và ý môn (bhāvaga) v.v… Sắc tịnh sắc ở đây là ngũ môn/căn và sắc phi tịnh sắc hay sắc mờ là tâm căn hiện hữu do thám ái đối với các đối tượng sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp khả lạc, khả hỷ.

Đức Phật cũng giải thích rằng nhân trực tiếp khiến tái sanh là Nghiệp (kamma), nhưng để đem lại một kết quả, nó đòi hỏi phải có ái. Và mặc dù nghiệp tạo ra sắc vào lúc tái sanh[12] của một kiếp làm người là thiện nghiệp (kusala kamma), song sự tái sanh tự thân nó xảy ra vẫn do thủ, mà thủ này do ái làm duyên, và ái lại do vô minh: không tuệ tri Tứ thánh đế.

Sắc do nghiệp sanh lúc nào cũng được tạo ra (trong suốt kiếp sống). Nó là nền tảng của tất cả sắc khác. Mỗi sát-na tâm (cittakkhana) có ba giai đoạn:

1. Sanh (uppāda)
2. Trụ (hiti)
3. Diệt (bhaga).

Ở mỗi giai đoạn này, sắc nghiệp mới được sanh ra. Điều này có nghĩa rằng trong một tiến trình tâm (tiến trình của sự nhận thức) có 51 (17×3)[13] tổng hợp sắc do nghiệp sanh được tạo ra. Thời tiết (utu) hay nhiệt của chúng tạo ra các tổng hợp sắc do thời tiết sanh, và vật thực (āhāra) của chúng tạo ra các tổng hợp sắc do vật thực sanh mới.

Sắc do Tâm sanh

Sắc do tâm sanh (cittaja-rūpa) bao gồm cc tổng hợp tám sắc. Dưỡng chất của chúng do tâm sanh (cittaja-ojā), và chỉ được tao ra bởi những tâm nào khởi lên do nương tâm căn, chứ không phải những tâm thuộc ngũ môn. Và ngoài kiết sanh thức (thức tái sanh) ra, tất cả các tâm khởi lên nương vào tâm căn đều tạo ra sắc do tâm sanh.

Một ví dụ có thể giúp hành giả hiểu được loại sắc do tâm sanh ở đây là giận dữ và phiền muộn. Giận dữ và phiền muộn đều là “sân” (dosa), và một tâm sân sẽ tạo ra sắc do tâm sanh với hỏa đại thạnh. Đó là lý do vì sao, khi chúng ta giận dữ và phiền muộn, chúng ta lại nóng lên.

Ví dụ khác là sự chuyển động của thân như di động tứ chi và thân tới, lui, lên, xuống. Chẳng hạn, khi chúng ta đi, tâm được hướng vào chân. Ý định đi tạo ra sắc tâm sanh trong cẳng chân và bàn chân, cũng như khắp cả thân, nó có phong đại thạnh. Cũng như gió mang theo các vật, ở đây phong đại cũng thế, mang theo tứ chi và thân. Sự chuyển động là cả một chuỗi dài của các tổng hợp sắc do tâm sanh khác nhau được tạo ra trong các vị trí khác nhau. Các tổng hợp sắc do tâm sanh xuất hiện lúc nâng chân lên khác nhau với các tổng hợp sắc do tâm sanh lúc hạ chân xuống. Mỗi tổng hợp sắc xuất hiện và diệt mất ở cùng một chỗ, và các tổng hợp sắc mới sanh lên lên ở chỗ khác cũng diệt ở đó.

Ví dụ thứ ba là các tâm tịnh chỉ (samatha), Minh Sát (Vipassanā), Đạo (Magga) và Quả (Phala). Các tâm này rất thanh tịnh, mạnh mẽ và cao thượng, vì ở đó không có các tùy phiền não (upakkilesa: cấu uế của tâm). Điều đó có nghĩa rằng những tâm này tạo ra rất nhiều thế hệ sắc do tâm thanh tịnh và cao thượng sanh, trong đó địa đại, phong đại, hỏa đại rất nhẹ nhàng và vi tế. Khi các tổng hợp sắc nhẹ nhàng và vi tế ấy xúc chạm thân môn (yếu tố thứ mười trong các tổng hợp mười sắc thuộc thân) hành giả cảm nghiệm sự thoải mái về thân rất lớn, không có sự nặng nề (địa đại). Vì lẽ hoả đại của các tổng hợp sắc, như đã đề cập ở trên, tạo ra các tổng hợp sắc do thời tiết sanh, nên hỏa đại trong các tổng hợp sắc do tâm cao thượng ấy sanh cũng tạo ra rất nhiều những tổng hợp sắc do thời tiết sanh ở bên trong cũng như bên ngoài thân vậy.

Sự sáng chói, rực rỡ và tươi sáng sanh lên với những tâm cao thượng ấy được tạo ra bởi sự sáng chói của sắc màu thuộc sắc do tâm sanh và sắc do thời tiết sanh[14]. Điều này cũng giải thích vì sao nước da và các căn của vị hành giả đã phát triển được các tâm cao thượng này lại trong sáng và rạng rỡ[15]. Chẳng hạn, sắc được tạo ra bởi các tâm thiên nhãn của tôn giả Anuruddha tỏa khắp một ngàn thế giới sa bà: các thế giới ấy được thắp sáng bởi sắc do tâm cao thượng sanh và trở nên rõ rệt đối với ngài. Chúng ta cũng vậy, nếu chúng ta phát triển được tâm định và thanh tịnh đầy đủ, có thể chúng ta sẽ thấy được các cảnh giới khác vv…[16]

Sắc do Thời Tiết sanh

Sắc do thời tiết sanh (utuja rūpa) bao gồm các tổng hợp tám sắc. Do là những tổng hợp tám sắc (không có yếu tố thứ chín là mạng căn) nên tự thân chúng không linh hoạt[17]. Dưỡng chất của chúng là do thời tiết sanh (utujā ojā), thời tiết này xuất phát từ hỏa đại (tejo-dhātu), yếu tố thứ ba của các tổng hợp sắc[18]. Hoả đại của các tổng hợp sắc tạo ra các tổng hợp sắc do thời tiết sanh, rồi tự thân các tổng hợp sắc do thời tiết sanh này có hỏa đại lại tạo ra các tổng hợp sắc do thời tiết sanh và tự thân chúng lại có hỏa đại vv[19]

Đây là cách làm thế nào hỏa đại, theo năng lực của nó, tạo ra sắc qua một số các thế hệ.

Tất cả sắc không linh hoạt đều được tạo ra và duy trì bởi thời tiết. Một thí dụ khá rõ là các loại thực vật. Sắc của chúng là sắc do thời tiết sanh và được tạo ra bởi hỏa đại ban đầu nằm trong hạt giống. Sự tăng trưởng của chúng không là gì khác ngoài sự tạo tác liên tục của sắc do thời tiết sanh qua nhiều những thế hệ. Điều này xảy ra với sự trợ giúp của hỏa đại từ nơi đất, mặt trời (nóng), và nước (lạnh).

Hỏa đại trong các loại đá, kim loại, khoáng vật và gỗ cứng được xem là rất mạnh và tạo ra rất nhiều thế hệ sắc. Đó là lý do tại sao sắc của chúng có thể kéo dài lâu. Tuy nhiên hỏa đại trong các loại gỗ mềm, cây mềm, thịt, thức ăn và nước lại rất yếu, không tạo ra được nhiều thế hệ sắc như vậy, và đó cũng là lý do tại sao sắc chẳng bao lâu sẽ tan rã ra. Khi sắc tan rã, chính là do hỏa đại không còn tạo ra sắc mới nữa, thay vào đó lại tự đốt nó, nên sắc thối mục, tan rã, và phân hủy.

Khi sắc bị lửa đốt cháy, chẳng hạn như khi củi đang cháy, chính là vì hỏa đại của sắc bên ngoài (những ngọn lửa táp vào gỗ) hỗ trợ cho hỏa đại của sắc bên trong (gỗ), và một số lượng hỏa đại khổng lồ hiện ra, điều này có nghĩa là hỏa đại trở nên tăng thịnh và sắc bị cháy tan.

Sắc do Vật Thực sanh

Sắc do vật thực sanh (āhāraja rūpa) cũng gồm các tổng hợp tám sắc. Dưỡng chất của chúng là dưỡng chất do vật thực sanh (āhāraja-ojā). Nó được tạo ra bởi thức ăn và thức uống chúng ta tiêu thụ vào. Vật thực trong chén, vật thực trong thực quản (thức ăn trong miệng, thức ăn vừa được ăn vào chưa tiêu hoá trong bao tử, thức ăn đã tiêu hoá trọn vẹn trong ruột, phân), mủ, máu, và nước tiểu là như nhau, tức chỉ là các tổng hợp có dưỡng chất là yếu tố thứ tám do thời tiết tạo không linh hoạt.

Sức nóng giúp cho tiêu hoá là hỏa đại của các tổng hợp có mạng căn là yếu tố thứ chín, vốn (như đã đề cập) do nghiệp sanh. Khi sức nóng trợ giúp tiêu hoá gặp dưỡng chất của các tổng hợp có dưỡng chất là yếu tố thứ tám do thời tiết sanh (utuja ojaṭṭhamaka-kalāpa) thuộc thức ăn chưa tiêu hoá và tiêu hoá một phần, thì tạo thêm ra các tổng hợp có dưỡng chất là thứ tám, chúng là những tổng hợp có dưỡng chất là thứ tám do vật thực sanh, với dưỡng chất do vật thực sanh (āhāraja ojā) kể như thứ tám. Lại nữa, khi dưỡng chất ấy gặp sức nóng hay nhiệt trợ giúp tiêu hoá (do nghiệp sanh), nó tái tạo thêm qua nhiều thế hệ các tổng hợp có dưỡng chất là thứ tám. Đồng thời nó cũng hỗ trợ dưỡng chất trong các tổng hợp sắc do nghiệp sanh, do tâm sanh, và do thời tiết sanh, cũng như cho sự tồn tại của các tổng hợp sắc do vật thực sanh.

Dưỡng chất của thức ăn tiêu thụ vào trong một ngày có thể tái tạo theo cách này cho đến bảy ngày, mặc dù con số các thế hệ tạo ra tùy thuộc vào chất lượng của thức ăn. Thức ăn chư thiên, tức thức ăn thuộc thiên giới và được xem là thù thắng nhất, có thể tái tạo theo cách này cho đến một hoặc hai tháng.

Vì lẽ các tổng hợp có mạng căn là thứ chín được tìm thấy khắp thân thể, nên tiến trình tiêu hóa tìm thấy trong thực quản cũng được tìm thấy khắp tòan thân, dù ở mức độ yếu hơn. Đó là lý do tại sao, khi dầu (gió) được bôi lên da, hoặc một mũi tiêm được chích dưới da chẳng hạn, chất thuốc lan tỏa khắp toàn thân (được “tiêu hóa”). Nhưng nếu bôi quá nhiều dầu (gió), khả năng tiêu hóa kém có thể khiến nó mất một thời gian lâu để hấp thụ.

Như vậy đã kết luận phần bàn luận ngắn gọn về cái nguồn gốc của sắc. Dĩ nhiên, còn nhiều điều cần phải được giải thích nhiều thêm nữa, song chừng ấy cũng là đủ để hành giả hiểu rõ hơn về thiền tứ đại mà bây giờ chúng ta sẽ bàn đến.

Nếu muốn đạt đến Niết-bàn, hành giả cần phải biết và thấy tất cả những điều này, vì hành giả cần thấy sắc như nó thực sự là, chứ không chỉ như một khái niệm[20]. Trước hết hành giả cần phải thấy được rằng sắc (rūpa) bao gồm các tổng hợp sắc – (rūpa-kalāpas), sau đó hành giả cần phải thấu triệt cái ảo tưởng về nguyên khối (khối tưởng) để thấy ra các yếu tố riêng biệt của một tổng hợp sắc, tức là để thấy sắc tối hậu hay sắc chân đế, rồi hành giả cần phải phân tích sắc: thấy các yếu tố khác nhau, tập khởi của chúng, và nhiệm vụ của chúng là như thế nào. Để có thể làm được điều đó, hành giả phải khởi đi với thiền tứ đại, tức là phải biết là thấy bốn đại chủng (mahābhutā): Địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại.

Điểm khởi đầu của Minh sát (Vipassan)

Mặc dù ở giai đoạn này hành giả không phải đang hành Vipassanā đích xác, song chúng ta có thể nói rằng đây là điểm khởi đầu của Vipassanā, bởi vì vào lúc hoàn tất thiền tứ đại, hành giả sẽ phát triển được khả năng để phân biệt sắc chân đế, điều được xem là cần thiết cho thiền Minh Sát. Như vậy có thể nói lúc này hành giả đang thâu thập dữ liệu cần thiết để thực hiện công việc Minh Sát.

Đó là lý do vì sao tu tập thiền tứ đại là điều cần thiết đối với mọi hành giả. Dù cho con đường đi đến Minh sát của một người là đầu tiên tu tập một đề tài Thiền Chỉ (samatha), chẳng hạn như niệm hơi thở cho đến một bậc thiền nào đó, hoặc con đường của họ bắt đầu với thiền tứ đại (chỉ dẫn đến cận định), họ cũng cần phải hoàn tất thiền tứ đại trước khi có thể đi vào Minh Sát. Cả hai con đường đều được dạy tại các Thiền Viện Pa-Auk ở Myanmar. Nếu một người trước đã tu tập một đề tài Thiền Chỉ, họ nên nhập tứ thiền vào mỗi thời tọa thiền và sau khi xuất khỏi thiền ấy, bắt đầu hành thiền tứ đại.

Hành giả tu tập Thiền Tứ Đại như thế nào

Theo Kinh điển i, có hai cách tu tập thiền tứ đại: tóm tắt và chi tiết. Cách tóm tắt dành cho hành giả có tuệ nhạy bén, và chi tiết cho những hành giả gặp khó khăn với cách tóm tắt. Đức Phật dạy phương pháp tóm tắt trong Kinh Đại Niệm Xứ[21] (Mahāsatipatthāna).

Vị tỳ khưu quán sát ngay thân này, dù nó được đặt trong vị trí nào hay được sắp xếp như thế nào, cũng chỉ có các đại (giới), như vậy, “thân này chỉ có:

1. Địa đại (pathavīdhātu)
2. Thủy đại (apā-dhātu)
3. Hỏa đại (tejo-dhātu)
4. Phong đại (vāyo-dhātu)”

Visudhi Magga (Thanh Tịnh Đạo) giải thích thêm[22]: Vì thế trước hết, hành giả có tuệ nhạy bén (lợi căn) muốn tu tập thiền này nên đi vào độc cư. Rồi hành giả nên tác ý đến toàn thể thân vật chất của mình, và phân biệt các đại theo cách tóm tắt như vầy: “Trong thân này,

1) Cái gì cứng hay thô là địa đại.
2) Cái gì chảy hay kết dính là thủy đại
3) Cái gì làm cho chín hay nóng là hỏa đại ;
4) Cái gì đẩy hoặc hỗ trợ là phong đại.”[23]

Và hành giả nên tác ý và chú ý đến nó, quán sát nó tới lui nhiều lần như “địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại”, nghĩa là, quán sát thân này chỉ là các đại, không phải một chúng sinh, và vô ngã.

Khi hành giả thực hiện nỗ lực theo cách này, không bao lâu định sẽ khởi lên nơi vị ấy, định này được củng cố bởi tuệ sẽ soi sáng sự phân loại các đại, và đó chỉ là cận định chứ không đạt đến an chỉ được bởi vì đối tượng của nó là các pháp mỗi thứ có tự tính riêng của nó.

Hoặc cách khác, có bốn thân phần này đã được Trưởng lão Sriputta đề cập, nhằm mục đích chỉ rõ sự vắng mặt của bất kỳ một chúng sanh nào trong bốn đại chủng như vầy: “Khi một khoảng không được vây quanh bởi xương, gân, thịt và da, thì từ “sắc” (rūpa) có mặt. Và hành giả nên phân chia mỗi thứ trong bốn phần này, tách rời chúng ra với đôi tay trí tuệ, rồi phân biệt chúng theo cách đã nói (ở trên). “Trong thân này cái gì cứng hay thô là địa đại … có tự tính riêng của nó”.

Còn ở Thiền viện Pa-Auk Tawya thì dạy (hợp theo bộ Pháp Tụ – Dhammasanganī), hành giả nên phân biệt bốn đại trong toàn thân theo mười hai đặc tánh.

1. Địa đại (pathavī-dhātu): (1) cứng (2) thô; (3) nặng (4) mềm; (5) trơn mịn (6) nhẹ
2. Thủy đại (apā-dhātu): (7) chảy ra (8) kết dính
3. Hỏa đại (tejo-dhātu): (9) nóng (10) lạnh
4. Phong đại (vāyo-dhātu): (11) hỗ trợ (12) đẩy

Để tu tập thiền tứ đại này, hành giả phải học cách phân biệt mỗi trong mười hai đặc tính này, mỗi lần một đặc tính. Thường thường, người mới hành nên chọn những đặc tính nào dễ để phân biệt trước, sau đó mới đến các đặc tính khó hơn. Hành giả thường được dạy theo thứ tự này: đẩy, cứng, thô, nặng, hỗ trợ, mềm, trơn mịn, nhẹ, nóng, lạnh, kết dính, chảy. Mỗi đặc tính trước hết phải được phân biệt ở một vị trí nào đó trên thân, rồi sau đó ở khắp cả thân.

Làm thế nào để thấy mười hai đặc tính

1. Để phân biệt đặc tính “đẩy”, hành giả bắt đầu bằng cách ý thức, qua xúc giác, sự đẩy vào ở giữa đầu khi hành giả thở vô và thở ra. Khi phân biệt, hành giả phải tập trung vào đó cho tới khi “sự đẩy” hiển hiện rõ trong tâm hành giả. Rồi chuyển cái biết hay ý thức của hành giả sang một phần nào đó của thân ở gần bên, và tìm lực đẩy ở đó. Theo cách này hành giả từ từ có thể phân biệt được lực đẩy trước tiên ở trong đầu, rồi đến cổ, thân mình, hai tay, hai chân và bàn chân. Cứ làm đi làm lại nhiều lần như vậy cho đến khi bất cứ chỗ nào hành giả đặt cái biết của mình trên thân, hành giả đều thấy lực đẩy thật dễ dàng. Nếu lực đẩy của hơi thở ở giữa đầu không dễ phân biệt, thì cố gắng cảm giác lực đẩy khi lồng ngực nở ra, hoặc bụng chuyển động khi đang thở. Nếu ở những chỗ đó cũng không rõ, thử cảm giác mạch đập, hoặc bất kỳ một hình thức hiển hiện nào khác của lực đẩy. Nhớ rằng chỗ nào có sự chuyển động, chỗ đó có lực đẩy.

Cho dù bắt đầu ở đâu, hành giả cũng phải phát triển sự hiểu biết của mình đi dần dần xuống, để có thể phân biệt được lực đẩy khăp toàn thân, từ đầu cho đến chân. Ở một vài chỗ nó sẽ rõ ràng, còn những chỗ khác có thể kém hơn, nhưng nó có mặt ở khắp toàn thân.

2. Khi đã cảm thấy hài lòng rằng mình có thể thấy được đặc tính đẩy rồi, hành giả chuyển sang tìm đặc tính cứng. Bắt đầu bằng cách phân biệt tính cứng nơi răng. Cắn 2 hàm răng lại và cảm nhận xem chúng cứng như thế nào. Rồi nhả ra và cảm nhận tính cứng của chúng. Khi hành giả có thể cảm nhận được điều này, hãy cố gắng phân biệt đặc tính cứng ở khắp toàn thân theo cách có hệ thống từ đầu đến chân, cũng theo cách đã làm để phân biệt đặc tính đẩy vậy. Không nên cố ý làm cho thân căng thẳng.

Khi hành giả có thể phân biệt được đặc tính cứng ở khắp thân xong, thì trở lại tìm đặc tính đẩy ở khắp toàn thân như trước. Cứ xen kẽ phân biệt giữa hai đặc tính này, tức là giữa đẩy và cứng, lặp đi lặp lại nhiều lần, từ đầu đến chân cho đến khi cảm thấy thoả mãn rằng mình có thể làm được công việc đó rồi.

3. Kế tiếp tìm đặc tính “thô”. Hành giả lấy lưỡi chà qua chà lại mép răng, hay lướt tay qua y áo, hoặc trên da cánh tay của hành giả để cảm giác tính chất thô nhám này. Sau đó cố gắng phân biệt đặc tính thô nhám khắp toàn thân theo hệ thống như trước. Nếu không thể cảm giác đươc tính chất thô nhám theo cách đó, hãy cố gắng nhìn vào đặc tính đẩy và cứng lại và hành giả có thể phân biệt tính chất thô nhám cùng với hai đặc tính này.

Khi đã có thể phân biệt đặc tính thô nhám rồi, hành giả trở lại phân biệt ba đặc tính: đẩy, cứng, thô, mỗi lần một đặc tính ở khắp toàn thân và làm đi làm lại nhiều lần cho đến khi cảm thấy hài lòng.

4. Kế đó tìm đặc tính “nặng”. Đặt bàn tay này lên bàn tay kia ở trên lòng hành giả, và cảm giác tính chất nặng của bàn tay trên, hoặc cảm giác tính chất nặng của đầu bằng cách cúi về trước. Thực hành theo hệ thống cho đến khi hành giả phân biệt được đặc tính nặng ở khắp toàn thân.

Khi đã có thể phân biệt rõ đặc tính nặng rồi, hành giả lần lượt tìm lại bốn đặc tính đẩy, cứng, thô và nặng ở khắp toàn thân như trước, cho đến khi cảm thấy hài lòng.

5. Kế tiếp tìm đặc tính hỗ trợ. Buông lơi lưng, để cho thân hành giả khum về trước. Rồi ngay thân lên và giữ thẳng lại. Lực giữ cho thân thẳng ấy là đặc tính hỗ trợ. Thực hành theo hệ thống cho đến khi hành giả phân biệt được đặc tính hỗ trợ ở khắp toàn thân. Nếu không rõ, cố gắng phân biệt nó cùng với đặc tính cứng, nhờ vậy có thể làm cho nó dễ thấy hơn.

Sau khi đã có thể phân biệt đặc tính hỗ trợ dễ dàng rồi, hãy tìm lại năm đặc tính đẩy, cứng, thô, nặng và hỗ trợ ở khắp toàn thân như trước.

6. Kế đến tìm đặc tính mềm bằng cách ép sát lưỡi vào phía trong của môi dưới để cảm nhận tính chất mềm của nó. Rồi thư giản thân, và thực hành theo hệ thống (từ đầu xuống chân) cho tới khi hành giả có thể phân biệt đặc tính mềm thật dễ dàng trên khắp toàn thân.

Sau đó tìm lại sáu đặc tính: đẩy, cứng, thô, nặng, hỗ trợ và mềm ở khắp toàn thân.

7. Kế tiếp tìm đặc tính trơn mịn bằng cách thấm ướt đôi môi và dùng lưỡi chà trên đó từ mép bên này qua mép bên kia.Thực hành cho đến khi hành giả có thể phân biệt được đặc tính trơn mịn ở khắp toàn thân.

Sau đó tìm lại bảy đặc tính trên ở khắp toàn thân.

8. Kế tiếp tìm đặc tính nhẹ bằng cách vẫy vẫy ngón tay lên xuống, để cảm nhận tính chất nhẹ của nó. Nếu hành giả không cảm nhận được bằng cách ấy, hãy tìm đặc tính nặng trở lại. Khi hành giả có thể cảm nhận đặc tính nặng của toàn thân, thì vẫy vẫy ngón tay lên xuống lại và cảm nhận đặc tính nhẹ của nó. Thực hành cho đến khi hành giả có thể phân biệt được đặc tính nhẹ ở khắp thân. Sau đó tìm lại tám đặc tính như trước.

9. Kế, tìm đặc tính nóng (hay ấm) ở khắp toàn thân. Đặc tính này thường rất dễ thấy. Bắt đầu bằng cách nhận biết, qua xúc giác, đặc tính nóng ở bất kỳ chỗ nào nó hiển hiện rõ rệt nhất đối với hành giả. Sau đó tìm lại tất cả chín đặc tính như trước.

10. Kế đến tìm đặc tính lạnh bằng cách cảm nhận tính chất lạnh của hơi thở khi nó đi vào mũi, rồi phân biệt nó theo hệ thống trên khắp toàn thân.

Đến đây hành giả có thể phân biệt được cả mười đặc tính. Mười đặc tính đầu này được biết trực tiếp qua xúc giác, nhưng hai đặc tính sau, chảy và kết dính, phải được suy ra từ mười đặc tính trên. Đó là lý do chính đáng để nói về nó sau chót vậy.

11. Phân biệt đặc tính kết dính, nhận thức rõ về thân này được giữ lại với nhau bởi da, thịt và gân như thế nào. Còn máu được giữ lại bên trong bởi da, như nước trong trái bong bóng ra sao. Không có đặc tính kết dính, thân này ắt hẳn sẽ rời ra thành từng miếng và phần tử riêng biệt. Lực hấp dẫn giữ cho thân gắn vào đất này cũng là đặc tính kết dính. Nếu như vậy vẫn không rõ, hành giả hãy phân biệt cả mười đặc tính trên tới lui nhiều lần, mỗi lần một đặc tính, trên khắp toàn thân. Khi hành giả đã trở nên thiện xảo trong việc phân biệt đó rồi, hành giả sẽ thấy rằng tính chất kết dính cũng trở nên hiển hiện. Nếu vẫn chưa rõ, thì chỉ phân biệt hai đặc tính đẩy và cứng, lặp đi lặp lại nhiều lần. Lúc đó, hành giả sẻ cảm thấy như thể toàn thân của mình bị quấn trong một sợi dây. Hãy phân biệt trạng thái ấy như đặc tính kết dính, và tu tập nó như hành giả đã tu tập các đặc tính khác.

12. Để phân biệt đặc tính chảy, hãy ý thức về nước miếng đang chảy ra trong miệng, máu đang chảy qua các huyết quản, không khí (hay gió) đang chảy vào hai lá phổi, hay hơi nóng đang chảy khắp toàn thân. Nếu như vậy vẫn không rõ, thì nhìn vào nó cùng với đặc tính lạnh, nóng hoặc đẩy, hành giả có thể sẽ phân biệt được đặc tính chảy.

Khi hành giả có thể phân biệt được cả mười hai đặc tính này một cách rõ ràng ở khắp toàn thân, từ đầu đến chân, hành giả sẽ lặp đi lặp lại chúng nhiều lần theo thứ tự này. Khi đã thoả mãn, hành giả nên sắp xếp lại thứ tự theo cách đã đề cập trước, tức là ở đầu bài giảng, đó là: cứng, thô, nặng, mềm, trơn, nhẹ, chảy, kết dính, nóng, lạnh, hỗ trợ và đẩy. Theo thứ tự đó, hành giả cố gắng phân biệt từng đặc tính, mỗi lần một và từ đầu đến chân. Hành giả nên cố gắng phân biệt theo thứ tự này cho tới khi có thể làm thực nhanh, ít nhất cũng ba vòng trong một phút.

Trong lúc thực hành theo cách này, các đại sẽ trở nên mất quân bình đối với một số hành giả: tức là một vài tính chất có thể trở nên thái quá, thậm chí không thể chịu đựng nỗi. Đặc biệt các đặc tính cứng, nóng và đẩy có thể trở nên thái quá. Nếu sự tình này xảy ra, hành giả nên tập trung nhiều hơn vào tính chất ngược lại (như cứng thì tập trung vào mềm chẳng hạn), và tiếp tục tu tập định theo cách đó.

Chẳng hạn, nếu đặc tính chảy thái quá thì tập trung nhiều hơn vào đặc tính kết dính, hoặc nếu đặc tính hỗ trợ thái quá thì tập trung nhiều hơn vào đặc tính đẩy. Những cặp đối nghịch là: cứng-mềm, thô-trơn mịn, nặng-nhẹ, chảy-kết dính, nóng-lạnh và hỗ trợ-đẩy.

Chính vì lợi ích quân bình các đại mà mười hai đặc tính này mới được ưu tiên dạy trước. Khi đã quân bình các đại được rồi, thì việc đắc định sẽ dễ dàng hơn thôi.

Đến đây hành giả đã trở nên thiện xảo công việc phân biệt mười hai đặc tính trong toàn thân. Với mười hai đặc tính đã hiển hiện rõ ràng, hành giả lúc này sẽ phân biệt sáu đặc tính đầu trong một cái nhìn, như là địa đại ; hai đặc tính kế trong một cái nhìn, như là thủy đại; hai đặc tính kế trong một cái nhìn, như là hỏa đại; và hai đặc tính cuối cùng, trong một cái nhìn, như là phong đại. Hành giả nên liên tục phân biệt đất, nước, lửa, gió, như vậy để an tịnh tâm và đắc định. Có thể làm đi làm lại điều này hàng trăm, hàng ngàn, hoặc hàng triệu lần càng tốt.

Một phương pháp hiệu quả nhằm giữ cho tâm an định là không di chuyển cái biết (sự ý thức) của hành giả từ phần thân này đến phần thân khác như trước nữa. Thay vào đó, lấy một cái biết khái quát về thân. Tốt nhất, thường là làm một cái biết khái quát như thể hành giả đang ngoái đầu nhìn lại vậy. Cũng có thể thực hiện điều này như thể hành giả đang nhìn từ trên đầu của mình xuống, mặc dù cách làm này có thể đưa đến sự căng thẳng và không quân bình của tứ đại.

Mười cách phát triển định

Phụ chú giải bộ Thanh Tịnh Đạo nói tới lúc này hành giả nên phát triển định theo mười cách[24]. Hành giả phân biệt bốn đại:

1. Theo trình tự (anupubbato) đất, nước, lửa và gió, theo trình tự Đức Phật đã đưa ra.

2. Không quá nhanh (nātisīghato). Nếu hành giả phân biệt tứ đại quá nhanh, thì sẽ không thấy rõ.

3. Không quá chậm (nātisaikato). Nếu hành giả phân biệt tứ đại quá chậm, thì sẽ không đi đến đoạn cuối.

4. Ngăn tâm tán loạn. (Vikkhepapaibāhanato) Hành giả phải giữ tâm chú vào đối tượng thiền, ở đây là bốn đại, và không để nó phóng đi nơi khác.

5. Vượt qua khái niệm (paññattisamatikkamanato) Hành giả không chỉ tâm niệm, “đất, nước, lửa, gió” mà cần biết rõ những thực tại mà khái niệm ấy biểu hiện: cứng, thô, nặng, mềm, mịn, nhẹ, chảy, dính, nóng, lạnh, hỗ trợ và đẩy.

6. Loại bỏ những gì không rõ (anupaṭṭhānamuñcanato): Khi hành giả có thể phân biệt được cả mười hai đặc tính rồi, tạm thời hành giả có thể bỏ ra những đặc tính nào không rõ ràng, nhưng nếu (làm vậy) mà nó đem đến đau nhức hay căng thẳng thì thôi, vì có một sự mất quân bình trong các đại. Khi loại bỏ những đặc tính không rõ ra, hành giả cũng cần phải giữ lại ít nhất một đặc tính nào đó cho mỗi đại trong tứ đại đó. Nghĩa là hành giả không thể tiến hành chỉ với ba, hai hoặc một đại được. Và hơn hết vẫn là không loại bỏ đặc tính nào cả, nếu mười hai đặc tính đều rõ.

7. Phân biệt các đặc tính (lakkhanato). Khi hành giả mới bắt đầu thiền, các đặc tính của mỗi đại vẫn chưa rõ lắm, nên hành giả cũng có thể tập trung vào nhiệm vụ và sự thể hiện của các đại[25]. Tuy nhiên khi định của hành giả trở nên khá hơn, hành giả chỉ nên tập trung vào những đặc tính tự nhiên (sabhāvalakkhana): cứng và thô của địa đại, chảy và dính của thủy đại, nóng và lạnh của hỏa đại, và hỗ trợ của phong đại.

Ở điểm này hành giả sẽ thấy là chỉ có các đại, chứ không thấy chúng như một người hay một tự ngã nữa.

8. 9. 10. Phụ chú giải đề nghị thêm là hành giả nên phát triển định của mình theo ba bài Kinh: (8) “Adhicitta Sutta” (“Tăng Thượng Tâm Kinh”)[26] , (9) “Sītibhāva Sutta” (“Trở Nên Lạnh Kinh”), (10) “Bojjhanga Sutta” (“Thất Giác Chi Kinh”)[27] .

Trong ba bản kinh này đức Phật khuyên nên quân bình ngũ căn (indriya): tín, tấn, niệm, định và tuệ; và quân bình Thất giác chi (Bojjhanga): niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, tịnh, định và xả. Những điều này đã được bàn đến trong bài giảng đầu tiên.

Làm thế nào để thấy Sắc chân đế

Thấy thân tịnh sắc như một khối.

Khi hành giả tiếp tục tu tập định trên bốn đại và đến gần cận định (upacāra samādhi) hành giả sẽ thấy các loại ánh sáng khác nhau. Đối với một số hành giả ánh sáng ấy có màu xám như khói. Nếu tiếp tục tập trung vào bốn đại trong ánh sáng xám đó, nó sẽ trở nên càng lúc càng trắng hơn, tợ như bông gòn, và rồi sẽ trắng sáng như mây, lúc ấy toàn thân hành giả sẽ xuất hiện như một hình thể trắng toát. Nếu hành giả tiếp tục tập trung vào bốn đại trong hình thể trắng toát ấy cuối cùng nó sẽ trở thành trong suốt giống như một khối nước đá hay thủy tinh vậy.

Sắc trong suốt này là năm sắc thần kinh (pasāda), hay còn gọi năm “tịnh sắc”: Thân tịnh sắc, nhãn tịnh sắc, nhĩ tịnh sắc, tỷ tịnh sắc và thiệt tịnh sắc[28]. Thần kinh thân hay thân tịnh sắc được thấy ở khắp toàn thân, trong tất cả sáu căn, đó là lý do tại sao toàn thân hành giả lại xuất hiện trong suốt như vậy. Hành giả thấy các tịnh sắc này như một hình thể hoặc một khối trong suốt, bởi vì hành giả vẫn chưa hiểu rõ ba loại khối tưởng (ghana), đó là khối tưởng về tính tương tục, khối tưởng về tổng hợp hay nhóm và khối tưởng về nhiệm vụ. (xem lại câu trả lời 1.3 ở trên).

Làm thế nào để thấy các Tổng hợp sắc (Rūpa-kalapas)

Nếu hành giả tiếp tục phân biệt tứ đại trong hình thể (hay khối) trong suốt (tịnh sắc) ấy, nó sẽ lấp lánh và phát ra ánh sáng. Khi hành giả tập trung vào tứ đại trong hình thể (hoặc khối) này một cách liên tục trong ít nhất nửa giờ, thì hành giả đã đạt đến cận định. Với ánh sáng ấy, hành giả phân biệt hư không giới trong hình thể trong suốt, bằng cách tìm những khoảng không nhỏ ở đó. Lúc này hành giả sẽ thấy rằng hình thể trong suốt phân tán thành các phần tử nhỏ gọi là các tổng hợp sắc (rūpa-kalāpa) rūpa (sắc) + kalāpa (nhóm/tổng hợp). Sau khi đã đạt đến giai đoạn này, tức giai đoạn tâm thanh tịnh (citta-visudhi), hành giả có thể tiến hành tu tập kiến thanh tịnh (diṭṭhi-visuddhi), bằng cách phân tích các tổng hợp sắc. Đây là giai đoạn khởi đầu của thiền Minh sát (vipassanā).

(Những lợi ích của Định)

Trước khi giải thích cách làm thế nào để tu tập Minh sát, chúng ta hãy nhìn vào một lợi ích thực tiễn có được từ cả hai — cận định mà một hành giả thuần quán ở đây đã đạt đến, và an chỉ định (định của bậc thiền) của vị hành giả theo cỗ xe Tịnh chỉ (samātha).

Trong thiền Minh sát, do cần phải phân biệt nhiều, nên mệt mỏi thừơng phát sinh. Khi điều này xảy ra, một sự an nghỉ tạm thời sẽ rất lợi ích. Trong chú giải “Kinh Song Tầm” (Dvedhāvitakka Sutta), một bài kinh thuộc Trung Bộ I, có giải thích cách làm thế nào một hành giả có thể an nghỉ trong thiền (jhāna). Chú giải liên hệ tỷ dụ: trong suốt một trận chiến, đôi khi những binh lính cảm thấy mệt mỏi. Thế lực của đối phương có thể hùng mạnh hơn, và tên bay tới tấp. Vì thế binh lính phải rút vào thành lũy của họ. Bên trong thành lũy họ được an toàn do tránh khỏi những mũi tên của đối phương và được an nghỉ. Rồi, khi họ cảm thấy khoẻ và có sức trở lại, họ rời khỏi thành để trở lại chiến trận. Bậc thiền (jhāna) ở đây cũng giống như thành lũy, có thể được dùng như một nơi an nghỉ trong suốt thời gian Minh sát. Các hành giả Thiền Quán, không có một bậc thiền, và đã khởi sự trực tiếp với thiền Tứ Đại, có thể dùng cận định của họ như một thành lũy để an nghỉ. Trong cả hai trường hợp, hành giả đều có thể trở lại chiến trường Minh sát với thân tâm tươi tỉnh, và trong sáng rõ ràng. Như vậy, có một nơi an nghỉ sẽ đem lại lợi ích rất lớn trong Thiền Minh sát.

Các Tổng hợp Sắc Trong suốt và các Tổng hợp Sắc Mờ

Các tổng hợp sắc (rūpa-kalāpa) chia thành hai nhóm: các tổng hợp sắc trong suốt và các tổng hợp sắc mờ. Các tổng hợp sắc nào chứa một trong năm tịnh sắc (nhãn-nhĩ-tỷ-thiệt và thân tịnh sắc) là những tổng hợp sắc trong suốt. Còn tất cả tổng hợp sắc khác là mờ.

Phân tích các tổng hợp sắc

Làm thế nào để thấy Bốn Đại

Trước tiên hành giả nên phân biệt bốn đại, đất, nước, lửa và gió của các tổng hợp sắc trong suốt và các tổng hợp sắc mờ. Hành giả sẽ thấy rằng các tổng hợp sắc sanh và diệt cực kỳ nhanh, không thể nào phân tích được chúng, vì hành giả vẫn thấy chúng như những phân tử cỡ nhỏ. Do chưa thấu triệt ba loại khối tưởng (ghana), nên hành giả vẫn còn nằm trong lãnh vực khái niệm (paññatti) chứ chưa đến được lãnh vực chân đế hay thực tại cùng tột (paramatha)[29].

Chính do hành giả chưa thấu suốt những khái niệm về tổng hợp và hình dáng mà các phân tử, các khối nhỏ vẫn tồn tại. Nếu hành giả không phân tích thêm nữa, mà cố gắng hành Minh sát bằng cách quán sự sanh và diệt của các khối nhỏ ấy, tức các tổng hợp sắc (rūpa-kalāpas), thì hành giả vẫn chỉ đang cố gắng hành Minh sát trên các khái niệm mà thôi. Vì vậy hành giả phải phân tích các tổng hợp sắc thêm nữa, cho đến khi có thể thấy các đại trong các tổng hợp sắc riêng lẻ, để đạt đến thực tại cùng tột – chân đế.

Nếu, do các tổng hợp sắc sanh và diệt cực kỳ nhanh, hành giả không thể phân biệt bốn đại trong các tổng hợp sắc riêng lẻ, thì hãy bỏ qua sự sanh – diệt của chúng, tỷ như khi gặp một người nào mà mình không muốn gặp, hành giả sẽ làm bộ không thấy hoặc để ý tới y vậy. Ở đây cũng thế, hành giả sẽ không chú ý đến sự sanh diệt của các tổng hợp sắc mà chỉ tập trung vào bốn đại trong các tổng hợp sắc ấy mà thôi.

Nếu vẫn không thành công, hành giả nên tập trung vào địa đại lúc trong toàn thân và lúc thì trong một tổng hợp sắc riêng lẻ xen nhau. Đối với thủy đại, hỏa đại, và phong đại cũng làm như vậy. Hành giả cần phải phân biệt được bốn đại trong một tổng hợp sắc “trong” riêng lẻ và trong một tổng hợp sắc “mờ” riêng lẻ.

Đây là phương thức tiến hành mà chúng tôi dạy tại Thiền viện Pa-Auk: hành giả phân biệt các đại theo tuần tự từng đại một. Các bản kinh giải thích rằng hành giả nên phân biệt cả bốn đại một lần, nhưng cần phải hiểu là cách đó chỉ dành cho những hành giả đã thiện xảo hay thuộc hạng lợi căn. Bởi vì, phân biệt các đại của sắc rất sâu xa, năng lực Minh sát của hành giả sơ cơ thường không đủ mạnh và vững chắc để họ có thể thấy tất cả các đại một lần. Vì thế, chúng tôi dạy họ phân biệt các đại theo tuần tự từng đại một, từ căn bản một, từ cái dễ nhất đến cái khó nhất. Sau đó, khi họ đã trở nên rành rẽ trong pháp hành rồi, họ có thể thấy cả bốn đại (tám đặc tính) trong một tổng hợp sắc một lần[30].

Khi hành giả đã thấy được bốn đại trong một tổng hợp sắc “trong” cũng như trong một tổng hợp sắc “mờ” riêng lẻ là hành giả đã hoàn tất giai đoạn thực hành Thiền Chỉ (samatha) và hoàn tất giai đoạn Tâm thanh tịnh (citta visuddhi) và cũng đang trong giai đoạn khởi đầu của thực hành Minh sát, tức Kiến Thanh Tịnh (diṭṭhi visudhi), vì hành giả đang phân biệt danh sắc chân đế (nāma-rūpa pariggaha: nắm bắt được duyên khởi của danh sắc) và phân tích Danh sắc chân đế (nāma-rūpa pariccheda: phân tích danh sắc). Đó là lý do vì sao thiền Tứ Đại lại bao gồm cả Chỉ lẫn Quán (samāthavipassanā)

Khi đã thành công, hành giả phân biệt bốn đại trong một số các tổng hợp sắc trong và mờ của các căn đó là nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn và ý căn lần lượt từng căn (xứ) một.

Như đã đề cập ở trên, các tổng hợp sắc trong và mờ, tất cả đều bao gồm cùng một căn bản tám sắc. Đến đây hành giả đã phân biệt được bốn sắc đầu (tức đất, nước, lửa và gió), và sẽ tiếp tục để phân biệt bốn sắc còn lại: màu, mùi, vị và dưỡng chất.

Tuy nhiên, trước khi tiến hành, trước hết chúng ta cần phải bàn đến phương thức chung cho việc phân biệt bốn sắc này.

Bộ sách Xua Ảo tưởng (The Dispeller of Delusion), chú giải bộ Phân tích của Tạng Diệu Pháp, nói[31]

Sabbopi panesa pabhedo manodvārikayavaneyeva labbhati (Mọi hiện tượng đều được biết bởi một mình tốc hành (javana)[32] ý môn mà thôi.[33])

Hành giả chỉ có thể biết được địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại của một tổng hợp sắc, với ý thức mà thôi. Đối với màu, mùi, vị của một tổng hợp sắc cũng vậy, hành giả chỉ có thể biết theo cách đó. Mặc dù rất dễ thấy được màu với ý thức, nhưng để thấy được mùi và vị theo cách đó lại rất khó, bởi vì thói quen lâu đời của chúng ta là dùng mũi và lưỡi (để làm công việc ấy). Do đó, khi thiền của hành giả chưa mạnh và vững chắc, nên dùng tỷ thức hoặc thiệt thức trợ giúp.

Tới đây, tôi đã giải thích xong hai cách để phân biệt một đối tượng, bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu cách làm thế nào người hành thiền có thể phân biệt được màu, mùi, vị và dưỡng chất trong các tổng hợp sắc.

Làm thế nào để thấy Màu

Màu (vaṇṇa), yếu tố thứ năm cần phải phân biệt, là đối tượng của sự thấy (rūparammaa: cảnh sắc) và được tìm thấy trong tất cả mọi tổng hợp sắc. Màu rất dễ nhận biết đối với ý thức, bởi vì chỉ nhìn các tổng hợp sắc hành giả đã thấy được màu. Màu thì luôn luôn phải là màu của một cái gì, và cái gì đó chính là tứ đại[34].

Làm thế nào để thấy Mùi

Mùi hay hương (gandha), yếu tố thứ sáu cần phân biệt, là đối tượng của sự ngửi (gandhārammaa: cảnh khí), và cũng được thấy trong các tổng hợp sắc. Do vì thói quen lâu đời của chúng ta là dùng mũi để ngửi, nên lúc đầu hành giả cần có tỷ thức để trợ giúp hành giả nhận biết được mùi với ý thức.

Để làm điều này, trước hết hành giả cần phân biệt sắc mà hai loại thức (tỷ thức và ý thức) này nương, đó là tỷ tịnh sắc và sắc trái tim (sắc mờ hay phi tịnh sắc). Tỷ tịnh sắc là yếu tố thứ mười của tổng hợp mười sắc có tỷ là yếu tố thứ mười (hay đoàn tỷ). Còn sắc trái tim là yếu tố thứ mưởi của tổng hợp mười sắc có trái tim là yếu tố thứ mười (đoàn tâm).

Để tìm tỷ tịnh sắc này, đầu tiên hành giả phân biệt tứ đại nơi mũi, nhưng phải chắc chắn là đang nhìn vào một tổng hợp mười sắc trong mũi thuộc tỷ căn chứ không phải thuộc thân căn. Chỉ những tổng hợp tỷ mười sắc mới có tỷ tịnh sắc.

Kế đến, để thấy được sắc trái tim, hành giả cần phân biệt ý môn (bhāvaga – hữu phần) sáng chói[35]. Công việc này tương đối dễ, vì hành giả đã phân biệt được tứ đại trong các tổng hợp sắc trong và mờ thuộc sáu căn rồi.

Đến đây, sau khi đã phân biệt được tỷ tịnh sắc (tỷ môn) và bhavaga (ý môn), hành giả có thể tiến hành phân biệt mùi của một tổng hợp sắc gần với tổng hợp tỷ mười sắc chỗ mà hành giả đã phân biệt tịnh sắc (sắc trong suốt). Hành giả sẽ thấy rằng mùi tác động vào tỷ môn và ý môn cùng một lúc.

Làm thế nào để thấy Vị

Vị (rasa), yếu tố thứ bảy cần phân biệt, là đối tượng của vị giác hay thần kinh thiệt (rasāmmanạ: sắc cảnh vị), cũng được tìm thấy trong tất cả các tổng hợp sắc. Như đối với mũi (tỷ), lúc đầu hành giả sẽ cần có tỷ thức trợ giúp để biết đựơc vị với ý thức. Và ở đây cũng vậy, trước tiên hành giả nên phân biệt sắc mà hai loại thức này nương. Sau khi đã làm được điều đó, hành giả phân biệt vị của một tổng hợp sắc. Hành giả có thể lấy một tổng hợp sắc từ nước miếng trên lưỡi của mình.

Làm thế nào để thấy Dưỡng chất

Dưỡng chất (ojā) là yếu tố thứ tám cần phân biệt. Nó cũng được thấy trong mọi tổng hợp sắc, và như đã đề cập ở trứơc, gồm bốn loại[36]:

1- Dưỡng chất do Nghiệp sanh (Kammaja ojā)
2- Dưỡng chất do Tâm sanh [37] (Cittaja ojā)
3- Dưỡng chất do Thời tiết sanh (Uttuja ojā)
4- Dưỡng chất do Vật thực sanh (Āhāraja ojā)

Khảo sát bất kỳ tổng hợp sắc nào hành giả cũng sẽ thấy dưỡng chất. Từ dưỡng chất này chúng ta thấy các rūpa kalāpas (tổng hợp sắc) từ đó trở đi sinh sôi nảy nở liên tục.

Sau khi đã phân biệt được tám yếu tố hay sắc căn bản có mặt trong mọi tổng hợp sắc rồi, hành giả nên cố gắng phân biệt ba sắc căn bản còn lại được tìm thấy trong các tổng hợp sắc đặc biệt – đó là: sắc mạng căn, sắc tánh (nam-nữ) và sắc trái tim[38].

Làm thế nào để thấy được Sắc Mạng Căn và Sắc Tánh

Sắc mạng căn (Jīitindriya) chỉ duy trì sự sống của sắc do nghiệp sanh, nên cũng có nghĩa là nó chỉ được tìm thấy ở (sắc nghiệp) đó.

Như đã nói ở trước[39], vì lẽ tất cả các tổng hợp sắc trong suốt đều do Nghiệp sanh, nên cũng rất dễ dàng cho hành giả để phân biệt mạng căn này trước trong một tổng hợp sắc trong suốt. Phân biệt một tổng hợp sắc có mắt là yếu tố thứ mười (Đoàn nhãn hay mắt thập pháp), và thấy rằng sắc mạng căn chỉ duy trì (sự sống) các sắc của tổng hợp sắc riêng nó mà thôi, chứ không duy trì sắc của các tổng hợp khác.

Kế đó hành giả cũng cần phân biệt sắc mạng căn trong một tổng hợp sắc mờ. Thân có ba loại tổng hợp sắc mờ có sắc mạng căn là:

1- Các tổng hợp sắc có trái tim là thứ mười (hadaya dasaka-kalāpa) – chỉ ở trong trái tim[40].
2- Các tổng hợp sắc có tánh là thứ mười (bhāva dasaka-kalāpa) – khắp toàn thân[41].
3- Các tổng hợp sắc có mạng căn là thứ chín (jīvita navaka-kalāpa)[42].

Trước tiên phân biệt sắc mạng căn của một tổng hợp sắc có mạng căn là thứ chín hoặc của một tổng hợp sắc có tánh là thứ mười được xem là dễ nhất. Để phân biệt rõ hai tổng hợp sắc này, hành giả hãy tìm sắc tánh (bhāva-rūpa).

Lúc này hành giả đã phân biệt được sắc mạng căn trong một tổng hợp sắc trong suốt thuộc về mắt, vì vậy hãy nhìn lại vào mắt và phân biệt một tổng hợp sắc mờ có sắc mạng căn. Bởi lẽ các tổng hợp sắc có mạng căn là thứ chín và các tổng hợp sắc có tánh là thứ mười đều được tìm thấy trong tất cả sáu căn, nên nó sẽ là một trong hai mà thôi. Nếu nó có sắc tánh, thì đó là một tổng hợp sắc có tánh là thứ mười, ngược lại, nếu không có thì đó là một tổng hợp có mạng căn là thứ chín. Trong trường hợp đó, hãy phân biệt một tổng hợp sắc mờ khác cho đến khi hành giả phân biệt được sắc tánh, rồi tìm sắc này trong một tổng hợp sắc thuộc tai (nhĩ), mũi (tỷ), lưỡi (thiệt), thân và trái tim (nhục đoàn tâm).

Để phân biệt một tổng hợp sắc mờ thuộc trái tim, hành giả tập trung vào ý môn hay bhavaga chói sáng trở lại. Muốn thấy rõ, hãy lắc lắc ngón tay của hành giả, và nhìn xem cái tâm muốn lắc lắc ngón tay ấy. Rồi cố gắng phân biệt các tổng hợp sắc hỗ trợ cho bhavaga (tâm hữu phần). Hành giả cũng có thể tìm chúng ở phần dưới của bhavaga: đó là những tổng hợp sắc mờ có trái tim là thứ mười [43].

Như vậy, hành giả đã hoàn tất việc phân biệt tất cả sắc trong các tổng hợp sắc: đất, nước, lửa, gió, màu, mùi, vị, dưỡng chất, mạng căn và sắc tánh. Và hành giả cũng đã phân biệt được chúng trong các tổng hợp sắc trong và mờ nơi sáu căn. Giai đoạn kế tiếp trong việc phân biệt sắc là phân tích sắc của mỗi (căn) trong sáu căn (giác quan): mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và trái tim (heart) để thấy ra những loại tổng hợp sắc khác nhau ở đó.[44]

Hành giả khởi sự bằng cách phân tích chỉ hai loại trong sắc tịnh sắc (sắc trong suốt).

Cách phân tích

Làm thế nào để phân tích các tịnh sắc (sắc trong)

Mỗi giác quan có một số loại tổng hợp sắc hòa lẫn vào nhau. Chẳng hạn mắt, tai, mũi, lưỡi có hai loại tổng hợp sắc trong suốt pha lẫn với nhau giống như bột gạo và bột mì vậy – đó là tổng hợp sắc trong suốt thuộc giác quan tương ứng, và tổng hợp sắc trong suốt thuộc thân. Chẳng hạn, hai loại tổng hợp sắc trong mắt là:

1. Tổng hợp sắc có mắt là thứ mười (Đoàn nhãn) – cakkhu dasaka  kapāla – yếu tố thứ mười là nhãn tịnh sắc.
2. Tổng hợp sắc có thân là thứ mười (Đoàn thân) – kāya dasaka kalāpa – yếu tố thứ mười là thân tịnh sắc.

Các tổng hợp sắc có thân là thứ mười hay “Đoàn thân” được tìm thấy khắp sáu giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tim), hòa lẫn với các tổng hợp ở đó. Như trong con mắt, nó hòa lẫn với các tổng hợp sắc có mắt là thứ mười (Đoàn nhãn); trong tai, nó hòa lẫn với Đoàn nhĩ (sata dasaka kalāpas) v.v… Các tổng hợp sắc có tánh là thứ mười (đoàn sắc tánh) cũng thế, được tìm thấy ở khắp các giác quan, và cũng trộn lẫn với các tổng hợp sắc trong suốt khác. Để thấy được tất cả những tổng hợp này, hành giả cần phân tích các tổng hợp sắc trong suốt trong năm giác quan, và nhận dạng loại tịnh sắc tương ứng với mỗi thứ (nhãn tịnh sắc, nhĩ tịnh sắc, tỷ tịnh sắc, thiệt tịnh sắc) cũng như thân tịnh sắc ở đó.

1) Nhãn tịnh sắc hay thần kinh nhãn (cakkhu pasāda): Nhạy cảm đối với màu sắc, trong khi thân tịnh sắc (thần kinh thân) lại nhạy cảm đối với sự xúc chạm (các đối tượng có thể sờ mó được). Sự khác nhau này cho phép hành giả biết được thứ nào là thứ mình đang tìm. Đầu tiên, phân biệt tứ đại trong con mắt để thấy rõ một tổng hợp sắc trong suốt, và phân biệt sắc tịnh sắc của tổng hợp sắc đó. Rồi nhìn vào sắc màu của một nhóm các tổng hợp sắc cách con mắt một khoảng nào đó. Nếu nó tác động trên tịnh sắc nào thì tịnh sắc ấy là một nhãn tịnh sắc (của một tổng hợp sắc có mắt là thứ mười – đoàn nhãn). Ngược lại, thì đó là một thân tịnh sắc (của một tổng hợp sắc có thân là thứ mười – đoàn thân).

2) Thân tịnh sắc (kāya pasāda). Đó là yếu tố nhạy cảm đối với sự xúc chạm, hay đối với những đối tượng có thể sờ mó được. Nhưng đối tượng ấy là đất, nước, lửa, gió (địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại). Hành giả phân biệt một tịnh sắc nơi con mắt trở lại. Rồi nhìn vào địa đại, hỏa đại, hay phong đại của một nhóm các tổng hợp sắc gần bên. Nếu nó tác động trên tịnh sắc nào, tịnh sắc ấy là thân tịnh sắc (của một tổng hợp sắc có thân là thứ mười, đoàn thân).

3) Nhĩ tịnh sắc (sota pasāda). Đó là yếu tố nhạy cảm đối với âm thanh. Trước tiên hành giả phân biệt một tịnh sắc nơi tai. Rồi lắng nghe. Nếu âm thanh tác động trên tịnh sắc, tịnh sắc ấy lànhĩ tịnh sắc – (hay thần kinh nhĩ) – (của một tổng hợp sắc có nhĩ là thứ mười). Rồi phân biệt thân tịnh sắc như trước hành giả đã làm nơi con mắt.

4) Tỷ tịnh sắc (ghāna pasāda). Đó là yếu tố nhạy cảm đối với mùi. Cũng như trước, hành giả phân biệt một tịnh sắc nơi mũi. Rồi ngửi mùi của một nhóm các tổng hợp sắc gần bên. Nếu nó tác động trên tịnh sắc, tịnh sắc ấy là một tỷ tịnh sắc (của một tổng hợp sắc có tỷ là thứ mười). Rồi phân biệt tổng hợp sắc có thân là thứ mười như đã làm với mắt và tai.

5) Thiệt tịnh sắc (jivhā pasāda). Đó là yếu tố nhạy cảm đối với vị. Phân biệt một tịnh sắc trong lưỡi (thiệt). Rồi nếm vị của một nhóm các tổng hợp sắc gần bên. Nếu nó tác động trên tịnh sắc, thì tịnh sắc ấy là một thiệt tịnh sắc (của một tổng hợp sắc có thiệt là thứ mười). Sau đó phân biệt tổng hợp sắc có thân là thứ mười như đã làm với mắt, tai và mũi.

Khi đã phân tích xong hai loại tịnh sắc nơi mỗi trong năm giác quan, hành giả cũng cần thấy rằng thân tịnh sắc (trong các tổng hợp sắc có thân là thứ mười) cũng được tìm thấy trong trái tim, và sắc tánh mờ (nơi các tổng hợp sắc có tánh là thứ mười – đoàn sắc tánh) cũng được tìm thấy trong tất cả sáu giác quan.

Sau khi đã làm như thế, hành giả sẽ phải phân tích cả năm loại tịnh sắc[45] , và hai trong sáu loại sắc mờ. Bây giờ hành giả cần phân tích các sắc mờ còn lại nơi mỗi trong sáu giác quan.

Năm mươi bốn sắc trong con mắt

Từ trước đến đây chúng ta đã bàn về ba loại tổng hợp sắc căn bản.

1. Các tổng hợp mười của mỗi trong sáu giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm (tim)
2. Các tổng hợp chín thuộc mạng căn
3. Các tổng hợp tám

Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm (tim) bao gồm, như bây giờ chúng ta đã biết, bảy loại tổng hợp sắc, tổng cộng có sáu mươi ba sắc[46]. Tuy nhiên khi phân tích sắc của một giác quan, các kinh i nói hành giả chỉ nên nhìn vào sáu loại tổng hợp sắc (trừ các tổng hợp sắc có mạng căn là thứ chín ra). Như vậy hành giả sẽ chỉ tập trung vào năm mươi bốn loại sắc (63 – 9 = 54).[47]

Riêng các tổng hợp sắc có mạng căn là thứ chín, sau đó hành giả sẽ phân biệt theo cách khác. Và vì lẽ một trong sáu loại tổng hợp sắc có thân là thứ mười, nên khi phân tích sắc của thân (ngoài mắt, tai, mũi, lưỡi và trái tim), hành giả chỉ có thể phân tích năm loại tổng hợp sắc, tổng cộng có bốn mươi bốn loại sắc (54 – 10 = 44) mà thôi.

Như vậy chúng ta sẽ nhìn vào năm mươi bốn loại sắc đã nói của con mắt chẳng hạn:

1- Tổng hợp sắc có mắt là thứ mười[48] (Đoàn nhãn hay Mắt thập pháp). Đó là yếu tố nhạy cảm đối với màu, trong suốt và do nghiệp sanh.

2- Tổng hợp sắc có thân là thứ mười[49] (Đoàn thân hay Thân thập pháp). Đó là yếu tố nhạy cảm đối với các đối tượng có thể sờ mó được (xúc trần – địa đại – hỏa đại và phong đại), trong suốt do nghiệp sanh.

3- Tổng hợp sắc có tánh là thứ mười[50] (Đoàn tánh hay Tánh thập pháp). Đó là sắc mờ và do nghiệp sanh.

Và rồi có thêm ba loại tổng hợp sắc nữa, mỗi loại có tám sắc, tổng cộng là hai mươi bốn (3×8=24). Đó là ba loại tổng hợp sắc có vật thực là thứ tám, cả ba đều là sắc mờ.

4- Tổng hợp tám có dưỡng chất do tâm sanh (cittaja ojaṭṭhumaka kalāpa)

5- Tổng hợp tám có dưỡng chất do thời tiết sanh (uttuja ojaṭṭhamaka kalāpa)

6- Tổng hợp tám có dưỡng chất do vật thực sanh (ākāraja ojaṭṭhamaka kalāpa)

Ba loại tổng hợp sắc đầu (các tổng hợp mười sắc) đều do nghiệp (kamma) sanh, trong khi ba loại tổng hợp sắc sau (các tổng hợp 8 sắc) thì hoặc do thời tiết hoặc do tâm, hoặc do vật thực sanh. Như đã nói ở phần đầu của bài giảng này, có bốn nguồn gốc của sắc[51]. Đến đây thì hành giả đã phân biệt được các tổng hợp sắc do nghiệp sanh rồi, vì vậy chúng ta sẽ bàn đến cách phân biệt loại tổng hợp có dưỡng chất là thứ tám để biết nó thuộc thứ nào (trong ba thứ kể trên: tâm, thời tiết, vật thực).

Làm thế nào để thấy sắc do tâm sanh

Như đã đề cập trong phần giới thiệu, mỗi tâm sanh lên nương vào sắc trái tim (ngoại trừ tâm tục sanh hay kiết sanh thức) sẽ tạo ra rất nhiều các tổng hợp tám có dưỡng chất do tâm sanh (cittaja ojaṭṭhamakalāpa). Các tổng hợp này là những sắc mờ và trải khắp toàn thân.

Đó là lý do vì sao, nếu hành giả tập trung vào hữu phần (bhavaga), hành giả sẽ thấy rất nhiều tâm nương nơi sắc trái tim đang tạo ra các tổng hợp sắc. Nếu điều này không rõ, hãy tập trung vào hữu phần trở lại và vẫy vẫy 1 ngón tay. Lúc đó hành giả sẽ thấy 1 số lớn các tổng hợp sắc đã được tạo ra do tâm muốn vẫy vẫy ngón tay. Đồng thời hành giả cũng thấy rằng những tổng hợp sắc như vậy có thể khởi sanh ở bất cứ chỗ nào trên thân.

Làm thế nào để thấy sắc do thời tiết sanh

Như đã nói trong phần giới thiệu, hỏa đại (tejo) cũng được gọi là “thời tiết” hay “nhiệt” (Utu) và được thấy trong 1 tổng hợp sắc. Hỏa đại của các tổng hợp sắc tạo ra các tổng hợp tám có dưỡng chất do thời tiết sanh (utuja ojaṭṭhamaka kalāpa). Tự thân chúng lại chứa đựng hỏa đại, vốn tạo ra thêm các tổng hợp tám có dưỡng chất do thời tiết sanh. Hành giả cần thấy rằng tiến trình này xảy ra trong tất cả các loại tổng hợp sắc nơi mỗi giác quan.

Đầu tiên, phân biệt hỏa đại trong một tổng hợp sắc có mắt là thứ mười chẳng hạn. Rồi thấy rằng nó tạo ra các tổng hợp tám có dưỡng chất do thời tiết sanh. Đây là thế hệ thứ nhất. Kế phân biệt hỏa đại trong một tổng hợp sắc của thế hệ thứ nhất thuộc các tổng hợp tám có dưỡng chất do thời tiết sanh ấy, và thấy rằng nó cũng sanh sôi nảy nở tiếp: đó là thế hệ thứ 2. Theo cách này hành giả sẽ thấy rằng thời tiết trong tổng hợp có mắt là thứ 10 (vốn bản thân nó là do nghiệp sanh)[52] sinh sôi nảy nở qua 4 hoặc 5 thế hệ[53].

Hành giả cần phải thấy được rằng tiến trình này xảy ra cho mỗi loại tổng hợp sắc trong mỗi giác quan, và cũng cần phải tự mình thấy có bao nhiêu thế hệ tổng hợp sắc 8 có dưỡng chất do thời tiết sanh mà mỗi loại tổng hợp sắc ấy tạo ra.

Làm thế nào để thấy sắc do vật thực sanh

Như đã đề cập ở trên, bốn phần thuộc thân, đó là vật thực chưa tiêu hoá, vật thực đã tiêu hóa (phân) mủ và nước tiểu, chỉ là những tổng hợp tám có dưỡng chất do thời tiết sanh (utuja ojaṭṭhamaka  kalāpa). Và sức nóng tiêu hoá thức ăn trong thân (trong thực quản) chính là hỏa đại thuộc các tổng hợp có mạng căn là thứ chín (jīvita navaka  kalāpa), vốn là tổng hợp sắc do nghiệp sanh.

Khi dưỡng chất của các tổng hợp tám có dưỡng chất do thời tiết sanh gặp sức nóng tiêu hoá thức ăn, thì sắc được tạo ra thêm, sắc đó là các tổng hợp tám có dưỡng chất do vật thực sanh (āhāraja ojaṭṭhamaka  kalāpa). Bản thân chúng có dưỡng chất (dưỡng chất này do vật thực sanh āhāraja ojā) vốn sinh sôi nảy nở theo cùng cách qua nhiều thế hệ. Vật thực ăn vào trong ngày sẽ tái tạo như thế này cho đến một tuần lễ, trong suốt thời gian ấy nó cũng hỗ trợ dưỡng chất trong các tổng hợp sắc do nghiệp sanh, do tâm sanh và do thời tiết sanh, cũng như trong các tổng hợp sắc do vật thực trước sanh[54]. Vật thực của chư thiên tái tạo cho đến một hoặc hai tháng.

Để thấy những điều này hành giả phải “thiền” trong khi đang ăn. Vì, vào lúc ấy các tổng hợp sắc do vật thực sanh có thể được thấy lan toả khắp toàn thân, từ hệ thống thực quản: miệng, cuống họng, bao tử, và ruột. Trước tiên hành giả phân biệt tứ đại trong thức ăn mới ăn vào ở những chỗ ấy, và thấy các tổng hợp sắc tại đó. Cứ tiếp tục nhìn cho đến khi hành giả thấy được rằng khi sức nóng trợ giúp tiêu hóa (hỏa đại của các tổng hợp có mạng căn là thứ chín) gặp dưỡng chất của thức ăn mới ăn vào (các tổng hợp tám có dưỡng chất do thời tiết sanh), thì nhiều thế hệ các tổng hợp tám có dưỡng chất do vật thực sanh được tạo ra, dưỡng chất này lan tỏa khắp toàn thân. Hành giả thấy rằng chúng là sắc mờ và gồm tám loại sắc. Hành giả cũng có thể thấy những điều này sau khi đã ăn xong, trong trường hợp đó thì hành giả phân tích vật thực chưa tiêu hóa trong bao tử và ruột.

Kế tiếp, hành giả cần phân biệt các tổng hợp tám có dưỡng chất do vật thực sanh khi chúng lan tỏa khắp toàn thân, và đi đến mắt chẳng hạn. Phân biệt tám loại sắc trong các tổng hợp tám tại nơi đó và thấy rằng dưỡng chất của chúng là dưỡng chất do vật thực sanh (āhāraja ojā). Rồi thấy những gì xảy ra khi nó gặp dưỡng chất do nghiệp sanh (kammaja ojā) của các tổng hợp có mắt là thứ mười (đoàn nhãn); cùng với sức nóng hay nhiệt trợ giúp tiêu hóa, nó khiến cho dưỡng chất thuộc các tổng hợp có mắt là thứ mười ấy tạo ra bốn hoặc năm thế hệ các tổng hợp tám có dưỡng chất do vật thực sanh[55]. Con số các thế hệ được tạo ra tùy thuộc vào sức mạnh của cả hai loại dưỡng chất.

Hơn nữa, trong bốn hoặc năm thế hệ tổng hợp sắc ấy, còn có thời tiết. Hành giả cũng cố gắng phân biệt ở giai đoạn trụ của nó để thấy rằng nó cũng tái tạo qua nhiều thế hệ.

Hành giả cũng cố gắng phân biệt để thấy rằng khi dưỡng chất do vật thực sanh gặp dưỡng chất của các tổng hợp có thân là thứ mười, và các tổng hợp có tánh là thứ mười do nghiệp sanh thuộc con mắt, thì bốn hoặc năm thế hệ tổng hợp tám có dưỡng chất do vật thực sanh được tạo ra. Và cũng trong những thế hệ này, thời tiết sẽ sinh sôi nảy nở qua nhiều thế hệ.

Lại nữa, khi dưỡng chất do vật thực sanh gặp dưỡng chất của tổng hợp tám có dưỡng chất do tâm sanh thuộc con mắt (cittaja ojatthamaka kalāpa), thì hai hoặc ba thế hệ tổng hợp tám có dưỡng chất do vật thực sanh được tạo ra, và cũng trong các thế hệ này, thời tiết sinh sôi nảy nở qua nhiều thế hệ.

Và còn nữa, có hai loại tổng hợp tám có dưỡng chất do vật thực sanh; đó là loại đi trước và loại nối tiếp theo sau.

Khi dưỡng chất do vật thực trước tạo gặp dưỡng chất nối tiếp theo sau của các tổng hợp tám có dưỡng chất do vật thực sanh và nhiệt trợ giúp tiêu hóa, thì mười đến mười hai thế hệ thế hệ tổng hợp tám có dưỡng chất do vật thực sanh được tạo ra, thời tiết ở đó cũng sinh sôi nảy nở qua nhiều thế hệ.

Trong mọi trường hợp, dưỡng chất của bất kỳ tổng hợp sắc nào (do nghiệp sanh, do tâm sanh, do thời tiết sanh, hay do vật thực sanh) thì sự tái tạo chỉ có khi nó được hỗ trợ bởi sức nóng hay nhiệt trợ giúp tiêu hóa.

Sau khi đã phân biệt tất cả các loại tổng hợp có dưỡng chất là thứ tám trong mắt, biết chúng sinh sôi nảy nở như thế nào, và các yếu tố trong các tổng hợp sắc mà chúng tạo ra đó cũng tái tạo ra sao, hành giả lúc ấy đã phân biệt được cả thảy năm mươi bốn loại sắc nơi mắt. Kế đó, hành giả nên làm y như vậy đối với tất cả các loại sắc trong năm giác quan còn lại; đó là tai, mũi, lưỡi, thân, và tâm.

TÓM TẮT

Hôm nay chúng ta đã luận bàn khá tóm tắt về cách làm thế nào để phân tích các tổng hợp sắc, trong khi pháp hành thực sự đòi hỏi nhiều hơn. Chẳng hạn, phương pháp chi tiết đòi hỏi phải phân tích cái được gọi là bốn mươi hai phần của thân đã đề cập trong kinh Giới Phân Biệt (Phātuvibhanga Sutta) thuộc Trung Bộ Kinh, đó là: hai mươi phần thuộc địa đại, hai mươi phần thuộc thủy đại, bốn phương diện của hỏa đại và sáu phương diện của phong đại[56]. Nếu hành giả muốn biết cách làm thế nào để tu tập theo phương pháp chi tiết này, hành giả nên đi đến một bậc thầy thích hợp. Nhờ thực hành có hệ thống, dàn dần hành giả sẽ trở nên thành thạo hơn trong việc phân biệt các tổng hợp sắc, vốn được tạo ra do bốn nguyên nhân: nghiệp, tâm, thời tiết, và vật thực.

Với việc phân biệt sắc hoàn mãn, hành giả kể như đã hoàn tất phần đầu của tuệ minh sát thứ nhất, đó là Danh Sắc Phân Tích Trí (Nāma-rūpa pariccheda nama).

Đến đây chúng ta sẽ tóm tắt lại việc phân biệt sắc (Rūpa kammatthāna)

Để thấy các tổng hợp sắc (rūpa kalāpas), hành giả phải tu tập định cho đến cận định bằng cách tập trung vào bốn đại, đất, nước, lửa và gió.

Khi hành giả có thể thấy được các tổng hợp sắc, hành giả phải phân tích chúng để thấy tất cả những yếu tố (sắc) có mặt trong các tổng hợp sắc riêng lẻ, chẳng hạn như trong một tổng hợp sắc có mắt là thứ mười (đoàn nhãn hay mắt thập pháp), hành giả phải thấy đất, nước, lửa, gió, màu, mùi, vị, dưỡng chất, mạng căn, và tịnh nhãn sắc.

Với phương pháp tóm tắt hành giả phải phân biệt năm mươi bốn sắc trong một giác quan, rồi cũng phân biệt y như vậy đối với năm giác quan còn lại.

Với phương pháp chi tiết, hành giả phải phân biệt tất cả các loại sắc trong cả bốn mươi hai phần thuộc thân.

Khi đã hoàn tất việc phân biệt sắc (rūpakammatthāna), hành giảsẽ có đủ thiện xảo để thấy tất cả các yếu tố (sắc) của cả sáu giác quan với một cái nhìn thoáng qua, và cũng sẽ thấy cả bốn mươi hai phần thuộc thân với cái nhìn thoáng qua như vậy. Đây là những gì hành giả đang nhắm tới khi kinh qua thiền, đi từ sắc này đến sắc khác, từ giác quan này đến giác quan khác; từ dễ nhất đến khó nhất.

Điều này cũng giống như đang nhìn vào mười cái trụ đỡ cầu thang. Chúng ta có thể nhìn vào chúng từng cái một, như một, hai, ba, bốn v.v… cho đến mười, và rồi chúng ta có thể nhìn cả mười cái một lần, với một cái nhìn thoáng qua. Khi hành giả đã có thể thấy tất cả các loại sắc với một cái nhìn thoáng qua, chúng sẽ trở thành đối tượng cho việc hành minh sát của hành giả; hành giả sẽ thấy tất cả sắc là vô thường, khổ, và vô ngã [57]. Tuy nhiên nếu, ngay cả sau khi đã hoàn tất việc phân biệt sắc rồi, mà hành giả vẫn không thể thấy tất cả sắc với một cái nhìn thoáng qua, thì nên thấy từng sắc một, làm đi làm lại nhiều lần, và cố gắng để thấy tất cả chúng với một cái nhìn thoáng qua[58].

Đến đây hoàn tất phần thảo luận của chúng ta về việc phân biệt Sắc (Rūpa-kammatthāna). Trong bài giảng kế tiếp chúng tôi sẽ nói về cách làm thế nào để phân biệt Danh (Nāma-kammatthāna).

PHỤ BẢN 1.  HAI MƯƠI TÁM LOẠI SẮC

Ở cuối giai đoạn phân biệt sắc, hành giả sẽ phải khảo sát mười tám loại sắc thực và chín trong mười loại sắc không thực.[59]

Mười tám loại sắc thực gồm:

Bốn Đại Chủng (Mahā bhūta) Tổng cộng
1. Địa đại (Pathavī dhātu)
2. Thủy đại (Āpo dhātu)
3. Hỏa đại (Tejo dhātu)
4. Phong đại (Vāyo dhātu) 4
Năm loại tịnh sắc (pasāda rūpa:sắc trong suốt)
1. Nhãn tịnh sắc (Cakkhu pasāda)
2. Nhĩ tịnh sắc (Sota pasāda)
3. Tỷ tịnh sắc (ghāna pasāda)
4. Thiệt tịnh sắc (jivhā pasāda)
5. Thân tịnh sắc (kāya pasāda) 5
Bốn loại Hành Cảnh Sắc (gocara rūpa: sense – field materiality)
1. Màu (sắc) (vanna)
2. Thanh (saddha)
3. Hương (khí) (gandha)
4. Vị (rasa) 4
Dưỡng chất (ojā) 1
Mạng căn (jīitindriya) 1
Sắc trái tim
(tâm cơ hay sắc ý vật)
(hadaya rūpa) 1
Hai loại sắc tánh (bhāva rūpa)
1. Sắc tánh nam (purisabhāva rūpa)
2. Sắc tánh nữ (itthi bhāva rūpa) 2
18
Mười loại sắc không thực gồm:
1. Sắc hư không (ākāsa dhātu)
2. Thân biểu tri (kāyavinnatti)
3. Khẩu biểu tri (vacīnnatti)
4. Sắc khinh (lahutā)
5. Sắc nhu (mudutā)
6. Sắc thích nghiệp [60] (kammannatā)
7. Sắc sinh (upacaya)
8. Sắc tiến (santati)
9. Sắc dị (jaratā)
10. Sắc diệt (aniccata)

PHỤ BẢN 2. CÁC SẮC CĂN BẢN CỦA MẮT [61]

[3 loại tổng hợp mười (3x10 =30) + các tổng hợp Chín (9) + 3 loại tổng hợp tám (3x8=24) = 63 sắc]

Loại Tổng hợp Mười – Mắt [62] Tổng hợp Mười – Thân Tổng hợp Mười – Tánh
Tính chất Trong suốt Trong suốt Mờ
Nguồn gốc Kamma (nghiệp sanh) Kamma Kamma
Đặc tính Nhạy cảm với ánh sáng [63] Nhạy cảm với sự xúc chạm (đất, lửa, và gió) Xác định tánh (nam – nữ)
1.

2.

3.

4.

5.

6.

7.

8.

9.

10.

Đất

Nước

Lửa

Gió

Màu

Mùi

Vị

Dưỡng chất

Mạng căn

Nhãn tịnh sắc

Đất

Nước

Lửa

Gió

Màu

Mùi

Vị

Dưỡng chất

Mạng căn

Thân tịnh sắc

Đất

Nước

Lửa

Gió

Màu

Mùi

Vị

Dưỡng chất

Mạng căn

Sắc tánh

PHỤ BẢN 3. Các Sắc Căn Bản Của Thân

[2 loại tổng hợp mười (2x10=20) + tổng hợp mạng căn (9) + 3 loại tổng hợp 8 (3x8=24) = 53 sắc]

Loại Tổng hợp Thân

Mười sắc

Tổng hợp Tánh

Mười sắc

Tính chất Trong suốt Mờ
Nguồn gốc Nghiệp Nghiệp
Đặc tính Nhạy cảm với xúc (đất – lửa – gió) Xác định tánh
1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

Đất

Nước

Lửa

Gió

Màu

Mùi

Vị

Dưỡng chất

Mạng căn

Thân tịnh sắc

Đất

Nước

Lửa

Gió

Màu

Mùi

Vị

Dưỡng chất

Mạng căn

Sắc tánh

Hai loại tổng hợp mười này được thấy ở cả 6 giác quan

Loại Tổng hợp chín Mạng căn Tổng hợp Tám
Tính chất Mờ Mờ Mờ Mờ
Nguồn gốc Nghiệp Tâm Thời tiết Vật thực
1

2

3

4

5

6

7

8

9

Đất

Nước

Lửa

Gió

Màu

Mùi

Vị

Dưỡng chất

Mạng căn

Đất

Nước

Lửa

Gió

Màu

Mùi

Vị

Dưỡng chất

Đất

Nước

Lửa

Gió

Màu

Mùi

Vị

Dưỡng chất

Đất

Nước

Lửa

Gió

Màu

Mùi

Vị

Dưỡng chất

Các tổng hợp chín thuộc mang căn, và tổng hợp tám hoàn toàn giống nhau trong khắp 6 giác quan.

PHỤ BẢN 4. Các Sắc Căn Bản Của Tâm (trái tim)

[3 loại tổng hợp 10 (3x10=30) + tổng hợp chín (9) + 3 loại tổng hợp tám (3x8=24) = 63 sắc]

Loại Tổng hợp mười (*) thuộc Trái Tim Tổng hợp mười thuộc Thân Tổng hợp mười thuộc Tánh
Tính chất Mờ Trong suốt Mờ
Nguồn gốc Nghiệp Nghiệp Nghiệp
Đặc tính Hỗ trợ Ý giới và
Ý Thức giới
Nhạy cảm với Xúc
(đất, lửa, gió)
Xác định tánh
1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

Đất

Nước

Lửa

Gió

Màu

Mùi

Vị

Dưỡng chất

Mạng căn

Sắc trái tim

Đất

Nước

Lửa

Gió

Màu

Mùi

Vị

Dưỡng chất

Mạng căn

Thân tịnh sắc

Đất

Nước

Lửa

Gió

Màu

Mùi

Vị

Dưỡng chất

Mạng căn

Sắc tánh

(*) Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, và thân thức sanh lên nương vào tịnh sắc (thần kinh), tức sắc thứ mười (môn) thuộc các tổng hợp: mắt mười sắc, tai mười sắc, mùi mười sắc, lưỡi mười sắc, và thân mười sắc, trong khi tất cả các tâm (thức) khác (bao gồm ý giới và ý thức giới) sanh lên nương vào các tổng hợp có sắc trái tim mờ là thứ mười. Xem lại trên.

Loại Tổng hợp chín thuộc Mạng căn Tổng hợp Tám
Tính chất Mờ Mờ Mờ Mờ
Nguồn gốc Nghiệp Tâm Thời tiết Vật thực
1

2

3

4

5

6

7

8

9

Đất

Nước

Lửa

Gió

Màu

Mùi

Vị

Dưỡng chất

Mạng căn

Đất

Nước

Lửa

Gió

Màu

Mùi

Vị

Dưỡng chất

Đất

Nước

Lửa

Gió

Màu

Mùi

Vị

Dưỡng chất

Đất

Nước

Lửa

Gió

Màu

Mùi

Vị

Dưỡng chất

Các tổng hợp chín, thuộc mạng căn và các tổng hợp tám hoàn toàn giống nhau trong khắp 6 giác quan.

*

HỎI ĐÁP 4

Hỏi 4.1: Một vị bồ tát (bodhisatta), kể cả đức Bồ tát Arimetteyya (Di Lặc), có phải là phàm phu không (puthujjana)? Nếu như Bồ tát Di Lặc cũng là một phàm phu giống như chúng ta, thì vào lúc ngài hạ sanh để trở thành Phật Di Lặc (Metteya Buddha), có sự khác nhau nào giữa những điều kiện để ngài thành Phật và chúng ta hay không?[64]

Đáp 4.1: Sự khác nhau đó là các ba la mật (Pārami) của ngài đã chín mùi, như trường hợp đức Phật Thích Ca của chúng ta khi còn là Thái tử Sĩ Đạt Đa vậy. Các vị Bồ tát như vậy sẽ phải trau dồi các ba la mật của họ trong nhiều kiếp sống. Có mười ba la mật là:

Bố thí (dāna)
Trì giới (sīla)
Xuất gia (nekkhamma)
Trí tuệ (paññā)
Tinh tấn (vīiya)
Nhẫn nại (khantī)
Chân thật (sacca)
Quyết định (adhiṭṭhāna)
Tâm từ (mettā)
Tâm xả (upekkhā)

Khi các ba la mật này chín mùi, chúng sẽ thúc đẩy bồ tát từ bỏ thế gian, cho dù họ đang hưởng thụ các dục lạc. Trong kiếp cuối của mình, một vị bồ tát phải lấy vợ và có một người con trai; đây là một quy luật tự nhiên. Tôi đã quên tên vợ và con của đức bồ tát Di Lặc rồi. Theo Tam tạng Nguyên thủy (Theravāda Tipika), thì đó là kiếp chót của ngài, vì không có vị A-la-hán nào, kể cả đức Phật, còn tái sanh sau khi Bát Niết-bàn (Parinibbāna) cả. Sự Diệt Độ hay Bát Niết-bàn của các ngài là sự chấm dứt của vòng tử sanh luân hồi. Các ngài sẽ không phải tái sanh ở đâu nữa.[65]

Lấy trường hợp đức bồ tát Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni) của chúng ta để ví dụ. Trong kiếp chót của ngài, trước khi giác ngộ ngài cũng là một phàm nhân. Như thế nào? Năm tròn mười sáu tuổi, ngài trở thành thái tử Sĩ Đạt Đa và cưới công chúa Daduđàla (Yasodharā). Họ có một con trai là La hầu la. Ngài cũng hưởng thụ dục lạc trong hơn mười ba năm. Mặc dù ngài không có năm trăm thiên nữ bên tay trái và năm trăm thiên nữ bên tay phải của mình như các vị chư thiên, nhưng lại được vây quanh bởi hai mươi ngàn cô công chúa. Đây là kāmasukhallikanuyogo – thọ hưởng dục lạc, đắm chìm trong dục lạc.

Sau khi từ bỏ những dục lạc ấy, ngài hành khổ hạnh trong khu rừng Uruvela (Ưu lâu tần loa). Sau sáu năm khổ hạnh vô bổ, ngài cũng từ bỏ pháp hành này, và hành theo trung đạo, không bao lâu sau thì đạt đến giác ngộ viên mãn. Sau khi giác ngộ, trong bài pháp đầu tiên của mình, “Dhamma cakkapavattana” – Chuyển Pháp Luân, Ngài tuyên bố:

Kāmesu kāmasukhallikanuyogo hīo, gammo, puthujjaniko, anariyo, anatthasahito.
Sự thụ hưởng dục lạc này là thấp hèn (hīno), là pháp hành của hàng dân dã (gammo), pháp hành của hàng phàm phu (puthijjaniko).

Đó là pháp hành của hàng chưa giác ngộ, phi thánh nhân (anariyo), không đem lại lợi ích (anatthasahito).

Điều này có nghĩa, sự thụ hưởng dục lạc không phải là pháp hành của các bậc giác ngộ. Và dục lạc là vô bổ (không lợi ích) vì mặc dù chúng đem lại những lợi ích thế gian, chẳng hạn như hạnh phúc ở cõi người, và hạnh phúc ở các cõi phạm thiên (brahma), song chúng lại không đem lại lợi ích siêu thế, đó là hạnh phúc của Niết-bàn, trạng thái mà chúng ta chỉ có thể thụ hưởng bằng Đạo – Quả Tuệ.

Vì vậy, trong bài pháp đầu tiên của Ngài, đức Phật công bố rằng bất luận ai hưởng dục đều là phàm phu cả. Khi còn là một vị bồ tát, ngài cũng đã thụ hưởng dục lạc, đó là chung sống với Daduāla trong hoàng cung. Vào lúc ấy, ngài cũng là một phàm nhân, vì sự hưởng thụ dục lạc là pháp hành của kẻ phàm phu.

Điều này không chỉ dành cho đức bồ tát của chúng ta thôi, mà cho tất cả các vị bồ tát. Có thể có nhiều vị là bồ tát ở đây, trong số thính chúng này. Qúy vị nên suy xét vấn đề này thật cẩn thận: những vị bồ tát ở đây là phàm nhân hay các bậc thánh nhân (ariya)? Tôi nghĩ là qúy vị có thể biết được câu trả lời rồi.

Hỏi 4.2: Sau khi hoàn tất khoá thiền, một hành giả có thể đắc Đạo Tuệ (Maggañāa) và Quả Tuệ (Phalañāa) không? Nếu không, vì sao không?

Đáp 4.2: Hành giả có thể đắc, song còn tùy vào các ba la mật của họ. Hãy lấy trường hợp của Ngài Bāhiya Dāruciriya[66] làm điển hình. Vị này đã hành Chỉ-Quán (Samatha-Vipassanā) đến hành xả trí (sankhārupekkhāñāa) trong thời kỳ giáo pháp đức Phật Ca Diếp (Kassana). Trải qua hai mươi ngàn năm thực hành, nhưng Ngài không đắc một Đạo Quả Tuệ nào cả, vì Ngài đã được đức Phật Padumuttara (Thượng Liên Hoa Phật) thọ ký. Chính vì thế Ngài sẽ trở thành vị Khippābhiññā tức là vị sẽ tốc chứng A-la-hán thánh quả trong thời kỳ giáo pháp đức Phật Thích Ca. Do đó, các ba la mật của Ngài chỉ vào lúc ấy mới chín mùi[67]. Các vị thanh văn đệ tử khác đắc tứ tuệ phân tích (Patisambhidā ñāa) trong thời kỳ giáo pháp đức Phật Thích Ca cũng vậy, tức là họ phải hành Chỉ-Quán cho đến hành xả trí trong thời kỳ giáo pháp của các vị Phật trước; đây là một quy luật tự nhiên. Tứ tuệ phân tích gồm:

1. Tuệ phân tích về ý nghĩa hay còn gọi là Nghĩa Vô Ngại Giải (attha paisambhidā ñāa) Đây là một loại tuệ minh sát về quả, tức minh sát khổ thánh đế.

2. Tuệ phân tích về pháp hay còn gọi là Pháp Vô Ngại Giải (Dhamma paisambhidā ñāa). Đây là một loại tuệ minh sát về nhân, tức minh sát khổ tập thánh đế hay thánh đế về nhân sanh của khổ.

3. Tuệ phân tích về việc chế định ngôn ngữ hay còn gọi là Từ Vô ngại Giải (Ninutti paisambhidā ñāa). Đây là tuệ biết về văn phạm, đặc biệt là văn phạm Pāli.

4. Tuệ phân tích về các loại trí hay còn gọi là Biện Tài (ứng biện) Vô Ngại Giải (Paibhāna paisambhidā ñāa), tức là tuệ minh sát biết rõ ba loại tuệ phân tích kể trên.

Có năm nhân khiến thành tựu Tứ Tuệ Phân tích này:

1) Chứng đắc (adhigama) – chứng A-la-hán thánh đạo và A-la-hán thánh quả, hoặc bất kỳ đạo quả nào khác.
2) Tinh thông kinh điển (pariyatti) – học và hiểu rõ pháp học.
3) Nghe (savana) – lắng nghe giảng pháp một cách chăm chú và kính trọng.
4) Hỏi (parupuccha) – luận bàn những đoạn khó và những lời giải thích chưa thấu đáo trong kinh và chú giải.
5) Tiền nỗ lực (pubbayoga) – thực hành Chỉ-Quán cho đến hành xả trí (sankhārupekkhā ñāa) trong thời kỳ giáo pháp của các vị Phật trước.

Nếu hành giả nào thực hành trong thời kỳ giáo pháp này mà không đạt đến Niết-bàn, có thể là vì các Ba-la-mật của họ chưa chín mùi. Lý do cũng có thể là họ đã nhận được lời thọ ký xác định nơi một vị Phật quá khứ, hoặc đã phát nguyện giải thoát sanh tử luân hồi (sasāra) trong thời kỳ giáo pháp của đức Phật tương lai, như thời kỳ giáo pháp của đức Phật Di – Lặc chẳng hạn. Ví dụ như có hai ngàn vị tỳ khưu ni, tất cả đều là A-la-hán bậc thường, đã nhập Niết-bàn cùng một ngày với Yasodara (Daduāla – cũng là một thánh ni A-la-hán). Vì sao? Trong thời kỳ giáo pháp của đức Phật Dìpaíkara (Nhiên Đăng) họ đã phát nguyện được giải thoát tử sanh luân hồi trong thời kỳ giáo pháp của đức Phật Thích Ca, tức là cách bốn A tăng kỳ và một trăm ngàn đại kiếp sau. Để trở thành một vị thánh A-la-hán bậc thường không đòi hỏi người đó phải trau dồi các Ba-la-mật lâu như vậy, song hai ngàn vị tỳ khưu ni này đã phải ở lại trong vòng sanh tử luân hồi thời gian lâu dài đến như vậy chỉ là vì nguyện lực của họ, chứ không phải vì một lời thọ ký xác định.

Hỏi 4.3: Một hành giả đã hoàn tất khóa thiền, nhưng vẫn chưa đạt đến đạo tuệ (maggañāa) và quả tuệ (phalāñāa), nếu định của người ấy thối thất thì minh sát tuệ của người ấy cũng sẽ thối thất luôn có phải không? Như vậy người ấy có thể bị sanh vào các ác đạo (apāya: địa ngục, ngạ qủy, súc sanh, …) không?

Đáp 4.3: Minh sát tuệ của người ấy có thể cũng sẽ thối thất, song điều đó rất hiếm. Nếu người ấy không duy trì pháp hành trong một thời gian lâu, thì Chỉ-Quán (samatha-vipassanā) của họ có thể từ từ suy yếu đi. Tuy nhiên, nghiệp lực vẫn tồn tại như một lực ngủ ngầm.

Trong chú giải kinh điển Pāli[68] có dẫn chứng một trường hợp. Sự kiện xảy ra ở Sri Lanka (Tích Lan). Có khoảng ba mươi vị tỳ khưu và sa-di (Samāneras) đi đến đảnh lễ ngôi đại tháp (xá lợi) tại Kalyāī, khi họ trên đường mòn xuống núi để vào lộ chính, họ gặp một người đàn ông ngược chiều đang đi lên. Người đàn ông này làm nghề đốt than, người ông ta nhem nhuốc với tro than, thậm chí cái khố vàng duy nhất mà ông mang cũng lấm lem lấm luốc, bởi thế trông ông chẳng khác gì một cây than đen. Sau khi làm xong công việc hàng ngày của mình, ông lượm một bó củi than cháy không hết rồi theo đường mòn đi lên, với tóc tai dài đến tận lưng, và đứng đối diện với các vị tỳ khưu.

Mấy chú sa-di trông thấy ông, nói đùa với nhau “Cha ông đó, ông nội ông đó, chú ông đó, phải không?” rồi họ cười lớn khi đi xuống. Một người hỏi “Này cư sĩ, tên ông là gì?” Nghe hỏi đến tên mình, người đàn ông cảm thấy hổ thẹn, đặt gánh củi xuống và sửa soạn lại y phục, ông cung kính chào vị trưởng lão (Mahāthera) với ý định cầm chân ngài lại một lát.

Các vị tỳ khưu đứng chờ, nhưng mấy chú sa-di đi đến và cười lớn ngay cả trước mặt vị trưởng lão. Người đàn ông nói với Mahāthera: “Bạch ngài, có phải các ngài cười khi trông thấy con không? Các ngài nghĩ rằng mình hoàn thành đời xuất gia của một vị tỳ khưu chỉ bằng y áo đó sao. Thế nhưng các ngài vẫn chưa đạt đến sự nhất tâm đấy! Trước đây con cũng là một sa môn như các ngài, và con còn rất nổi tiếng với những năng lực thần thông trong giáo pháp này nữa đấy. Đối với con, hư không như đất và đất giống như hư không, xa như gần và gần như xa vậy. trong một khoảnh khắc, con có thể thâm nhập vào một trăm ngàn hệ thống thế gian (thái dương hệ). Vậy mà bây giờ các ngài xem tay của con đây! Giờ nó chẳng khác gì tay của con khỉ.”

Rồi chỉ vào một thân cây, ông nói tiếp, “Ngồi dưới gốc cây ấy con đã từng lấy tay sờ mặt trăng và mặt trời. Con còn ngồi với mặt trăng và mặt trời, xem nó như đất để chà chân vậy. Những năng lực thần thông của con là như vậy, nhưng do dễ duôi mà giờ đây chúng không còn nữa. Chớ nên dễ duôi! Do dễ duôi người ta đi đến bại hoại như thế này đấy. Chỉ những ai sống một cách tích cực mới đoạn tận được sanh, già, chết. Do đó, hãy lấy con làm bài học, và đừng có xao lãng việc hành các thiện pháp thuộc Chỉ-Quán (samatha-vipassanā). Hãy cố gắng tinh tấn, bạch các ngài!”

Như vậy, ông vừa khuyên vừa cảnh giác họ. Kinh cảm trước những lời của ông ta, ngay tại chỗ ấy, ba mươi vị tỳ khưu hành Chỉ-Quán và đắc A-la-hán thánh quả. Do đó Chỉ-Quán nhất thời có thể bị thối thất do dễ duôi (pamāda), nhưng sức mạnh của nghiệp vẫn tồn tại.

Có bốn loại người đạt đến Niết-bàn. Loại thứ nhất là Độc Giác Phật (Paccekabuddha), ở đây chúng ta sẽ không đề cập đến. Ba loại còn lại là: (1) một vị bồ tát, (2) một vị thượng thủ thanh văn (agga sāvaka), (3) một vị đại thanh văn (mahā sāvaka), và (3) vị thanh văn thường (pakati sāvaka).

1) Đức Bồ tát của chúng ta, trong thời kỳ của đức Phật Nhiên Đăng (Dīpakara) đã đắc tám thiền chứng (samā paññatti) và năm thần thông hiệp thế (ngũ thông). Trong các kiếp quá khứ, Ngài cũng đã hành Chỉ-Quán đến “Hành xả tuệ” (Sankhārupekkhāñaa). Nếu Ngài thực sự muốn đắc Niết-bàn, Ngài có thể đắc một cách nhanh chóng, do nghe một bài kệ ngắn mà đức Phật Nhiên Đăng thuyết về Tứ Thánh Đế. Nhưng ngài không chỉ mong mỏi Niết-bàn, mà muốn phát nguyện thành Phật trong tương lai, nên sau đó ngài nhận được lời thọ ký xác định của đức Phật Nhiên Đăng.

Trong suốt bốn A-tăng-kỳ (asakkheyya) và một trăm ngàn đại kiếp (kappa), tức là từ thời đức Phật Nhiên Đăng cho đến thời kỳ đức Phật Ca Diếp (Kassapa), đức Bồ tát của chúng ta đã thọ giới làm tỳ khưu chín kiếp, mỗi lần đều được một vị Phật huớng dẫn. Trong mỗi kiếp làm tỳ khưu, việc học tập của đức Bồ tát gồm bảy loại pháp hành.[69]

1. Học thuộc lòng Tam Tạng (Tipiaka Buddhavacanaugga hitvā)[70]
2. Thanh tịnh trong bốn loại giới (Catu pārisuddhi sīle supatiṭṭhāya)[71]
3. Mười ba pháp hành đầu đà (Terasa dhutagāni samādāya)
4. Luôn luôn hành hạnh đầu đà trú trong rừng (araññaña pavisitvā)[72]
5. Tám thiền chứng (aṭṭha samāpattiyo)
6. Năm thần thông hiệp thế (pañca abhiñña)
7. Hành minh sát cho đến Thuận Thứ Tuệ (Vipassana vaḍḍhatvā yāva anulomaññana)[73]

Những Ba-la-mật (Pāramis) này cần phải được hoàn tất để chứng đắc Nhất thiết Trí (sabbaññutañaa) Nhưng trước khi các ba-la-mật chín mùi, tức là từ lúc được thọ ký cho đến lúc sinh làm Thái tử Sĩ – Đạt – Đa, đức Bồ tát của chúng ta có khi cũng tái sinh vào cảnh giới súc sanh do bất thiện nghiệp đã tạo từ những kiếp trước. Tuy nhiên, những kiếp làm tỳ khưu và những kiếp làm súc sinh rất xa nhau. Đây là điều tự nhiên khi còn làm Bồ tát vậy.

2) Một số vị Thượng thủ Thanh văn (Agga sāvaka) cũng phải được thọ ký xác định, chẳng hạn như tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên được đức Phật Anomadassì thọ ký. Hơn nữa, các vị đại thanh văn (mahā sāvaka) đôi khi cũng phải được thọ ký, như tôn giả Ānanda và tôn giả Kassapa được đức Phật Padumuttara (Thượng Liên Hoa) thọ ký. Trong thời đức Phật của chúng ta, tất cả những bậc thanh văn đệ tử này đều trở thành những bậc A-la-hán có tứ tuệ phân tích (xem lại câu trả lời 4 – 2). Những vị A-la-hán này cũng sẽ phải thiện xảo trong lãnh vực Chỉ-Quán cho đến Hành Xả Tuệ, vào thời của các vị Phật trước; đây là một định luật cố nhiên. Từ lúc được thọ ký cho đến thời kỳ đức Phật của chúng ta, một số vị trong họ đôi khi cũng phải tái sinh vào một trong bốn ác đạo – địa ngục, ngạ qủy, súc sinh, và Atula – do những bất thiện nghiệp, như chúng ta thấy có những kiếp họ cùng làm thú với đức Bồ tát. Đây là điều tự nhiên của một vị thượng thủ thinh văn hoặc một vị đại thinh văn.

3) Còn về các vị đệ tử thinh văn bậc thường, nếu họ đã hành Chỉ-Quán một cách hết lòng và đạt đến các tuệ như Tuệ Nắm bắt Nhân Duyên (paccaya – pariggaha ñaa) hoặc Sanh Diệt Tuệ (udayabba nāa), hoặc Hành Xả Tuệ (sakhārupekkha ñāa), họ sẽ không phải tái sinh vào một trong bốn ác đạo (apāya) sau khi chết, mặc dù trong kiếp hiện tại có thể họ không đắc đạo quả nào cả. Điều này đã được Thanh Tịnh Đạo giải thích:

… laddhassāso laddhapatiṭṭho niyatagatiko cūasotāpanno nāma hoti
(… vị đã tìm được sụ giảm khinh (khổ đau) trong Giáo Pháp của đức Phật, vị đã tìm được nơi an ổn, đã có được một sanh thú chắc chắn, tốt đẹp, vì thế vị ấy được gọi là một vị Tiểu Nhập Lưu (a sotapanna)

Như vậy bậc Tiểu Nhập Lưu có thể được tái sanh vào cảnh giới chư thiên, nơi đó có bốn điều cĩ thể xảy ra. Trong “Sotānugata Sutta[74] (kinh “Người Nghe Kinh”) đức Phật dạy:

1. Nếu bậc Tiểu Nhập Lưu, ngay khi vừa tái sanh thiên giới, liền suy tư trên Pháp (dhamma), Pháp này sẽ hiện rõ trong minh sát trí của vị ấy, và vị ấy có thể đắc Niết-bàn một cách nhanh chóng.

2. Nếu vị ấy không đạt đến Niết-bàn do suy tư trên Pháp với minh sát trí như vậy, vị ấy có thể đắc Niết-bàn do nghe một vị tỳ khưu có thần thông, và đi lên thiên giới giảng pháp.

3. Nếu không có cơ hội nghe pháp nơi một vị tỳ khưu, vị ấy có thể có cơ hội nghe pháp từ các chư thiên pháp sư (dhamma – kathika deva), như phạm thiên Sanankumāra, v.v… và đắc Niết-bàn do nghe pháp ấy.

4. Nếu không có cơ hội nghe pháp nơi các vị chư thiên pháp sư, vị ấy có thể có cơ hội gặp bạn bè đã từng là thiện hữu hành giả trong kiếp quá khứ ở thiên giới trong thời kỳ giáo pháp của một vị Phật nào đó. Những vị thiện hữu hành giả ấy có thể nhắc, chẳng hạn như: “Này bạn, hãy nhớ đến pháp thế này, thế nọ mà chúng ta đã từng hành trong nhân giới đi!” Lúc ấy, vị này có thể nhớ đến pháp (dhamma) và nếu thực hành vipassanā, vị ấy có thể đắc Niết-bàn nhanh chóng.

Một trường hợp điển hình về một vị Tiểu Nhập Lưu được tái sanh thiên giới và sau đó đã đắc Niết-bàn rất nhanh ở đấy, là tôn giả Samaa – devaputta (Sa môn Thiên tử). Ngài là một vị tỳ khưu đã hành Chỉ-Quán một cách nhiệt tâm. Ngài chết trong lúc đang hành thiền và được hóa sanh thiên giới. Không biết mình đã chết, ngài tiếp tục hành thiền trong tòa lâu đài của mình trên thiên giới. Khi các thiên nữ trong tòa lâu đài ấy thấy ngài, họ hiểu rằng ngài ắt hẳn phải là một vị tỳ khưu trong kiếp trước, do đó họ đặt một tấm gương trước mặt ngài và làm ồn lên (cho ngài biết). Nghe tiếng ồn, ngài mở mắt và trông thấy mình trong gương. Ngài cảm thấy rất thất vọng vì không muốn làm một vị chư thiên, ngài chỉ muốn Niết-bàn.

Vì thế mà ngay lập tức ngài đi xuống gặp đức Phật để nghe pháp. Lúc ấy đức Phật đang thuyết pháp về Tứ thánh Đế. Sau khi nghe pháp, Samaa – devaputta đắc nhập lưu thánh đạo và nhập lưu thánh quả.[75]

Như vậy, khi một vị thinh văn bậc thường hành Chỉ-Quán rất nhiệt tâm, đắc được tuệ nắm bắt nhân duyên, tuệ sanh diệt, hoặc tuệ hành xả, mặc dù vị ấy có thể không đắc một đạo quả nào trong kiếp này, công việc thực hành mà vị ấy đã làm báo trước rằng vị ấy rất có thể sẽ đạt đến chúng vào một kiếp nào đó trong tương lai.

Vào lúc chết, một vị hành giả có thể không có năng lực Chỉ hoặc Quán mạnh mẽ, song do thiện nghiệp hành Chỉ-Quán kiên trì, một tướng (nimitta) tốt sẽ xuất hiện tại ý môn của vị ấy. Cái chết có thể xảy ra với tướng tốt ấy làm đối tượng, nhất là do thiện nghiệp này, chắc chắn vị ấy sẽ đi đến một nơi an vui, và có thể đắc Niết-bàn ở đó.

Tuy nhiên, nếu vị ấy hành Vipassanā (quán) cho đến những sát – na của tốc hành tâm cận tử (maraāsanna javana), vị ấy sẽ thuộc loại người đầu tiên mà kinh “Sotānugata” đề cập, tức ngay khi vừa tái sinh thiên giới, vị ấy liền suy tư trên pháp, thì có thể sẽ đắc Niết-bàn nhanh chóng.

Hỏi 4.4: Liệu một hành giả đã hoàn tất khóa thiền, nhưng chưa đạt đến Niết-bàn, có thể đắc Pháp Trú Trí (dhammaṭṭhiti ñāa) hay không? Nếu đắc, trí ấy có thối chuyển không?

Đáp 4.4: Hành giả có thể đắc trí ấy.

Pubbe kho susīma dhammaṭṭhiti ñāa pacchā nibbāne ñāa
(Pháp Trú Trí (dhammaṭṭhiti ñaa) phải đến trước, sau đó Đạo Trí (tuệ) mới đến lấy Niết-bàn làm đối tượng vậy.)

Đây là nguyên văn lời giải thích của đức Phật cho tỳ khưu Susīma[76]. Susīma trước đây là một du sĩ ngoại đạo (paribhājaka), ông xuất gia (tỳ khưu) để “trộm” pháp. Nhưng đức Phật thấy rằng ông sẽ đắc Niết-bàn trong một vài ngày nữa nên chấp nhận cho ông xuất gia.

Susīma nghe nói rằng có nhiều vị A-la-hán đi đến đức Phật và báo rằng họ đã đắc A-la-hán thánh quả. Vì vậy ông hỏi họ xem họ có đắc tám thiền chứng và ngũ thông không? Họ đáp “không”. “Nếu các vị không có tám thiền chứng và ngũ thông, các vị đắc thánh quả A-la-hán bằng cách nào?” Lúc đó các vị tỳ khưu trả lời “paññāvimuttā kho maya āvuso susīma” “Này hiền giả Susīma, chúng tôi được giải thoát khỏi phiền não và đắc A-la-hán thánh quả bằng cỗ xe thuần quán (suddha – vipassanā yānika)”. Susìma không hiểu điều này, vì thế ông đã hỏi đức Phật câu hỏi như trên và đức Phật trả lời:

“Này Susīma, Pháp Trú Trí phải đến trước rồi sau đó đạo tuệ mới đến lấy Niết-bàn làm đối tượng vậy.”

Điều này nghĩa là thế nào? Đạo Tuệ không phải là kết quả của tám thiền chứng và ngũ thông, mà nó là kết quả của các minh sát trí. Vì thế Đạo Tuệ chỉ có thể khởi lên sau khi các minh sát tuệ đã khởi lên. Trong “Kinh Susīma“, tất cả các minh sát tuệ đều ám chỉ đến Pháp Trú Trí. Pháp Trú Trí là minh sát trí về tính chất vô thường, khổ và vô ngã của các Hành, tức các pháp hữu vi (sakhāra dhamma), đó là: Danh, Sắc, và các nhân của chúng, đây là lý do vì sao Pháp Trú Trí đến trước, rồi Đạo Trí lấy Niết-bàn làm đối tượng đến sau.

Sau đó, đức Phật thuyết cho Susīma nghe một bài pháp về Tam Luân[77] (teparivaṭṭa dhamma – desanā), kinh này cũng giống như Kinh Vô Ngã Tướng “Anattalakkhaña sutta[78]. Khi bài pháp vừa dứt, Susìma cũng đắc A-la-hán quả, mặc dù ông không có tám thiền chứng và ngũ thông chi cả. Nghĩa là vào lúc đó, ngài hiểu rõ ý nghĩa bài pháp của đức Phật , và trở thành một vị theo cỗ xe thuần quán.

Nếu một hành giả đắc Pháp Trú Trí, thì dù không đắc Niết-bàn trong kiếp hiện tại, minh sát trí của họ cũng sẽ không thối giảm. Nghiệp lực Minh sát ngủ ngầm của vị này vẫn có đủ sức mạnh. Nếu vị ấy là một vị thanh văn bậc thừơng, có thể vị ấy sẽ đắc Niết-bàn trong kiếp kế.

Hỏi 4.5: Hành giả có thể đắc các pháp siêu thế chỉ với cận định không?[79]

Đáp 4.5: Được. Ở mốc cận định cũng có ánh sáng rực rỡ và tỏa chiếu. Với ánh sáng ấy, hành giả có thể phân biệt các tổng hợp sắc (rūpa – kalāpa), danh chân đế, sắc chân đế, và các nhân của chúng. Lúc đó hành giả có thể tiếp tục thiền minh sát theo từng giai đoạn.

Hỏi 4.6: Liệu chỉ với sát-na định (khanika samādhi) người ta có thể hành niệm thọ (vedanārupassanā satipatthanā) để đạt các pháp siêu thế được không?

Đáp 4.6: Ở đây chúng ta cần xác định cái gọi là sát-na định đã. Thế nào là sát-na định? Có hai loại sát-na định:

- Sát-na định trong thiền chỉ (samātha)
- Sát-na định trong thiền quán (vipassanā)

Sát-na định trong thiền chỉ đặc biệt muốn nói đến định vốn lấy tợ tướng (patibhāga nimitta) làm đối tượng, như tợ tướng hơi thở (ānāpānā patibhāga nimitta) chẳng hạn. Nó là loại định đi trước cận định, và dành cho vị hành giả theo cỗ xe tịnh chỉ (samatha yānika).

Đối với vị hành giả theo cỗ xe thuần quán (suddha vipassanā yānika) có một loại sát-na định khác. Một vị thuần quán thừa hành giả thường thường phải bắt đầu với thiền tứ đại để đạt đến cận định hay sát-na định, và thấy các tổng hợp sắc (rūpa kalāpas), cũng như tứ đại trong một tổng hợp sắc. Thanh Tịnh Đạo nói rằng đó là cận định. Song phụ chú giải (sớ giải) của bộ Luận này (TTĐ) thì cho rằng đó chỉ là phép ẩn dụ, chứ không phải cận định thực thụ, bởi vì cận định thực thụ là đã gần với định của bậc thiền rồi.

Nhưng Jhāna (bậc thiền) không thể nào đắc được với loại thiền tứ đại. Khi hành giả có thể thấy được bốn đại trong một tổng hợp sắc riêng biệt thì đã có định sâu. Mặc dù vậy, hành giả cũng không thể đắc thiền nhờ dùng chúng (tứ đại) làm đối tượng được. Có hai lý do để giải thích điều này.

- Để thấy được tứ đại trong các tổng hợp sắc riêng biệt, tức là thấy sắc chân đế (paramattha rūpa), và để thấy sắc chân đế thì thực là thâm sâu vô cùng. Hành giả không thể nào đắc thiền (jhāna) với thực tại cùng tột (paramattha) làm đối tượng được.

- Hành giả không thể định sâu trên tứ đại trong các tổng hợp sắc riêng biệt bởi vì các tổng hợp sắc diệt ngay khi chúng vừa sanh. Điều đó có nghĩa rằng vì đối tượng luôn luôn thay đổi, cho nên hành giả không thể đắc thiền với một đối tượng luôn luôn thay đổi như vậy được.

Như vậy, vì thiền tứ đại không tạo ra jhāna (bậc thiền), nên chúng ta có thể hiểu rằng cận định vốn lấy tứ đại trong các tổng hợp sắc riêng biệt làm đối tựơng sẽ không phải là cận định thực thụ, mà chỉ là sát-na định thôi.

Đến đây chúng ta sẽ bàn đến sát-na định trong thiền minh sát. Điều này đã được nói đến trong phần niệm hơi thở (ānāpānāsati) của bộ Thanh Tịnh Đạo[80].

Ở đây hành giả nên biết rằng sát-na định minh sát là thấy một cách triệt để tính chất vô thường, khổ, vô ngã của Danh-sắc chân đế và các nhân của chúng. Không thấy Danh-sắc chân đế và các nhân của chúng có thể nào có sát-na định được không? Điều đó không thể được.

Khi một chỉ thừa hành giả muốn hành minh sát, trước đó đã đắc thiền hơi thở (ānāpāna) thì nhập vào sơ thiền. Đây là Chỉ (samatha). Vị ấy xuất khỏi thiền này và phân biệt ba mươi bốn tâm hành của sơ thiền, rồi phân biệt vô thường, khổ, vô ngã bằng cách thấy tính chất sanh diệt của các pháp thuộc thiền ấy (jhāna dhamma). Đối với nhị thiền, v.v… hành giả cũng làm theo cách tương tự.

Vào lúc phân biệt như vậy vẫn có định. Với định này hành giả tập trung vào tính chất vô thường, khổ, và vô ngã của các pháp thiền đó. Định của hành giả lúc ấy cũng thâm sâu, và không đi đến các đối tượng khác. Đây là sát-na định, bởi vì đối tượng chỉ tồn tại nhất thời; ngay khi sanh lên, nó diệt liền tại đó.

Cũng vậy, khi hành giả đang hành minh sát để thấy ra hoặc là tính chất vô thường, khổ hoặc vô ngã của Danh-sắc chân đế và các nhân của chúng, thì tâm hành giả thường không rời đối tuợng. Có thể nói tâm hành giả lúc ấy đã chìm sâu vào một trong tam tướng (vô thường – khổ – vô ngã). Đây cũng gọi là sát-na định.

Nếu hành giả có thể thấy danh sắc chân đế và các nhân của chúng một cách triệt để và rõ ràng, mà trước đó không hành thiền chỉ, thì dĩ nhiên, đối với hành giả việc hành thiền chỉ là không cần thiết. Bằng không, hành giả phải tu tập một trong những đề mục thiền chỉ, và phát triển một mức độ định vừa đủ để có thể thấy được danh sắc chân đế và các nhân của chúng.

Tuy nhiên, trong kinh Samādhi (Định kinh), một bài kinh thuộc Tương Ưng Bộ, đức Phật có nói:

Samādhim bhikkave bhāvetha, samāhita bhikkave bhikkhu yathābhūtam pajānāti.
(Hãy tu tập định, này các tỳ khưu, sau khi tu tập định, vị tỳ khưu sẽ tuệ tri các Pháp như chúng thực sự là – yathābhūtam pajānati)

Do đó, hành giả nên tu tập định để tuệ tri năm uẩn, các nhân và sự diệt của chúng; hành giả nên tu tập định để tuệ tri tính chất vô thường, khổ và vô ngã của chúng. Còn sự diệt của chúng có thể hành giả sẽ thấy vào lúc đắc A-la-hán thánh đạo và Bát Niết-bàn (Parinibhāna)

Cũng trong Kinh Samādhi (Định) thuộc “Tương Ưng Sự Thực” (Sacca Samyutta). Đức Phật dạy hành giả nên tu tập định để tuệ tri Tứ Thánh Đế.

Như vậy, nếu vị hành giả muốn phân biệt chỉ cảm thọ thôi (quán thọ), hành giả cần biết rõ về những sự kiện đã được đức Phật giải thích sau đây:

Sabba, bhikkhave,
Anabhijānam aparijāna
virājaya appajaha abhabbo dukkhakkhayāya …
Sabbanca kho, bhikkhave,
Abhijānam parijana
virājaya pajaha bhabbo dukkhakkayāya.

(Này các tỳ khưu, Nếu một vị tỳ khưu không biết rõ tất cả Danh-sắc, và các nhân của chúng với ba loại đạt tri (parinna)[81], vị ấy không thể đạt đến Niết-bàn. Chỉ những vị nào, này các tỳ khưu, Biết rõ chúng với ba loại đạt tri mới có thể đạt đến Niết-bàn)

Đây là những gì được trích ra từ kinh “Aparijānana” trong “Salāyatana Vagga” thuộc Tương Ưng Bộ Kinh[82]

Hơn nữa, trong kinh “Kūtāgāra” Phẩm Sự thật (Sacca Vagga)[83] đức Phật cũng nói rằng, không tuệ tri Tứ Thánh Đế với Minh Sát Tuệ và Đạo tuệ, người ta không thể đạt đến chỗ chấm dứt vòng luân hồi (Samsāra) được. Vì vậy, nếu một hành giả muốn đạt đến Niết-bàn, họ phải cố gắng biết rõ tất cả danh, sắc và nhân của chúng với ba loại đạt tri (parinna).

Ba loại đạt tri ấy là gì?

1) Trí đạt tri (Nāta parinnā). Đây là tuệ hay “Trí phân tích danh sắc” (namā rūpa pariccheda ñāa) và “Trí phân biệt nhân duyên” (Paccaya pariggaha ñāa). Đó là những tuệ minh sát biết rõ tất cả danh sắc và các nhân của chúng.

2) Thẩm đạt tri (tīana parinnā). Đây là tuệ thẩm sát (tam tướng Sammasana ñāa) và tuệ thấy sự sanh diệt (udayabbaya ñāa). Hai tuệ này nhận thức thấu đáo tính chất vô thường, khổ và vô ngã của danh sắc chân đế và các nhân của chúng.

3) Trừ đạt tri (Pahāna parinnā). Đây là các tuệ minh sát cao hơn, từ “Tuệ thấy hoại diệt (Bhanga ñāa) đến “Đạo tuệ” (magga ñāa)

Những lời dạy của đức Phật trong hai bản kinh trên (“Aparijānana Sutta” và “Kūtāgara Sutta“) rất quan trọng. Vì vậy, nếu hành giả muốn hành minh sát bắt đầu với niệm thọ, hành giả phải nhớ những điểm sau:

- Phải phân biệt được danh sắc.
- Phân biệt một mình thọ không vẫn chưa đủ, hành giả cũng cần phải phân biệt các tâm hành đồng sanh với thọ ấy trong tiến trình nhận thức ý môn.

Tuy nhiên, trong thực tế người ta vẫn có thể giác ngộ nhờ phân biệt một pháp (Dhamma) duy nhất, song đó là, chỉ bao lâu tất cả các pháp khác đã được phân biệt trước: hoặc trong kiếp hiện tại này hoặc trong một kiếp nào đó ở quá khứ. Lấy ví dụ như tôn giả Xá Lợi Phất chẳng hạn. Khi vị ấy nghe tôn giả Assaji thốt lên một câu kệ (dhamma), là đã trở thành một vị nhập lưu. Sau đó, ngài mới xuất gia làm tỳ khưu và hành thiền. Trong kinh Đoạn Giảm (“Anupada Sutta[84]), đức Phật mô tả tôn giả Xá Lợi Phất đã rất thiện xảo như thế nào trong việc phân biệt các tâm hành riêng lẻ của các thiền chứng mà vị ấy tuần tự chứng[85]. Nhưng, cho dù tôn giả đã hành thiền nghiêm ngặt đến như vậy, tôn giả vẫn không đạt được A-la-hán thánh quả.

Rồi, một ngày kia, dức Phật giảng kinh “Dīghanakha” (Trường Trảo kinh) cho người cháu của tôn giả Xá Lợi Phất, giải thích về một pháp (Dhamma): Thọ (Vedanā)[86]. Lúc bấy giờ tôn giả Xá Lợi Phất đang đứng sau lưng đức Phật hầu quạt cho ngài, và lắng nghe lời dạy. Cuối thời pháp, tôn giả đắc A-la-hán thánh quả, còn người cháu đắc nhập lưu. Tôn giả dắc A-la-hán thánh quả nhờ suy tư trên một pháp duy nhất, song đó cũng là vì trước đây ngài đã thiền quán trên năm uẩn.[87]

Điều cần nhắc lại ở đây là, đức Phật nói rằng nếu một vị tỳ khưu không biết rõ tất cả Danh-sắc và các nhân của chúng với ba loại đạt tri (kể trên), vị ấy không thể nào đạt đến Niết-bàn được. Do đó, nếu hành giả cố gắng phân biệt chỉ một mình “thọ” như “thọ khổ” thôi chẳng hạn, mà hoàn toàn không phân biệt danh-sắc chân đế là không đủ. Ở đây “nói không đủ” có nghĩa là hành giả sẽ không đạt đến Niết-bàn được vậy.

Hỏi 4.7: Đức Phật là một bậc Đại A-la-hán. Thế nào là sự khác nhau giữa Ngài và các vị đệ tử như tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, cũng là các bậc A-la-hán?

Đáp 4.7: A-la-hán thánh đạo củađức Phật luôn luôn kết hợp với toàn giác trí hay nhất thiết trí (Sabbannuta ñāa), còn A-la-hán thánh đạo của các vị đệ tử bao gồm sự giác ngộ (bodhi) của ba hạng đệ tử (thinh văn).

- Sự giác ngộ của bậc Thượng thủ Thanh văn (Aggasāvaka bodhi)
- Sự giác ngộ của bậc Đại Thanh văn (Mahāsāvaka bodhi)
- Sự giác ngộ của bậc Thanh văn thường (Pakatisāvaka bodhi)

A-la-hán thánh đạo của các vị đệ tử thinh văn đôi khi kết hợp với tứ tuệ phân tích (Patisambhidā ñāa)[88]; đôi khi kết hợp với Sáu Thắng Trí hay Lục Thông (Abhinnā)[89]. Đôi khi kết hợp với Tam Minh (Tevijja)[90]; hoặc có khi chỉ là A-la-hán Thánh đạo thuần túy: Câu Phần Giải thoát (Ubhatobhāga vimutta)[91] hoặc Tuệ Giải thoát (Pannā vimutta)[92]. Nhưng không bao giờ kết hợp với Toàn Giác Trí (Sabbannuta Ñāa). Như vậy, cho dù là Thượng Thủ Thinh Văn, A-la-hán thánh đạo của tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên cũng không kết hợp với Toàn Giác Trí. Ngược lại, A-la-hán thánh đạo của đức Phật không những kết hợp với Toàn Giác Trí, mà còn với tất cả các trí khác, cũng như các đức đặc biệt của một vị Phật.

Một điều khác nữa là, do các ba la mật đã thành thục của ngài, mà chư Phật tự mình đắc Đạo, Quả, và Toàn Giác Trí, không cần một vị thầy. Trong khi một vị thinh văn đệ tử chỉ có thể đắc các Đạo, Quả tuệ do nghe pháp (Dhamma) liên hệ đến Tứ Thánh Đế nơi một vị Phật, hoặc đệ tử của một vị Phật, chứ họ không thể tự mình thực hành mà không có thầy chỉ dẫn được. Đây là những điểm khác nhau.

Hỏi 4.8: Kiếp sống “trung gian” hay “thân trung ấm” (antara bhava) là gì?

Đáp 4.8: Theo Tam Tạng i (Theravāda Pitaka) không có gì được xem là thân trung ấm như vậy. Giữa sát-na tâm tử (cutti citta) và sát-na tâm tục sinh hay kiết sinh thức (patisandhi) theo sau của nó, không có những sát-na tâm khác, hay bất cứ thứ gì tương tự như một thân trung ấm xen vào đó cả. Nếu một người sẽ sanh thiên giới sau khi chết, thì giữa tử tâm của họ và kiết sanh thức chư thiên không hề có sát-na tâm hay bất kỳ thứ gì giống như một kiếp sống trung gian (thân trung ấm) ở đây. Ngay khi cái chết xảy ra, kiết sanh thức chư thiên phát sanh liền. Cũng vậy, nếu một người sẽ sanh vào địa ngục sau khi chết, thì giữa tử tâm của vị ấy và kiết sanh thức trong địa ngục, sẽ không có một thứ gì được xem như thân trung ấm cả. Người này sẽ đi thẳng vào địa ngục sau khi chết.

Ý niệm về thân trung ấm thường phát sanh khi có người nào đó chết, phải sống trong ngạ quỷ giới một thời gian ngắn, và rồi tái sanh làm người trở lại. Họ có thể nghĩ rằng kiếp sống ngạ quỷ của mình là một cái gì đó giống như một kiếp sống trung gian hay thân trung ấm. Vấn đề thực sự xảy ra là như thế này: sau khi tử tâm của kiếp làm người diệt, kiết sanh thức ngạ quỷ khởi lên, sau khi tử tâm ngạ quỷ diệt, một kiết sanh thức của người sanh lên trở lại. Người phải chịu khổ trong ngạ quỷ giới là vì nghiệp bất thiện của họ. Nghiệp lực của nghiệp bất thiện ấy chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn, và bắt lấy kiết sanh thức của người trở lại, do nghiệp thiện họ làm đã chín muồi.

Kiếp sống ngắn ngủi trong thế giới ngạ quỷ đã bị lầm tưởng là một kiếp trung gian do những người không thể thấy sự thực của vòng luân hồi hay vòng duyên sinh. Nếu như họ có thể phân biệt được pháp duyên sinh với minh sát trí, thì niềm tin sai lầm này sẽ biến mất. Vì thế chúng tôi muốn đề nghị quý vị nên học cách phân biệt pháp duyên sanh này với minh sát trí của mình, lúc ấy vấn đề liên quan đến thân trung ấm sẽ biến mất khỏi tâm quý vị.

Hỏi 4.9: Các pháp môn thiền niệm hơi thở và phân biệt tứ đại có giống nhau không? Tại sao chúng ta phải hành thiền tứ đại chỉ sau khi đã hành niệm hơi thở?

Đáp 4.9: Các pháp môn này không giống nhau. Trong thiền minh sát hành giả phải phân biệt danh vàsắc, và các nhân củachúng, đó là lý do tại sao phải có hai loại thiền: phân biệt sắc và phân biệt danh.

Khi dạy phân biệt sắc, đức Phật luôn luôn dạy thiền tứ đại, hoặc tóm tắt hoặc chi tiết. Vì thế, nếu hành giả muốn phân biệt sắc, hành giả cần phải thực hành theo những chỉ dẫn của đức Phật. Tốt hơn nên hành thiền tứ đại với sự trợ giúp của định sâu như tứ thiền hơi thở, bởi vì nó sẽ giúp ta thấy được sắc chân đế, danh chân đế và các nhân của chúng một cách rõ ràng.

Tuy nhiên nếu hành giả không muốn hành thiền chỉ như niệm hơi thở, thì hành giả có thể hành thiền tứ đại trực tiếp cũng được, không có vấn đề gì cả. Điều này chúng ta đã bàn luận ở một câu hỏi trước rồi.

Hỏi 4.10: Thiền sư có thể vui lòng giải thích (cho chúng con biết) ánh sáng kinh nghiệm trong lúc thiền một cách khoa học được không ạ?

Đáp 4.10: Ánh sáng được thấy trong lúc hành thiền là gì? Chúng ta biết mỗi tâm (citta), trừ tâm tục sinh (kiết sanh thức), khởi lên nương vào sắc ý vật hay tâm cơ (hadayavatthu – heart-base) sẽ tạo ra sắc do tâm sinh (cittaja rūpa), cũng gọi là các tổng hợp sắc (rūpa kalāpas). Một tâm có thể tạo ra nhiều tổng hợp sắc do tâm sinh. Trong số các tâm nương vào sắc ý vật này, các tâm thiền tịnh chỉ (samātha bhāvanā citta) và các tâm thiền minh sát (vipassanā bhāvanā citta) được xem là rất mạnh và đầy năng lực, chúng tạo ra rất nhiều các tổng hợp sắc. Khi chúng ta phân tích các tổng hợp sắc ấy, chúng ta thấy có tám loại sắc. Đó là: địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại, màu, mùi, vị, và dưỡng chất. Sắc màu ở đây rất sáng. Tâm thiền chỉ và thiền minh sát càng mạnh thì màu càng sáng hơn. Bởi lẽ các tổng hợp sắc sanh khởi cùng một lúc và nối tiếp nhau, nên màu của tổng hợp sắc này và màu của tổng hợp sắc khác sanh lên sít sao với nhau giống như trong một bóng đèn điện vậy; đó là lý do vì sao ánh sáng xuất hiện.

Hơn nữa, trong mỗi tổng hợp sắc do tâm thiền chỉ và thiền minh sát tạo ra còn có hỏa đại, yếu tố này cũng tạo ra nhiều tổng hợp sắc mới. Những tổng hợp này được gọi là sắc do thời tiết sinh, bởi vì chúng được tạo ra bởi hỏa đại (yếu tố lửa), vốn là thời tiết (utu). Điều này xảy ra ở bên ngoài cũng như bên trong. Khi chúng ta phân tích các tổng hợp sắc này, chúng ta thấy tám loại sắc như nhau: đất, nước, lửa, gió, màu, mùi, vị, và dưỡng chất. Màu cũng lại là một trong tám sắc ấy. Do sức mạnh của tâm thiền chỉ và minh sát, màu đó cũng bừng sáng. Như vậy sự bừng sáng của màu này và sự bừng sáng của màu khác phát sinh sít sao với nhau, giống như một bóng đèn điện.

Ánh sáng của sắc do tâm sinh và của sắc do thời tiết sinh xuất hiện cùng một lúc. Sắc màu do tâm sinh chỉ xuất hiện ở bên trong, nhưng sắc màu do thời tiết sinh phát hiện ở cả bên trong lẫn bên ngoài và truyền toả khắp mọi hướng cho đến toàn vũ trụ (cakhavaa) hoặc xa hơn, tùy theo sức mạnh của tâm thiền chỉ quán ấy. Chẳng hạn, Trí Phân Tích Danh Sắc của đức Phật tạo ra ánh sáng chiếu đến mười ngàn thế giới; tâm thiên nhãn (dibba cakkhu citta) của tôn giả Anuruddha tạo ra ánh sáng chiếu đến một ngàn thế giới; còn minh sát trí của các vị thánh đệ tử khác tạo ra ánh sáng lên đến một do tuần hoặc hai do tuần, v.v… khắp mọi hướng tùy theo sức mạnh của tâm thiền chỉ và quán của họ.

Thường thường, khi đạt đến sanh diệt trí, rất nhiều hành giả hiểu ra rằng ánh sáng này là một nhóm các tổng hợp sắc (rūpa kalāpa). Trong khi đang hành thiền chỉ họ vẫn không biết đó là một nhóm các tổng hợp sắc như vậy, bởi vì các tổng hợp sắc rất vi tế. Không dễ gì thấy và hiểu các tổng hợp sắc này khi chỉ hành thiền chỉ không thôi. Nếu hành giả muốn biết với sự chắc chắn, hành giả nên cố gắng để có được Sanh – Diệt trí. Đó là cách khoa học nhất để hiểu ánh sáng kinh nghiệm trong lúc thiền.

Hỏi 4.11: Liệu những hành giả đã phân biệt được ba mươi hai thành phần của thân (32 thể trược) có thể thấy chúng nơi người khác, khi họ mở mắt không?

Đáp 4.11: Điều đó còn tùy. Các hành giả mới thực hành chỉ có thể thấy được những thể phần bên ngoài với mắt mở. Họ có thể thấy được các thể phần bên trong với đôi mắt minh sát trí của họ mà thôi. Nếu quí vị muốn biết điều này một cách khoa học, hãy cố gắng tự thấy nó với minh sát trí của mình.

Tuy nhiên, một vị trưởng lão (Mahāthera) do thực hành từ trước có thể thấy được bộ xương của người khác bằng đôi mắt mở của mình, như trưởng lão Mahā Tissa chẳng hạn, là một người thiện xảo trong thiền quán bộ xương (cốt tưởng quán). Ngài luôn luôn hành thiền quán bộ xương bên trong kể như bất tịnh cho đến sơ thiền, rồi chuyển sang minh sát. Ngài đã phân biệt được danh-sắc, các nhân, và tính chất vô thường, khổ, vô ngã của chúng. Đấy là pháp hành thường lệ của ngài.

Một hôm trên đường đi khất thực (piapāta), từ chùa Anuradhapura đến làng Mahāgāma. Trên con đường ấy, ngài gặp một phụ nữ, cô này đã cố gắng lôi cuốn sự chú ý của ngài với tiếng cười lớn. Khi nghe âm thanh (của tiếng cười), ngài ngẩng đầu nhìn, chỉ thấy hàm răng nàng, và rồi dùng hàm răng ấy làm đề tài thiền. Do pháp hành liên tục có trước của ngài, nên ngài chỉ thấy cô ta như một bộ xương chứ không phải như một phụ nữ. Ngài chỉ thấy một bộ xương. Rồi tập trung trên bộ xương của chính mình, ngài đắc sơ thiền và nhanh chóng phát triển minh sát. Đứng ngay trên con đường ấy, ngài đã đắc A-la-hán thánh quả.

Người phụ nữ này, do cãi nhau với chồng nên bỏ về nhà cha mẹ mình. Chồng nàng lần theo, và cũng gặp trưởng lão Tissa. Anh hỏi ngài: “Bạch ngài, ngài có gặp một phụ nữ đi trên đường này không?” Trưởng lão trả lời, “Này thí chủ (dāyaka), ta chẳng biết nam hay nữ, ta chỉ thấy một bộ xương đang đi trên đường này.”

Câu chuyện này đã được Thanh Tịnh Đạo đề cập trong chương nói về Giới.[93]

Đây là một thí dụ cho thấy bằng cách nào một người đã hành thiền quán bộ xương một cách triệt để, như trưởng lão Tissa, có thể thấy bộ xương của người khác với mắt mở của mình.

-ooOoo-

[1] Dhātu thường dịch là “giới” (element), tuy nhiên ở nội dung này nó liên quan đến tứ đại (mahā-bhūta: đại chủng) nên chúng tôi dịch là “đại” cho dễ hiểu. ND

[2] Xem “Māhagopālaka sutta” (Đại kinh Người Chăn Bò) M.I để biết thêm lời giải thích của đức Phật về sự cần thiết của việc phân biệt các sắc tứ đại.

[3] Về sự khác nhau giữa các rūpa-kalāpas và sắc chơn đế, xem câu trả lời 7.6 ở sau.

[4] Dhātu (giới: chất không thể phân tích thêm được nữa). Xem kinh Đa Giới M.III (Bahudhātuka sutta), Cũng xem Visuddhi-magga (Thanh Tịnh Đạo) – Bộ luận này giải thích rằng các giới “khiến cho thực tính (của một pháp) đựơc mang theo (dhārenti). “Are elements since they cause (a state”s) own individual essence to be borne (Attano sabhāva dhārentīti dhātuyo) Vs. XV. “Dhātuvitthāra kathā B. 518 (“Element Details Explaination N. 21).

[5] Kalapa: thường dịch là đoàn, bọn, nhóm.

[6] Sắc y đại sinh (upādārūpa): sở dĩ được gọi như vậy là vì sắc này xuất phát từ hay nương vào bốn đại chủng.

[7] Thực ra, hỏa đại của các tổng hợp sắc vẫn có mạng căn (life faculty) duy trì các tổng hợp tám sắc đồng sanh, đó là lý do vì sao mặc dù các tổng hợp tám sắc này không có mạng căn, chúng vẫn có sức sống. Khôngcó chất lửa của mạng căn, thì sắc hư hoại, như trường hợp người chết: thân có sự sống ấy trở thành xác chết vô tri.

[8] Từ dvāra (môn) mô tả sự kiện rằng các đối tượng cần một cửa vào, qua đó một thức biết được nó.

[9] Xem lại phần giới thiệu hoặc S.V.IV.2.

[10] Tổng hợp 10 sắc thuộc trái tim (đoàn tâm): gồm 8 sắc bất ly (căn bản) (1) đất, (2) nước, (3) lửa, (4) gió, (5) màu, (6) mùi, (7) vị, (8) dưỡng chất, và (9) mạng căn, (10) sắc trái tim.

[11] Xem lại phần gới thiệu ở trên.

[12] Vào lúc tái sanh làm người trong bào thai, sắc có mặt trước tiên chỉ là những tổng hợp mười sắc thuộc trái tim, thân và tánh (đoàn tâm, đoàn thân và đoàn tánh), tất cả đều do nghiệp sanh.

[13] Chúng ta biết tuổi thọ của một sắc pháp kéo dài 17 sát na tâm, mà mỗi sát na (đơn vị cực nhỏ của thời gian) còn chia làm 3 giai đoạn – sanh – trụ – diệt – nên khi nói sắc nghiệp sanh ở mỗi giai đoạn này thì có 51 sắc cả thảy.

[14] Xem lại Phần Giới Thiệu.

[15] Chẳng hạn như khi Upāka gặp đức Phật lúc Ngài mới giác ngộ liền nói: “Này hiền giả, các căn của hành giả thật là trong sáng, màu da của hành giả thật là thanh tịnh và sáng láng.” M.I. (Kinh Thánh Cầu – Noble Search Sutta).

[16] Xem “Anuruddha Mahāvitakka sutta” A.A. VIII. I. iii.10.

[17] Xem ghi chú số 2.

[18] Tejo (lửa – hỏa) và Utu (thời tiết hay nhiệt) cùng nói đến một hiện tượng.

[19] Thí dụ: Hỏa đại (tejo) của một tổng hợp sắc do nghiệp sanh (kammaja) tự nó tạo ra các tổng hợp sắc do thời tiết sanh (utuja):

Kammaja –> 1st utuja –> 2nd utuja –> 3rd utuja –> 4th utuja –> 5th utuja

1st, … 5th: các thế hệ sắc do thời tiết sanh lần lượt.

[20] Xem “Mahāgopālaka sutta” (Đại Kinh Người Chăn Bò) M.I.iv.3.

[21] D.ii. 9 “Đại Niệm Xứ Kinh” – cũng xem Kinh số 10 Trung Bộ I.

[22] Vs. xi. (Catu Dhātu vavaṭṭhāna Bhāvanā B 306).

[23] Xem ghi chú cuối trang.

[24] Vs. T.i.xi. “Catudhātu –vavatthāna – bhāvanā” D 308 (Thiền Xác Định Bốn Đại).

[25] Đất – Đặc tính tự nhiên: cứng, mềm, thô, mịn, nặng, nhẹ; Nhiệm vụ: tác hành như nền tảng (cho tất cả các loại sắc khác); Sự thể hiện: tiếp nhận (tất cả các loại sắc khác trong cùng tổng hợp sắc – rūpa kalapa). NướcĐặc tính tự nhiên: lỏng, chảy, nhỏ giọt. Nhiệm vụ: Dãn nở, mở rộng; Sự thể hiện: liên kết, kết dính; LửaĐặc tính tự nhiên: nóng, lạnh; Nhiệm vụ: làm cho ấm, già, tiêu hoá, chín; Thể hiện: mềm (như trong việc nấu các vật sống thành ra thức ăn có thể ăn được. GióĐặc tính tự nhiên: hỗ trợ; Nhiệm vụ: chuyển động, đẩy, Thể hiện: mang theo.

[26] A.II.ii.v.11 (Cũng gọi “Nimitta sutta” – Tướng Kinh)

[27] (9) A.VI.IX.I (“Sìtibhāva Sutta” (“Trở Nên Lạnh Kinh”) (10) S.V.II.vi 3 (“Thất Giác chi Kinh”) cũng còn gọi “Aggi Sutta” (“Kinh về lửa”).

[28] Pasāda rūpa: sắc thần kinh hay sắc tịnh sắc. Trong tập sách này, tùy chỗ, tùy nơi có thể dịch là sắc trong suốt hay sắc thần kinh hoặc sắc tịnh sắc, ý nghĩa đều như nhau. Riêng các sắc khác (ngoài tịnh sắc) thì dịch là sắc phi tịnh sắc hay các sắc mờ (không trong suốt). ND.

Trong tập sách này, tùy chỗ, tùy nơi có thể dịch là sắc trong suốt hay sắc thần kinh hoặc sắc tịnh sắc, ý nghĩa đều như nhau. Riêng các sắc khác (ngoài tịnh sắc) thì dịch là sắc phi tịnh sắc hay các sắc mờ (không trong suốt). ND

[29] Khối tưởng về tương tục tính (santati – ghana), khối tưởng về tổng hợp (samūha – ghana) và khối tưởng về nhiệm vụ (kiccaghana). Xem lại câu trả lời 1.3 ở trên để biết thêm chi tiết về khối tưởng về danh và sắc.

[30] Mặc dầu hành giả đã phân biệt được mười hai đặc tính, song ở đây hành giả chỉ phân biệt tám đặc tính trong một tổng hợp sắc nhất định: như với địa đại, một là: cứng, thô, nặng (hoặc mềm, mịn, nhẹ); thủy đại: chảy, dính; hỏa đại: một là nóng (hay lạnh) ; phong đại: hỗ trợ, đẩy. Vì không có những đặc tính đối nghịch trong một tổng hợp sắc.

[31] Vbh A.XVI.I “Ekakaniddesa Vannana” B.766.

[32] Cái biết thực sự về một đối tượng được thực hiện bởi bảy tốc hành tâm (javana) trong tiến trình nhận thức ý môn, điều này bất kể là môn nào qua đó đối tượng đã đến. (Xem lại phần giới thiệu ở trên).

[33] Lời giải thích của đức Phật về cách làm thế nào ý căn biết các đối tượng của năm căn khác, xem lại lời trích dẫn ở trên.

[34] Thiền sư Pa-Auk Sayadaw giải thích rằng ví như khi chúng ta thấy sự trong suốt của một tấm kính do nhìn vào tấm kính, ở đây cũng vậy chúng ta thấy sự trong suốt của một tổng hợp sắc do phân biệt tứ đại, tứ đại này là “tấm kính” có sự trong suốt vậy.

[35] Nói về sự sáng chói của bhavaga (hữu phần) là muốn sử dụng ẩn dụ vậy thôi, vì thực ra sự chói sáng của các tổng hợp sắc do chính hữu phần tạo ra, hay các tổng hợp sắc do tâm sanh, yếu tố thời tiết (nhiệt) của nó tạo ra cho các tổng hợp sắc sáng thêm. Một tâm thiền Chỉ hoặc Minh sát tạo ra các tổng hợp sắc đặc biệt chói sáng vì ở đó không có các tùy phiền nâo (uppakilesa). Muốn biết thêm chi tiết, xem lại phần “Sắc do tâm sanh”ở trên, trang…

[36] Xem lại ở trên, đoạn nói về sắc do Nghiệp, Tâm, Thời tiết và Vật thực sanh.

[37] Theo cách dùng thông thường trong Kinh điển i thì “citta thường dịch là “tâm”, nhưng có khi cũng là “thức”, theo nghĩa này nó đồng nghĩa với viññāna (thức), như trường hợp ở đây vậy.

[38] Khi phân biệt mùi và vị, chính Ý môn (danh), chứ không phải tâm căn (sắc) làm việc phân biệt, căn vẫn cần phải được phân biệt.

[39] Tổng hợp sắc có mắt là thứ mười (Đoàn nhãn) gồm tám sắc căn bản (bất ly) – [Đất, nước, lửa, gió, màu, mùi, vị, dưỡng chất.]

[40] Tổng hợp sắc có trái tim là thứ mười (Đoàn tâm): Tám sắc căn bản cộng với mạng căn và sắc trái tim. Tổng hợp sắc có tánh là thứ mười (Đoàn tánh) gồm: 8 sắc căn bản cộng với mạng căn và sắc tánh (nam-nữ). Tổng hợp sắc có mạng căn là thứ chín (Đoàn mạng căn) gồm: tám sắc căn bản cộng với mạng căn. Xem thêm bảng 2 – 4 sau

[41] Xem chú thích trên.

[42] Xem chú thích trên.

[43] Tổng hợp sắc có trái tim là thứ mười hay Đoàn Tâm gồm: 8 sắc căn bản cộng với mạng căn và sắc trái tim.

[44] Sáu giác quan cũng gọi là sáu căn, nhưng vì các căn (tịnh sắc căn) như đã được giải thích, thực sự chỉ là sắc hay yếu tố thứ mười trong các tổng hợp sắc thích hợp, nên có lẽ sẽ được xem là an toàn hơn khi nói “giác quan” ở đây, để chỉ cái thực thể vật lý, tức nhãn cầu hay con ngươi mắt vậy.

[45] Đó là nhãn tịnh sắc, nhĩ tịnh sắc, tỷ tịnh sắc, thiệt tịnh sắc, và thân tịnh sắc, 6 sắc mờ gồm: sắc trái tim, sắc tánh, sắc mạng căn, sắc do tâm sanh, sắc do thời tiết sanh, sắc do vật thực sanh.

[46] Lấy mắt làm ví dụ: 1) các tổng hợp sắc có mắt là thứ mười (10 sắc); 2) Các tổng hợp sắc có thân là thứ mười (10 sắc) 3) các tổng hợp sắc có tánh là thứ mười (10 sắc) ; các tổng hợp sắc có mạng căn là thứ 9 (9 sắc); 5) các tổng hợp sắc tám do tâm sanh (8 sắc) ; 6) các tổng hợp sắc tâm do thời tiết sanh (8 sắc); 7) các tổnghợp sắc tám do vật thực sanh (8 sắc). Như vậy (10+10+10+9+8+8+8=63). Số lượng này cũng áp dụng cho tai, mũi, lưỡi và trái tim. Riêng thân chỉ có năm mươi ba sắc (63 – 10=53).

[47] Các tổng hợp sắc có mạng căn là thứ chín chỉ được kể trong sự phân tích cái được gọi là bốn mươi phần thuộc thân (VS XVIII) Dựa vào TTĐ, Thiền sư Pa – Auk Sayadaw hướng dẫn thiền sinh phân biệt các tổng hợp sắc có mạng căn là thứ chín. Tuy nhiên, nếu muốn hành giả có thể gồm nó vào điểm này.

[48] Tổng hợp sắc có mắt là thứ mười gồm: 8 sắc căn bản (đất, nước, lửa, gió,màu, mùi, vị và dưỡng chất) + mạng căn+ nhãn tịnh sắc là mười. Tổng hợp sắc có thân là thứ mười gồm: 8 sắc căn bản + mạng căn + thân tịnh sắc. Tổng hợp sắc có tánh là thứ mười gồm: 8 sắc căn bản + mạng căn + sắc tánh. Các tổng hợp sắc có dưỡng chất là thứ tám gồm 8 sắc căn bản.

[49] Xem ghi chú trước

[50] Xem ghi chú trước

[51] Xem ghi chú trước

[52] Xem lại trang ở trên để biết sắc do nghiệp sanh.

[53] Hỏa đại (tejo) của 1 tổng hợp sắc do nghiệp sanh (kammaja) tạo ra các tổng hợp sắc do thời tiết sanh (utuja) qua năm thế hệ:

Kammaja –> 1st utuja –> 2nd utuja –> 3rd utuja –> 4th utuja –> 5th utuja

[54] Các tổng hợp sắc do vật thực trước sanh, xem trang sau.

[55] Dưỡng chất do vật thực sanh và nhiệt trợ giúp tiêu hóa là nhân hỗ trợ, còn dưỡng chất của các tổng hợp có mắt là thứ mười là nhân làm phát sinh.

[56] M.III. IV.10 (Dhātu Vibhanga Sutta)

[57] Xem chi tiết ở dưới “Trí thẩm sát tam tướng”

[58] Có hai cách phân biệt: như một nhóm (kalāpa sammāsana) và từng pháp một (anupada). Xem Vsxx.B 606 “Maggā magga Nānadassana Visuddhi Niddesa” (Mô tả về Đạo Phi Đạo Tri Kiến Thanh Tịnh). Cũng xem MIII. II.1 Anupada Sutta

[59] Ở đây hành giả sẽ không khảo sát sắc sinh (Upacāya) vì nó chỉ nói đến thế hệ sắc đầu tiên trong một kiếp sống (tức sự hoàn tất các căn của thai nhi trong bào thai). Sắc này hành giả phân biệt trước khi phân biệt duyên khởi. Xem thêm trang … ở dưới.

[60] Những sắc này chỉ tồn tại trong các sắc do tâm sanh, do thời tiết sanh và do vật thực sanh.

[61] Với các giác quan khác như tai, mũi, lưỡi, thay vào chỗ thích hợp. Riêng thân& tâm, xem bảng 3 & 4.

[62] Đối với tai, mũi và lưỡi, thay là: tổng hợp Mười – Tai; tổng hợp Mười – Mũi; tổng hợp Mười – Lưỡi

[63] Đối với nhĩ môn, tỷ môn và thiệt môn, thay vào lần lượt là âm thanh, mùi, và vị.

[64] Thính chúng của thiền sư Pa-Auk Tawya Sayadaw ở đây phần lớn là những Phật tử theo truyền thống Đại thừa (Mahāyāna), đối với họ cứu cánh không phải là A-la-hán Thánh quả mà là Phật quả.

[65] Xem ở sau

[66] Apadāna II. “Bāhiyatthera Apadāna

[67] A.A.I. XIV.III “Bāhiya Dārucīriyattheravatthu” B 216

[68] Vbhi A. VIII. I “Suttantabhājarūyavannanā” – Chú giải kinh.

[69] MA. II. IV.I “Ghaikāna Sutta” Bài kinh này chỉ liệt kê các pháp 1,2,3 và 4 cùng với pháp thứ 5 là: gata – paccā – gata – vattapūrayamānā samanadhammmakarontā (hành phận sự sa môn hạnh khi đi ra ngoài và đi trở về). Ở đây muốn nói tới việc hành thiền (chỉ-quán) trong mọi thời gian, nghĩa là khi đi ra ngoài khất thực, cũng như khi đi khất thực trở về trú xứ. Từ những nguồn giải thích về pháp hành của vị bồ tát, thì pháp thứ 5 này có thể được hiểu như đặc biệt gồm luôn 5,6 & 7. Tuy nhiên, ở các kinh khác, sa môn pháp (samana dhamma) đề cập đến 7 pháp hành này.

[70] Đây là gantha dhura (phận sự học kinh điển), cũng còn gọi là Pariyatti (học), từ (2) đến (7) là Vipassanā dhura (phận sự hành minh sát, cũng còn gọi là Patipatti (hành)

[71] Về 4 loại giới, xem câu trả lời 2.3 ở trên

[72] Mặc dù “hạnh ở rừng” đã được kể trong 13 pháp đầu đà, song ở đây Chú Giải đề cập nó riêng ra nhằm mục đích nhấn mạnh vậy thôi.

[73] Đây là Hành xả tuệ (sankhārupekkhāñāa)

[74] A.IV.IV.V.I “Sotānugata Sutta

[75] SI. I.V.6 “Accharā Sutta” (kinh Chư thiên) & SA. Ibid.

[76] S.II.I.VII.10 “Susīma sutta

[77] Ở đây, Tam Luân (3 vòng) nói đến ba đặc tính vô thường, khổ, và vô ngã.

[78] S. III. I. II. I. 7

[79] Xem lại ở trên để biết thêm về các loại định.

[80] VS.VIII Ānāpānasati Kathā B235 # N232.

[81] Ba sự đạt tri (Parinnā): sự thấu hiểu các Pháp:

- Trí đạt tri (Nātaparinnā)
- Thẩm đạt tri (tīranaparinnā)
- Trừ đạt tri (Pahānaparinnā)

[82] S.IV.I.III.4 “Pathama aparijānana Sutta

[83] First Non-Understanding Sutta

[84] MIII.II.1 “Anupada Sutta” (kinh Đoạn Giảm)

[85] Chi tiết về việc làm thế nào để phân biệt các tâm hành riêng lẻ trong những thiền chứng của hành giả, xem How to discern Jhana Cognitive Processes, ở sau. (Hành giả làm thế nào để phân biệt các tiến trình tâm thiền)

[86] M II.III.4 “Dīghanakha Sutta

[87] Chi tiết liên quan đến việc thực hành trong quá khứ của những vị đắc đạo, xem câu trả lời 4-3, 5-2

[88] Về Tứ Tuệ Phân Tích, xem lại câu trả lời 4-2 ở trên

[89] Sáu Thắng trí hay Lục thông gồm: (1) biến hoá thông (iddhi-vidhā), (2) thiên nhĩ thông (dibba sota); (3) tha tâm thông (parassa ceta pariyanāna); (4) thiên nhãn thông (Dibba cakkhu); (5) túc mệnh thông (Pubbe nivāsānussatti); (6) lậu tận thông (Āsavakkhaya)

[90] Tam Minh: Túc mệnh minh, thiên nhãn minh, và lậu tận minh.

[91] Câu Phần Giải thoát (Ubhatobhāga Vimutta) muốn nói tới những vị, đầu tiên thoát khỏi sắc giới với việc chứng các thiền vô sắc, thứ đến, thoát khỏi luôn vô sắc giới với việc chứng A-la-hán Thánh quả.

[92] Tuệ Giải Thoát (Pannā Vimutta) nói đến các vị A-la-hán thuần quán.

[93] I.VS.1 “Indriyasamvarasīlam” B15 (“Sense Restraint Morality” N55)

-ooOoo-

BÀI PHÁP THOẠI 5

Phân biệt Danh

Trong bài giảng vừa rồi, chúng ta đã bàn về cách làm thế nào để tu tập thiền tứ đại, cũng như làm thế nào để phân biệt các phần tử của sắc gọi là “Rūpa kalāpa” (tổng hợp sắc). Trong bài này, chúng ta sẽ bàn một cách tóm tắt về cách phân biệt danh (nāma kammaṭṭhāna), giai đoạn kế tiếp trong thiền Vipassanā – Minh sát.

Tôi sẽ bắt đầu bài giảng bằng cách giải thích tóm lược những sự kiện cơ bản về tâm cần phải có để hiểu được sự phân biệt “danh”.

Như trong Abhidhamma (Vi diệu pháp) đã giải thích, tâm con người gồm một cái tâm (citta) biết đối tượng của nó, và các tâm sở phối hợp cùng khởi lên với tâm ấy. Có năm mươi hai tâm sở, chẳng hạn xúc (phassa), thọ (vedanā), tưởng (saññā), tư (cetanā), nhất tâm (ekaggatā), mạng căn (jīvitindriya), và tác ý (manasikāra)[1].

Có tổng cộng tám mươi chín loại tâm[2], chúng có thể được sắp xếp theo hai cách, một là theo tính chất thiện, bất thiện và vô ký của chúng, và hai là theo cảnh giới của chúng như: dục giới (kāmāvacara), sắc giới (rūpavacara), vô sắc giới (arūpavacara) hoặc siêu thế (lokuttarā)[3]. Tuy nhiên, có thể chúng ta chỉ nói về hai loại tâm căn bản:

1) Tâm thuộc tiến trình nhận thức (citta vīthi),
2) Tâm “Phi tiến trình” (vīthi mutta) tức tâm ra ngoài tiến trình nhận thức như: vào lúc tái sinh, lúc chết, và trong hữu phần (bhavaga)[4].

Có sáu loại tiến trình tâm (tâm lộ). Năm loại đầu là các tiến trình nhận thức thuộc nhãn môn, nhĩ môn, tỷ môn, thiệt môn, và thân môn, mà các đối tượng tương ứng của chúng lần lượt là các sắc, thinh, hương, vị, và xúc. Chúng được gọi chung là ‘tiến Trình Nhận Thức Ngũ Môn” hay “Tâm Lộ Ngũ Môn” (pañadvāra vìthi)[5]. Loại tiến trình nhận thức thứ sáu lấy tất cả mọi đối tượng[6] làm đối tượng của nó, và được gọi là ‘tiến Trình Nhận Thức Y Môn” hay “Tâm Lộ Ý Môn”[7] (manodvāra vīthi). Mỗi tiến trình nhận thức bao gồm một chuỗi các loại tâm khác nhau. Các tâm trong bất kỳ một tiến trình nhận thức nào cũng khởi lên hợp theo trật tự tự nhiên của tâm (cittaniyāma). Nếu muốn phân biệt danh, hành giả phải thấy được chúng khi các tâm này khởi lên trong trật tự tự nhiên ấy.

Để làm được như vậy, trước hết hành giả phải tu tập định với – hoặc niệm hơi thở (ānāpānasati) hoặc đề mục thiền chỉ khác, hoặc thiền tứ đại. Một vị thuần quán thừa hành giả cũng phải hoàn tất việc phân biệt sắc (rūpa kammaṭṭhāna), trước khi khởi sự phân biệt danh (nāmā kammaṭṭhāna). Tuy nhiên, vị chỉ thừa hành giả (samatha – vehicle yogi) có thể chọn: phân biệt danh trước, hoặc phân biệt danh của các bậc thiền vị ấy đã đạt đến trước (tức danh thuộc bốn thiền sắc giới và bốn thiền vô sắc)[8]. Mặc dù vậy để phân biệt danh dục giới, vị ấy cũng cần phải hoàn tất việc phân biệt sắc trước.[9]

Bốn Giai Đoạn Phân Biệt Danh.

Danh được phân biệt theo bốn giai đoạn:

1) Phân biệt tất cả các loại tâm (citta) khởi lên bên trong.
2) Phân biệt mỗi và mọi tâm hành (nāma dhamma) trong tất cả các loại tâm.
3) Phân biệt trình tự tâm, tức là phân biệt tiến trình nhận thức (vīthi) khởi lên ở sáu môn (dvārā)
4) Phân biệt danh bên ngoài (bahiddha nāma)[10] , một cách chung chung.

Phân Biệt Tiến Trình Tâm Thiền (Jhāna)

Nếu hành giả đã đắc thiền, với đề mục niệm hơi thở chẳng hạn, thì chỗ khởi đầu tốt nhất để phân biệt danh là tâm thiền và các tâm sở đồng sanh với nó.

Có hai lý do để làm điều này. Thứ nhất là khi tu tập thiền (jhāna), hành giả đã phân biệt năm thiền chi, như vậy có nghĩa là hành giả có một kinh nghiệm nào đó trong việc phân biệt các tâm sở phối hợp. Lý do thứ hai, đó là tốc hành tâm thiền (jhānajavana citta) khởi lên rất nhiều lần liên tiếp nhau, do đó sẽ nổi bật và dễ dàng cho việc phân biệt hơn. Điều này tương phản với tiến trình tâm dục giới (kāmāvacara vithi) ở đó tốc hành (javana) chỉ khởi bảy lần trước khi một tiến trình tâm mới khởi lên.[11]

Vì thế, để phân biệt danh của bậc thiền (jhāna) hành giả bắt đầu bằng cách lập lại sơ thiền, với đề mục hơi thở chẳng hạn. Xuất khỏi thiền ấy và phân biệt Hữu phần – bhavaga (Ý môn), và tợ tướng hơi thở (ānāpāna – paibhāga nimitta) cùng với nhau. Khi nimitta (tướng) xuất hiện ở hữu phần, hãy phân biệt các tâm hành – đó là năm thiền chi theo đặc tính riêng của chúng. Năm thiền chi là:

1. Tầm (vitakka): hướng và đặt tâm vào tợ tướng hơi thở (ānāpāna – paibhāga nimitta)
2. Tứ (vicāra): Giữ cho tâm neo trên tợ tướng ấy.
3. Hỉ (piti): Thích thú đối với tợ tướng.
4. Lạc (sukha): An vui với tợ tướng.
5. Nhất tâm (ekaggatā): Sự hợp nhất của tâm trên tợ tướng hơi thở.

Thực hành cho đến khi hành giả có thể phân biệt được năm tâm hành (tâm sở) một lần trong mỗi tốc hành tâm sơ thiền (javara citta).

Sau khi đã phân biệt được năm thiền chi theo cách này, hành giả cần phân biệt hai mươi chín tâm hành còn lại[12]. Hành giả bắt đầu với một trong ba: thức (viññaa), xúc (phassa), hoặc thọ (vedanā); tùy theo tâm sở nào nổi bật nhất. Rồi mỗi lần thêm vào một tâm hành: đầu tiên phân biệt một loại (tâm hành), kế thêm một nữa, như vậy hành giả phân biệt được hai loại tâm hành, thêm một nữa, như vậy hành giả thấy được ba; thêm một nữa, thấy bốn, v.v… Cho đến khi cuối cùng hành giả thấy được cả ba mươi bốn loại tâm hành trong mỗi tốc hành tâm thiền.

Sau đó, phân biệt tất cả các loại tâm hành trong trình tự của sáu loại tâm hình thành một tiến trình ý môn (manodvāra vīthi) của sơ thiền. Sáu loại tâm đó là:

1. Ý môn hướng tâm (manodvārāvajjana) (12 tâm hành)
2. Chuẩn bị tâm (parikamma) (34 tâm hành)
3. Cận hành tâm (upacāna) (34 tâm hành)
4. Thuận thứ tâm (anuloma) (34 tâm hành)
5. Chuyển tộc (gotrabhu) (34 tâm hành)
6. Một chuỗi không gián đoạn của các tốc hành tâm thiền (jhāna javana citta), cũng 34 tâm hành mà cho đến bây giờ hành giả đã phân biệt được.

Để phân biệt được tất cả những tâm hành này, hành giả phải lập lại sơ thiền như trước, xuất khỏi thiền ấy và phân biệt bhavaga (hữu phần) và tợ tướng cùng nhau. Khi tợ tướng xuất hiện trong hữu phần, thì phân biệt tiến trình ý môn thiền vừa khởi. Hành giả phân biệt mỗi trong số các loại tâm khác nhau trong tiến trình ý môn sơ thiền, và mười hai hoặc ba mươi bốn loại tâm hành của chúng.

Sau khi đã làm xong việc này, để cho hành giả có một sự hiểu biết về danh (nāma) nói chung, hãy phân biệt đặc tính được xem là chung cho tất cả danh (nāma), tức cho cả ba mươi bốn tâm hành, đó là đặc tính nghiêng về (namana) và bám dính vào đối tượng, ở đây là tợ tướng hơi thở (ānāpāna – paibhāga nimitta)

Theo cách thức ấy, hành giả cần phân biệt và phân tích danh (nāma) của nhị thiền, tam thiền và tứ thiền hơi thở, cũng như các bậc thiền thuộc các đề mục thiền khác mà hành giả đã đắc, chẳng hạn như thiền bất tịnh, kasiṇa trắng, và thiền tâm từ, v.v…

Tuy nhiên, nếu hành giả chỉ có cận định, với thiền tứ đại, hành giả phải khởi sự việc quán danh của mình ở cận định ấy, hành giả không thể phân biệt danh của một tâm – thiền mà không đắc thiền. Như vậy, trong trường hợp này, hành giả phải lập lại cận định với thiền tứ đại, ở đây sắc trong suốt (tịnh sắc) của thân hành giả lấp lánh và phát sáng. Sau khi trú ở đó một lúc, chuyển sang Minh sát với một cái tâm đã tươi tỉnh và trong sáng, hành giả sẽ phân biệt danh của cận định ấy.

Đến đây, sau khi hành giả đã phân biệt được các tiến trình tâm khác nhau trong tất cả các pháp thiền chỉ trước của mình, có thể đó là cận định hay định của bậc thiền (an chỉ định), rồi hành giả chuyển sang phân biệt các tâm hành khác nhau của một tiến trình tâm dục giới (kāmāvacara vīthu).[13]

Làm thế nào để phân biệt Tiến Trình Tâm Dục Giới

Tác Ý Như Lý và Phi Như Lý.

Một tiến trình tâm dục giới được xem là thiện hoặc bất thiện tùy thuộc vào sự tác ý như lý (yoniso manasikāra), hoặc tác ý phi như lý (ayoniso manasikāra). Như vậy, tác ý sẽ quyết định một tâm dục giới là thiện hoặc bất thiện.

Nếu hành giả nhìn vào một vật và biết nó chỉ là danh, sắc, nhân – quả, vô thường, khổ, vô ngã, hoặc bất tịnh, thì tác ý của hành giả là như lý tác ý, và tốc hành tâm ấy là thiện.

Nếu hành giả nhìn vào một vật và thấy nó theo khái niệm, như đàn ông, đàn bà, chúng sinh, vàng, bạc, hoặc thấy nó là thường, lạc, ngã, tịnh, thì tác ý của hành giả là phi như lý tác ý, và tốc hành tâm ấy là bất thiện.

Tuy nhiên, trong những trường hợp ngoại lệ, một tốc hành tâm liên quan đến khái niệm cũng có thể là thiện, như khi đang hành thiền tâm từ và đang tác sự cúng dường chẳng hạn. Hành giả sẽ nhận ra sự khác nhau này khi phân biệt các tiến trình tâm ấy.

Làm Thế Nào Để Phân Biệt Tiến Trình Tâm Ý Môn

Muốn phân biệt tiến trình tâm dục giới, hành giả phải khởi sự bằng cách phân biệt một tiến trình tâm ý môn, vì ở đó các loại tâm được xem là ít hơn. Hành giả có thể khởi sự với một tiến trình ý môn thiện.

Một tiến trình ý môn thiện thuộc dục giới gồm một chuỗi ba loại tâm sau:

1. Một ý môn hướng tâm (manodvārā vajjana) (12 tâm hành)
2. Bảy tốc hành tâm (javana citta) (34/33/32 tâm hành)
3. Hai tâm thập di (talārammaa citta) (34/33/32/12/11 tâm hành)

Để phân biệt được điều này, hành giả phải khiến cho một tiến trình ý – môn khởi lên. Trước tiên, hành giả phân biệt bhavaíga (ý – môn), rồi nhãn tịnh sắc (cakkhu pasāda) trong một tổng hợp sắc ở mắt. Khi nó xuất hiện ở ý – môn (bhavaga), hành giả nhận thức được nó: “Đây là nhãn tịnh sắc” hoặc “Đây là sắc” (hoặc vô thường, khổ, vô ngã hoặc bất tịnh), và thấy bằng cách nào một tiến trình ý môn lại khởi lên ở đó.

Kế tiếp, để phân biệt các loại tâm hành khác trong các tâm thuộc tiến trình ý môn đó, hành giả cũng làm như đã làm với tiến trình ý – môn thiền (jhāna), tức là bắt đầu với hoặc thức (tâm), hoặc thọ, hoặc xúc – tùy yếu tố nào trong đó nổi bật nhất. Rồi mỗi lần thêm vào một tâm hành – trước tiên phân biệt một loại (tâm hành), rồi thêm vào một, như vậy hành giả phân biệt hai loại tâm hành; thêm vào một nữa, như vậy hành giả thấy được hai; thêm vào một nữa, như vậy hành giả thấy được ba; thêm vào một nữa, như vậy hành giả thấy được bốn, v.v… cuối cùng cho tới khi hành giả thấy được cả ba mươi bốn, ba mươi ba hoặc ba mươi hai tâm hành trong mỗi tâm của tiến trình ý – môn thiện thuộc dục giới. Cứ làm đi làm lại như vậy nhiều lần cho đến khi hành giả cảm thấy thỏa mãn (là đã hoàn tất công việc).

Như vậy hành giả cần phân biệt các tiến trình ý – môn xảy ra khi nhìn vào mỗi sắc trong mười tám loại sắc thực (rūpa-rūpa), và trong mười loại sắc không thực (arūpa-rūpa) đã được khảo sát khi hành giả phân biệt sắc (rūpa kammaṭṭhāna) [14]

Làm Thế Nào Để Phân Biệt Tiến Trình Ngũ Môn.

Một khi hành giả đã hoàn tất việc phân biệt tiến trình nhận thức qua ý môn, hành giả nên tiếp tục phân biệt tiến trình nhận thức qua ngũ môn, khởi sự với tiến trình nhãn môn.

Để phân biệt được các tâm hành của mỗi tâm trong một tiến trình nhãn môn, hành giả làm cho một tiến trình nhãn môn khởi lên. Đầu tiên, hành giả phân biệt nhãn môn trước, rồi đến bhavaga (ý – môn), xong phân biệt cả hai một lần. Thứ đến tập trung vào màu của một nhóm các tổng hợp sắc kế bên khi nó xuất hiện ở cả hai môn, nhận thức nó kể như “Đây là màu”, và thấy bằng cách nào một tiến trình nhãn môn khởi lên trước ở đó, rồi (hợp với trật tự tự nhiên của tâm) (citta niyāma) nhiều tiến trình ý môn khởi lên tất cả, với cùng một đối tượng.

Tiến trình nhãn môn sẽ gồm một chuỗi bảy loại tâm nối theo nhau.

1. Một ngũ môn hướng tâm (pañcadvārāvajjana) (11 tâm hành)
2. Một nhãn thức (cakkhuviññāa) (8 tâm hành)
3. Một tiếp thọ tâm (sampaicchana) (11 tâm hành)
4. Một suy đạc tâm (santīraa) (11/12 tâm hành)
5. Một quyết định tâm (voṭṭhapana) (12 tâm hành)
6. Bảy tốc hành tâm (javana citta) (34/33/32 tâm hành)
7. Hai tâm thập di (tadārammaa citta) (34/33/32/11 tâm hành)

Sau tiến trình này một chuỗi tâm bhavaga (hữu phần) sẽ nối theo, và rồi đến ba loại tâm thuộc tiến trình ý môn, như đã mô tả ở trước.

1. Một ý môn hướng tâm
2. Bảy tốc hành tâm
3. Hai thập di tâm.

Sau khi đã phân biệt hai loại tâm (trong tiến trình nhãn môn và ý môn) trên, kế tiếp hành giả phân biệt các loại tâm hành còn lại thuộc các tiến trình ý môn – ở đây là các tiến trình ý môn có cùng đối tượng (màu) theo sau tiến trình nhãn môn[15]. Cũng như trước, hành giả bắt đầu với yếu tố nào nổi bật nhất trong ba tâm pháp: thức, xúc, và thọ này. Rồi mỗi lần thêm vào một, cho đến khi hành giả thấy được tất cả các loại tâm hành khác nhau trong mỗi tâm.

Sau đó hành giả phân biệt các tiến trình nhận thức thuộc bốn môn khác – nhĩ, tỷ, thiệt, và thân, theo như cách đã làm đối với nhãn môn.

Đến giai đoạn này, hành giả đã phát triển được khả năng phân biệt danh kết hợp với các tâm thiện, và bây giờ cũng cần phải phân biệt danh kết hợp với các tâm bất thiện. Để làm được điều này, hành giả chỉ đơn giản lấy cùng những đối tượng mà hành giả đã lấy khi phân biệt các tâm thiện, thay vào đó chỉ tác ý phi như lý đến chúng mà thôi.

Dĩ nhiên, đây chỉ là một sự giải thích tóm tắt, song những ví dụ đưa ra ở đây ít ra cũng đủ để hành giả hiểu được những gì được đòi hỏi phải có trong việc phân biệt danh bên trong.

Tóm lại, từ trước đến đây, hành giả đã hoàn tất ba giai đoạn đầu của việc phân biệt danh:

1. Hành giả đã phân biệt tất cả các loại tâm (citta) khởi lên bên trong[16].
2. Hành giả đã phân biệt mỗi và mọi tâm hành hay danh pháp (nāma dhammā) trong tất cả các loại tâm.
3. Hành giả đã phân biệt các chuỗi tâm, đó là các tiến trình nhận thức (vīthi) khởi lên ở sáu môn.

Như đã đề cập ở trước, cũng còn có một giai đoạn thứ tư nữa để phân biệt danh – mà giờ đây chúng ta sẽ bàn đến.

Làm Thế Nào Để Phân Biệt Danh Bên Ngoài.

Giai đoạn thứ tư là phân biệt danh bên ngoài. Hành giả bắt đầu bằng việc phân biệt tứ đại bên trong, rồi bên ngoài nơi áo quần hành giả đang mặc. Hành giả sẽ thấy rằng áo quần của mình phân nhỏ ra thành các tổng hợp sắc (rūpa – kalāpas), và rằng hành giả có thể phân biệt được tám loại sắc trong mỗi tổng hợp ấy. Chúng là các tổng hợp tám có dưỡng chất do thời tiết sanh (utuja ojaṭṭhamaka kalāpa), và thời tiết (uju) mà chúng sanh lên đấy là thời tiết trong các tổng hợp sắc.

Hành giả nên luân phiên phân biệt giũa sắc bên trong và sắc bên ngoài khoảng ba hoặc bốn lần, rồi với ánh sáng của định, (hành giả) phân biệt sắc bên ngoài ở hơi xa một chút, như sàn nhà chẳng hạn. Ơ đó hành giả cũng có thể sẽ phân biệt được tám loại sắc trong mỗi tổng hợp sắc, và nên luân phiên phân biệt giũa sắc bên trong và bên ngoài ba bốn lần như trước,

Theo cách này, hành giả dần dần mở rộng lãnh vực phân biệt của mình đến sắc trong tòa nhà hành giả đang ngồi, khu vực chung quanh nó, gồm cả cây cối và các toà nhà khác, v.v… cho đến khi hành giả phân biệt được tất cả các sắc không linh hoạt ở bên ngoài. Trong khi làm như vậy, hành giả cũng sẽ thấy sắc linh hoạt (sắc trong suốt, v.v…) trong các đối tượng không linh hoạt (inanimate objects): đó là các loại côn trùng và sinh vật nhỏ bé khác trên cây cối, nhà cửa, v.v…

Một khi đã phân biệt được tất cả sắc không linh hoạt ở bên ngoài rồi, hành giả giả bây giờ tiếp tục để phân biệt tất cả sắc linh hoạt, đó là sắc của các chúng sanh khác, sắc bên ngoài có tâm thức. Hành giả chỉ phân biệt sắc của chúng thôi, và thấy rằng chúng không phải là đàn ông, đàn bà, một người, hay một chúng sanh, mà chỉ là sắc. Rồi phân biệt tất cả sắc bên ngoài một lần, xong phân biệt tất cả các loại sắc khác nhau cả bên trong lẫn bên ngoài.

Để làm điều này, trước hết hành giả nên thấy sáu loại tổng hợp sắc căn bản[17] trong con mắt của chính mình rồi trong con mắt ở bên ngoài, tức mắt của một chúng sanh khác. Như khi hành giả phân tích sắc, là phân biệt năm mươi bốn loại sắc, nhưng bây giờ phân tích và phân biệt nó cả ở bên trong lẫn bên ngoài[18]. Đối với năm căn còn lại, và các loại sắc còn lại cũng làm y như vậy.

Đến đây, sau khi hành giả đã phân biệt được sắc một cách hoàn toàn, hành giả sẽ tiếp tục phân biệt danh bên trong và bên ngoài.

Hành giả phân biệt danh bên trong bằng cách khởi sự lại với ý – môn, và rồi các tiến trình ngũ môn, phân biệt tất cả các tâm hành (danh pháp) thiện và bất thiện của chúng.

Để làm điều này ở bên ngoài, hành giả cũng làm như đã phân biệt ở bên trong vậy, nhưng phân biệt nhãn môn và bhavaga (ý môn) của các chúng sanh khác chung chung. Rồi, khi màu của một nhóm các tổng hợp sắc xuất hiện ở cả hai môn, thì cũng phân biệt tiến trình ngũ môn khởi lên ở đây, và sau đó nhiều tiến trình ý môn khởi lên, tất cả có cùng một đối tượng.

Hành giả nên làm đi làm lại như vậy nhiều lần, lúc bên trong lúc bên ngoài, và cũng làm vậy đối với mỗi trong bốn môn khác (nhĩ, tỷ, thiệt, và thân môn), cho đến khi hành giả cảm thấy thỏa mãn. Trường hợp hành giả có đắc thiền (jhāna), (nếu có thể) hành giả cũng nên phân biệt các tiến trình ý môn thiền ở bên ngoài. Tiến trình ý môn ấy có thể là ở nơi một thiền giả khác, mặc dù định của bậc thiền hiện nay rất hiếm có trong nhân giới. Nhưng hành giả sẽ dễ dàng thấy những chúng sanh đang nhập thiền nơi các cõi chư thiên và phạm thiên.

Theo cùng một phương thức như trước, hành giả nên dần dần mở rộng tầm phân biệt của mình cho đến khi có thể thấy sắc ở khắp vũ trụ vô biên. Rồi hành giả nên phân biệt danh và sắc cùng nhau ở khắp vũ trụ vô biên.

Cuối cùng, hành giả xác định tất cả danh và sắc đó với trí tuệ để thấy không có chúng sinh, không có đàn ông, đàn bà, mà chỉ có danh và sắc ở khắp vũ trụ vô biên này. Như vậy là đã kết luận việc phân biệt danh (nāma kammaṭṭhāna).

Sau khi đạt đến giai đoạn này trong tu tập thiền của hành giả, tức là sau hành giả đã phát triển được định và dùng nó để phân biệt hai mươi tám loại sắc [19], cũng như tất cả năm mươi ba loại danh ở khắp vũ trụ vô biên [20]. Hành giả đã hoàn tất tuệ minh sát thứ nhất – Danh-sắc Phân Tích Tuệ (nāma-rūpa pariccheda ñāa)

Bài giảng kế tiếp của chúng tôi sẽ là về giai đoạn minh sát kế tiếp: phân biệt Duyên Khởi (paiccasam uppāda).

BẢNG 5. NGŨ MÔN LỘ TRÌNH TÂM (xem cuối trang)

BẢNG 6. Ý MÔN LỘ TRÌNH TÂM (xem cuối trang).

*

HỎI ĐÁP 5

Hỏi 5.1: Tám thiền chứng (samā patti)[21] có thể dùng làm phương tiện để đạt đến Danh Sắc Phân Tích Trí (nāma-rūpa pariccheda ñāa), và để thấy ra sự sanh diệt vi tế của chúng, nhờ vậy mà trở nên nhàm chán và đắc Đạo Trí (tuệ) – maggañāa. Ngoài lợi ích này ra, còn những lợi ích nào khác của tám thiền chứng?

Đáp 5.1: Có năm lợi ích của thiền định.[22]

1) Lợi ích thứ nhất của thiền định (jhāna concentration) là hiện tại lạc trú (diṭṭhadhamma sukha vihāra) tức là thọ hưởng hạnh phúc của thiền ngay trong kiếp hiện tại. Điều này muốn nói đến các vị A-la-hán. Mặc dù các vị A-la-hán thuần quán (vipassanaà) đương nhiên có các thiền siêu thế (lokuttāra jhanā), song họ vẫn muốn tu tập các thiền hiệp thế (lokiya jhanā) vì muốn thọ hưởng lạc trú của thiền này. Bởi lẽ họ là các bậc A-la-hán, với các phiền não đã được loại trừ bằng đạo tuệ (điều này cũng có nghĩa là các triền cái của họ đã được đoạn trừ), nên việc tu tập thiền đối với họ rất dễ. Lý do khác nữa để giải thích tại sao họ lại thường phát triển thiền (định) là vì muốn chứng diệt (nirodhānisamsa – diệt thọ tưởng định), một định chứng đòi hỏi phải có sự tinh thông tám thiền chứng.

Phận sự của một vị tỳ khưu là: học kinh điển (pariyatti: pháp học), hành thiền minh sát (patipatti), và đắc bốn đạo, bốn quả (paivedha). Đó là những gì các vị A-la-hán đã làm, vì thế không còn việc gì phải làm nữa đối với họ. Họ hành thiền định không vì lý do gì khác hơn là để hưởng thiền lạc (jhānasukha) trong kiếp hiện tại này.

2) Lợi ích thứ hai của thiền định là lợi ích trong việc minh sát (vipassanānisasa): thiền định là một hỗ trợ cho minh sát trí, vì với jhāna (bậc thiền) hành giả có thể thấy danh-sắc chân đế và các nhân của chúng một cách rõ ràng, đồng thời có thể phân biệt tính chất vô thường, khổ, và vô ngã của chúng (dễ dàng hơn tâm bình thường).

Khi một hành giả đã hành minh sát thấu đáo, đặc biệt là lên đến Đạo Tuệ (magga ñāa) và Quả Tuệ (phalañāa), hoặc Hành xả tuệ (sakhārupekkhā ñāa), thì các bậc thiền (jhāna) thường rất vững. Các bậc thiền này làm cho minh sát trí trở nên rõ ràng, trong sáng, mạnh mẽ và đầy năng lực hơn. Minh sát trí mạnh mẽ và đầy năng lực ấy, ngược lại cũng bảo vệ cho jhānas khỏi rơi xuống (bậc thấp).

Hơn nữa, khi hành giả hành minh sát trong một thời gian lâu dài, mệt mỏi có thể phát sinh. Lúc ấy hành giả nên nhập thiền một lúc cho tâm được nghỉ ngơi. Lấy lại sức khỏe xong hành giả có thể chuyển sang minh sát trở lại. Như vậy, mỗi lúc mệt mỏi xảy ra hành giả lại có thể an nghỉ trong bậc thiền của mình.[23]

Thế nên, nhờ định mà minh sát được rõ ràng trong sáng, mạnh mẽ, đầy năng lực và khéo bảo vệ. Đáp lại, minh sát hủy diệt các phiền não ngăn chặn tâm định, và giữ cho nó vững chắc. Samātha (thiền chỉ) bảo vệ thiền quán và ngược lại là thế.

Vả lại, định của bát thiền không chỉ là một hỗ trợ cho việc phân biệt danh-sắc và các nhân của chúng thôi, mà vì tám thiền chứng ấy tự thân chúng còn là “danh”, và được kể vào việc phân biệt danh.[24] Nếu một hành giả đã phân biệt được danh-sắc và các nhân của chúng (kể cả tám thiền chứng) là vô thường, khổ, và vô ngã, lên đến hành xả trí (sakhārupekkha ñāa), về sau vị ấy có thể duy trì việc phân biệt của mình đối với các hành (danh pháp) của bậc thiền đó chỉ với một trong tám thiền chứng là đủ. Đây là liên kết Chỉ-Quán với nhau (yuganaddha), giống như hai con bò cùng kéo một chiếc xe vậy. Đó là một sự hỗ trợ khác cho việc chứng Đạo, Quả, và Niết-bàn.

3) Lợi ích thứ ba của thiền định là các năng lực thần thông (abhiññānisasa): nếu một hành giả muốn làm chủ các thần thông hiệp thế, như túc mạng thông (pubbenivāsānussati abhiññā), thiên nhãn thông (dibba – cakkhu), thiên nhĩ thông (dibba – sota), tha tâm thông (paracitta vijānama), biến hoá thông (iddhividha), bay trong hư không, đi dưới nước, v.v… hành giả phải tu tập mười kasiṇa và tám thiền chứng theo mười bốn cách.[25]

4) Lợi ích thứ tư của thiền định là cái chúng ta gọi là “một sanh hữu đặc biệt” (bhavavisesāvahānisasa). Đó là, nếu hành giả muốn tái sanh vào một cõi phạm thiên nào đó sau khi chết, hành giả phải tu tập định, như mười kasiṇa, niệm hơi thở, thiền tâm từ. Nhưng để được chắc chắn sinh vào cõi phạm thiên ấy thì thiền (jhāna) phải được duy trì cho đến giây phút chết.

5) Lợi ích thứ năm của thiền định là chứng diệt (nirodhānisasa): sự chứng diệt (tận định) là sự diệt tạm thời của dòng tâm thức (citta), cùng với các tâm sở và sắc chất do tam sanh (cittaja rūpa). “Tạm thời” có nghĩa là chỉ từ một cho tới bảy ngày, tùy thuộc vào quyết định trước của hành giả (adhiṭṭhāna)

Chỉ các vị bất lai (anāgāmi) và A-la-hán mới có thể chứng diệt. Đối với các vị A-la-hán, ngoài lúc ngủ, và ngoài lúc tác ý đến các khái niệm, còn ra, họ chẳng bao giờ ngừng thấy sự sanh – diệt hoặc chỉ sự diệt của danh-sắc và các nhân của chúng, tình trạng này kéo dài suốt ngày lẫn đêm và năm này qua tháng nọ.[26] Đôi khi họ cảm thấy “chán” và chỉ muốn không phải thấy các hiện tượng hay “pháp diệt” (bhanga dhamma) ấy nữa. Nhưng, vì thọ mạng của họ chưa hết, tức là vẫn chưa đến thời để nhập vô dư Niết-bàn – Parirbbāna – của họ. Vì thế, để chấm dứt việc thấy các pháp diệt đó, họ nhập diệt tận định.

Vì sao các vị A-la-hán không bao giờ ngừng thấy các hiện tượng ấy? Bởi vì, với A-la-hán thánh quả, các ngài đã đoạn diệt các triền cái đối nghịch với các thiền chi, và do đó đã có định. Tâm định thấy pháp chân đế (paramattha dhamma) như chúng thực sự là, vì thế nó luôn luôn thấy danh sắc chân đế như chúng thực sự là, đó chính là thấy “pháp diệt” (bhaga dhamma). Khi một vị nhập diệt tận định, giả sử trong bảy ngày, thì bảy ngày ấy vị này không thấy các pháp diệt nữa, bởi vì (sự chứng diệt kéo dài bao lâu) tâm và các tâm sở lẽ ra sẽ thấy các hiện tượng ấy đã dừng lại rồi (nên không thấy nữa vậy).

Mặc dù các vị A-la-hán có thể trú trong Niết-bàn chứng (A-la-hán thánh quả định), song họ vẫn thích trú trong diệt (tận định) hơn, vì dù rằng thánh quả định lấy vô vi giới hay Niết-bàn làm đối tượng, ở đó vẫn còn tâm hành thuộc cảm thọ. Còn trong Diệt tận định, hành duy nhất còn lại là sắc hành (sắc pháp) (material formation) thuộc sắc do nghiệp, thời tiết, và vật thực sanh, không có sắc do tâm sanh, và cũng không có tâm.

Muốn nhập diệt tận định, hành giả phải thiết lập sơ thiền, xuất khỏi thiền ấy và phân biệt các pháp sơ thiền này là vô thường, khổ, hoặc vô ngã. Hành giả cứ tuần tự làm như vậy cho đến thức vô biên xứ (viññāñancāyatana), thiền vô sắc thứ hai. Rồi hành giả phải nhập “vô sở hữu xứ”, thiền vô sắc thứ ba (ākiñcaññāyatana jhāna), xuất khỏi thiền ấy và thực hiện bốn sự quyết định.

1. Suy xét xem mức thọ mạng của mình (có còn đủ bảy ngày không), rồi trong đó mới quyết định thời hạn chứng diệt (tận định), tối đa là bảy ngày, cuối thời hạn đó hành giả sẽ tự động xuất thiền.

2. Nếu đức Phật cần đến, hành giả sẽ tự động xuất, trước khi có một vị tỳ khưu đến gọi.

3. Nếu Tăng chúng cần đến, hành giả sẽ tự động xuất, trước khi có một vị tỳ khưu đến gọi.

4. Bốn món vật dụng của hành giả không bị tiêu hoại bởi lửa cháy, nước trôi, chuột gặm, mối xông, v.v…

Sau đó hành giả nhập phi tưởng phi phi tưởng xứ, bậc thiền vô sắc thứ tư (nevasaññā nāsaññāyatana jhāna). Chỉ sau một hoặc hai sát – na tâm trong thiền chứng ấy, hành giả liền nhập diệt tận định trong thời hạn đã định, chẳng hạn như bảy ngày. Hành giả không thấy bất cứ điều gì trong khi chứng diệt, vì tất cả tâm và tâm sở đã dừng lại.[27]

Hỏi 5.2: Dùng lý thuyết để nhận thức vô thường, khổ, và vô ngã, hay dùng định để phân biệt các pháp chân đế (paramattha dhamma), cách nào được xem là dễ nhất và nhanh nhất để chứng Niết-bàn?

Đáp 5.2: Gì là vô thường? Vô thừơng là năm uẩn [28]. Định nghĩa này đã được đề cập trong nhiều bản chú giải. Nếu một hành giả thấy năm uẩn một cách rõ ràng, họ có thể thấy vô thường, khổ, và vô ngã: không có gì khó hiểu cả. Nhưng không thấy năm uẩn, họ có thể thấy vô thường, khổ, và vô ngã như thế nào? Nếu họ cố gắng làm như vậy mà không thấy năm uẩn, thì minh sát (vipassanā) của họ sẽ chỉ là minh sát đọc thuộc lòng chứ không phải minh sát thực thụ. Chỉ có minh sát thực thụ mới làm phát sanh các Đạo-Quả Tuệ.

Thế nào là năm uẩn? Đó là sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Sắc uẩn tức là hai mươi tám loại sắc (rūpa). Thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn là năm mươi hai tâm sở (cetasika). Thức uẩn là tám mươi chín loại tâm (citta). Hai mươi tám loại sắc là những gì được gọi là sắc, còn năm mươi tâm sở và tám mươi chín loại tâm là những gì được gọi là Danh. Vì thế, năm uẩn và danh-sắc là một, không khác.

Tất cả những thứ ấy là danh-sắc chân đế. Nếu một hành giả thấy được danh-sắc chân đế này, họ có thể hành minh sát và thấy tính chất vô thường, khổ, và vô ngã của những pháp danh-sắc ấy. Còn nếu không thể thấy danh-sắc chân đế, họ hành minh sát như thế nào, vì danh sắc và các nhân của chúng là những đối tượng cần thiết của Minh sát Trí kia mà? Đây là minh sát thực thụ. Chỉ có minh sát thực sự như vậy mới tạo ra các Đạo và Quả Tuệ mà thôi.

Trong “Kinh Đại Niệm Xứ” [29] đức Phật dạy rằng chỉ có một con đường độc nhất (ekāyana) để đạt đến Niết-bàn, không có con đường nào khác. Con đường ấy là gì? Đức Phật nói phải hành thiền định trước, vì một cái tâm an định có thể làm phát sinh cái thấy Danh-sắc tối hậu (chân đế) và các nhân của chúng. Lại nữa, một cái tâm an định có thể làm phát sinh cái thấy tính chất vô thường, khổ, và vô ngã của danh sắc chân đế và các nhân của chúng. Nhưng chúng ta không thể nói đâu là con đường nhanh nhất để đạt đến Niết-bàn được, vì điều này tùy thuộc vào các balamật của một người.

Chẳng hạn, tôn giả Xá Lợi Phất cần nỗ lực khoảng hai tuần để đạt đến thánh đạo và thánh quảA-la-hán, trong khi tôn giả Mục Kiền Liên chỉ cần có bảy ngày. Còn tôn giả Bàhiya Daruciriya chỉ cần nghe một thời pháp rất ngắn, đó là “Diṭṭhe diṭṭhamatta” (Trong cái thấy chỉ có cái thấy)[30]. Nói chung, tốc độ mà mỗi vị trong họ đạt đến A-la-hán thánh quả tùy thuộc vào các balamật riêng của họ.

Hai vị tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đã tu tập các balamật của họ trong một Atăngkỳ (asakheyya) và một trăm ngàn đại kiếp (kappa), còn tôn giả Bāhiya Daruciriya thì vào khoảng một trăm ngàn đại kiếp. Nhưng A-la-hán thánh đạo của hai vị Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên lại kết hợp với trí giác ngộ của một bậc thượng thủ thanh văn (aggasāvaka bodhi ñāa), trong khi A-la-hán thánh đạo của tôn giả Bàhiya chỉ kết hợp với trí giác ngộ của một bậc đại thinh văn (Mahāsavaka bodhi ñāa). Như vậy, trí giác ngộ của một bậc thượng thủ thanh văn cao hơn trí giác ngộ của một bậc đại thanh văn là điều tất nhiên.[31]

Vì chỉ có một con đường độc nhất để đạt đến Niết-bàn, nên các vị thánh đệ tử này không phải đạt đến A-la-hán thánh quả do một ước nguyện, mà họ đạt đến được là nhờ sự nỗ lực trong kiếp hiện tại cộng với nỗ lực trong tiền kiếp, tức các balamật của họ hỗ trợ.

Hỏi 5.3: Vòng sanh tử luân hồi (sasāra) thì không khởi đầu hoặc chấm dứt. Các chúng sinh cũng nhiều không tính kể, như vậy những người đã từng là mẹ của chúng ta cũng hằng hà sa số. Làm thế nào chúng ta có thể tu tập tâm từ bằng cách quán rằng tất cả chúng sanh đã từng là mẹ của chúng ta được? Liệu chúng ta có thể đắc thiền tâm từ (mettā jhāna) bằng cách quán tất cả chúng sinh đã từng là mẹ của chúng ta không?

Đáp 5.3: Thiền tâm từ không liên quan đến quá khứ và vị lai. Nó chỉ liên quan đến hiện tại. Chỉ có đối tượng hiện tại mới có thể tạo ra thiền tâm từ (mettā jhāna), chứ không phải một đối tượng nào đó ở quá khứ và vị lai; chúng ta không thể đắc thiền bằng cách rải tâm từ đến người chết. Trong vòng luân hồi bất tận này có thể không một người nào chưa từng là cha hoặc mẹ của chúng ta thực đấy, nhưng thiền tâm từ không dính líu gì đến vòng luân hồi bất tận ấy. Cho nên không nhất thiết phải suy tư rằng người này đã từng là mẹ ta, người này là cha ta, v.v…

Trong “Từ Bi Kinh” (Kararūyamettā Sutta) đức Phật dạy:

Mātā yathā niya puttamāyusā ekaputtamanurakkhe;
Evam pi sabbabhūtesu, mānasa bhāvaye aparimāna.

Nghĩa là: Ví như một người mẹ với đứa con độc nhất chắc chắn sẽ hy sinh cả cuộc đời bà cho nó như thế nào, vị tỳ khưu cũng sẽ mở rộng lòng từ đến tất cả chúng sinh như thế ấy.

Đây là hướng dẫn của đức Phật. Song chỉ một mình thái độ của người mẹ thôi thì không thể đưa đến thiền (jhāna). Nếu chúng ta mở rộng lòng từ với ý nghĩa “Cầu mong con người này được an vui và hạnh phúc”, nó sẽ tạo ra thiền.

Hỏi 5.4: (Những câu hỏi sau đây tất cả được giải đáp chung bằng một câu trả lời)

- Trong thời kỳ của đức Phật có một vị bồ tát (bodhisatta) nào không? Nếu có, vị ấy đã đắc đạo hay chỉ là một phàm nhân (puthujjana)?

- Tại sao một bậc thánh (ariya) không thể trở thành một vị bồ tát?

- Một vị thinh văn (sāvaka) có thể chuyển đổi để trở thành một vị bồ tát được không? Nếu không, vì sao không?

- Theo lời dạy của Sayadaw (chỉ ngài Pa-Auk) khi một người có thể đắc Nhập lưu thánh đạo tuệ và Nhập lưu thánh quả tuệ (sotāpatti maggañāa) và (sotāpana phalañāa), họ có thể chọn không đắc như vậy được không? Vì ước muốn và phát nguyện hành Bồ tát đạo?

Đáp 5.4: Trước khi đắc một đạo hay quả nào đó, người ta có thay đổi ý định của mình, nhưng sau đó (đã đắc rồi) thì không được nữa. Trong nhiều bài kinh, đức Phật dạy rằng “Đạo” khởi lên theo một quy luật tự nhiên (sammatta niyāma). Quy luật tự nhiên ấy nói rõ:

- Nhập lưu Thánh Đạo tạo ra Nhập lưu Thánh Quả, sau khi đắc vị ấy có thể tiến tới giai đoạn Nhất lai (sakadāgāmi – Tư-đà-hàm, tầng thánh thứ hai), chứ không thể nào thối chuyển xuống địa vị phàm phu được.

- Một vị Nhất lai có thể tiến tới giai đoạn bất lai (A-na-hàm – anāgāmi), chứ không thể thối chuyển xuống địa vị nhập lưu hay phàm phu được.

- Một vị Bất lai có thể tiến tới giai đoạn A-la-hán, chứ không thể chuyển xuống địa vị nhất lai, nhập lưu hay phàm phu được.

- Một vị A-la-hán nhập vô dư Niết-bàn sau khi chết, chứ không thể thối chuyển xuống các tầng thánh thấp hơn, hoặc xuống địa vị phàm phu hay bất kỳ giai đoạn nào khác.

Quả vị A-la-hán là chấm dứt. Đây là quy luật tự nhiên. Liên hệ đến A-la-hán thánh quả, đức Phật nhiều lần nói:[32]

Ayamantimā jāti, natthidāni punabbhavoti.
(Đây là đời sống cuối cùng, không còn phải chịu tái sanh nữa.)

Điều này có nghĩa rằng người ta không thể thay đổi ý định của mình, và phát nguyện trở thành một vị bồ tát sau khi đã đắc đạo, quả. Hơn nữa, sau khi đã được một vị Phật hay A-la-hán thọ ký xác định rồi, người ta không thể thay đổi ý định được nữa. Tuy nhiên, một người có thể đã nguyện chờ đợi, và sẽ trở thành một vị A-la-hán vào một thời điểm nào đó trong tương lai, và rồi thay đổi ý định và đắc A-la-hán trong kiếp này, thì được.

Visuddhi-magga (Thanh Tịnh Đạo) có đưa ra một ví dụ về một vị trưởng lão (Mahāthera), tôn giả Mahāsagharakkhita, đã thực hiện điều này[33]. Ngài là một người thành thạo trong tứ niệm xứ, đã hành Chỉ-Quán đến Hành Xả Tuệ, và chưa từng thể hiện một thân hành hoặc khẩu hành nào mà không chánh niệm. Nói chung, ngài đã tu tập các balamật thuộc Chỉ-Quán đủ để có thể đắc quả vị A-la-hán nếu muốn. Nhưng, vì muốn gặp đức Phật Di Lặc (Arimetteyya Buddha), ngài đã quyết định chờ, và chỉ trở thành bậc A-la-hán trong giáo pháp ấy (của đức Di Lặc). Theo quy luật tự nhiên chúng ta vừa đề cập, nếu lúc này ngài đắc A-la-hán thì chắc chắn sẽ không thể nào gặp đức Phật Di Lặc.

Tuy nhiên, vào lúc sắp chết, một số đông người đã tụ tập, vì họ nghĩ ngài là một vị A-la-hán, và rằng ngài sắp nhập vô dư Niết-bàn (Parinibibbāna), mặc dù trong thực tế ngài vẫn là một phàm nhân. Khi người đệ tử của ngài nói cho ngài biết là có rất nhiều người đã tụ tập, vì ngỡ rằng ngài sắp bát Niết-bàn, thì trưởng lão nói: “Ôi, ta đã mong được thấy đức Phật Di Lặc trong tương lai, nhưng nếu một hội chúng lớn như thế này tụ tập, thì để ta thiền thử”, và ngài hành minh sát. Lúc này ngài đã thay đổi ý định, hơn nữa trong những kiếp quá khứ ngài chưa nhận được một lời thọ ký nào cả, nên chẳng mấy chốc ngài đắc A-la-hán. Trong thời đức Phật (Thích Ca), không đề cập đến một trường hợp thọ ký xác định cho một vị bồ tát nào cả ngoại trừ đức bồ tát Di Lặc, lúc đó là một vị tỳ khưu tên Ajita. Tam tạng (Tipitaka) cũng không nói đến việc khi nào thì vị Phật sau đức Phật Di Lặc sẽ xuất hiện, nên chúng ta không thể nói được là trong thời kỳ đức Phật có bao nhiêu vị bồ tát.

Hỏi 5.5: Liệu có thể hành giải thoát đạo (vimutti magga) và bồ tát đạo (con đường trở thành Phật) đồng thời được không? Nếu được, pháp môn ấy là gì?

Đáp 5.5: Giải thoát (vimutti) là thoát khỏi những phiền não hay vòng luân hồi (samsāra). Khi một vị bồ tát thành Phật, họ thoát khỏi vòng luân hồi vào lúc Bát Niết-bàn (Parinibbāna). Nếu hành giả là một vị Thinh văn (sāvaka), cố gắng đắc A-la-hán thánh quả và thành công, hành giả cũng sẽ thoát khỏi vòng luân hồi vào lúc Bát Niết-bàn của mình. Một người không thể vừa thành một vị Phật vừa thành một vị Thinh văn được. Họ phải chọn một trong hai, nhưng cả hai đều thoát khỏi vòng luân hồi khi họ đạt đến quả vị A-la-hán. Con đường để đạt đến A-la-hán thánh đạo cũng đã là đạo lộ giải thoát cuối cùng rồi (vimutti magga) vậy.

Hỏi 5.6: Pháp môn (thiền) này chỉ để giải thoát, hay nó cũng dành cho bồ tát đạo nữa?

Đáp 5.6: Cho cả hai. Trong một bài giảng trước, chúng ta đã đề cập đến việc đức Phật Sakyamuni (Thích Ca Mâu ni) khi còn là bồ tát trong các kiếp quá khứ đã từng làm tỳ khưu chín kiếp. Nếu nhìn lại pháp hành của ngài trong chín kiếp làm tỳ khưu ấy, chúng ta sẽ thấy là gồm tam học: Giới, Định, và Tuệ. Đức bồ tát có thể hành và đắc tám thiền chứng, ngũ thông và minh sát cho đến hành xả tuệ.

Hiện nay hành giả cũng đang tu tập Chỉ-Quán dựa trên giới hạnh. Khi đã thực hành tam học Giới – Định – Tuệ cho đến hành xả tuệ, hành giả có thể chọn một trong hai con đường. Nếu muốn giải thoát, hành giả có thể chọn con đường đi đến Niết-bàn (A-la-hán); còn muốn trở thành một vị bồ tát, hành giả có thể chọn con đường bồ tát: không có vấn đề gì cả.

Hỏi 5.7: Tất cả những thiện nghiệp và ác nghiệp của một vị A-la-hán có nhất thiết phải chín mùi (cho quả) trước khi vị ấy bát Niết-bàn không?

Đáp 5.7: Không phải tất cả. Một số thiện nghiệp hay ác nghiệp nào đó có thể thành thục và cho quả của chúng. Nếu những nghiệp nào không chín mùi chúng sẽ không cho quả, và được gọi là “vô hiệu nghiệp” (ahosi kamma). Chẳng hạn, bất thiện nghiệp của một trong những kiếp quá khứ mà tôn giả Mục Kiền Liên tạo đã cho quả ngay trước khi bát Niết-bàn của ngài. Một trong những tiền kiếp trước, tôn giả đã cố gắng sát hại cha mẹ mù lòa của mình nhưng không thành công. Do ác nghiệp đó, ngài chịu khổ trong địa ngục qua hàng ngàn năm, và khi thoát khỏi địa ngục, ngài còn bị người ta giết trong khoảng hai trăm kiếp nữa. Trong mỗi kiếp bị giết ấy, sọ của ngài đều bị nghiền nát. Thậm chí trong kiếp cuối cùng, từng đốt xương trong thân ngài cũng bị nghiền nát, kế cả xương sọ.

Tại sao vậy? Nghiệp bất thiện đã chín mùi. Trừ phi các thiện nghiệp và bất thiện nghiệp đã chín mùi, còn không chúng sẽ không tạo ra quả báo được. Chúng chỉ là nghiệp (kamma) theo tên gọi mà thôi.

Hỏi 5.8: Sau khi giác ngộ, có phải đức Phật đã nói, “Ban đầu tất cả chúng sinh đều có trí tuệ và những đức khác của Như Lai (Tathāgata) đúng không?

Đáp 5.8: Hiện nay quí vị đều chấp nhận rằng đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thành đạt sự giác ngộ viên mãn. Quí vị nên xét lại xem những đức giải thoát của Như Lai có hiện diện trong mọi chúng sinh hay không, đặc biệt là trong chính quí vị. Quí vị có bất kỳ một đức tính nào của Như Lai hay không?

Hỏi 5.9: Tưởng không (sunnatā) của vị A-la-hán trong ngũ uẩn của chính mình có đồng như tưởng không của ngài nơi các pháp vô tình bên ngoài không?Niết-bàn có đồng như nhập vào không (tánh) không?

Đáp 5.9: Tưởng không trong ngũ uẩn của chính mình và tưởng không trong các pháp vô tình bên ngoài giống nhau.

Niết-bàn được mệnh danh không tánh (sunnatā) là do “đạo”. Khi một hành giả tuệ tri các hành (sankhāna dhamma) là vô ngã, vànếu vào lúc vị ấy thấy Niết-bàn, thời đạo tuệ của vị ấy được gọi là không tánh giải thoát (sunnatā vimokkha). Đạo được gọi là không tánh giải thoát, thì đối tượng của đạo, tức Niết-bàn, cũng được gọi là không tánh. Ở đây không tánh giải thoát có nghĩa là thoát khỏi các phiền não nhờ thấy tính chất vô ngã của các hành.

Hỏi 5.10: Có phải tất cả kinh điển đều do một mình đức Phật dạy không?

Đáp 5.10: Hầu hết các kinh (sutta) trong Tam tạng đều do đức Phật dạy. Chỉ một ít bài kinh được nói là do các vị đệ tử của ngài như tôn giả Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Đại Ca Chiên Diên và Ānanda thuyết. Nhưng các bài kinh do các vị đệ tử thuyết cũng có cùng ý nghĩa như chúng đã được đức Phật dạy. Bằng chứng cho chấy là trong một vài bản kinh ấy đức Phật đã tỏ ý tán thành bằng cách nói lên lời Sādhu (lành thay), như trong kinh “Đại Ca Chiên Diên Nhứt Dạ Hiền Giả” của Trung Bộ chẳng hạn.[34]

Hỏi 5.11: Do chúng ta không thể thấy đức Phật trong lúc nhập định, nếu nhờ năng lực thần thông chúng ta thấy ngài thì chúng ta có thể trao đổi pháp (dhamma) vơi ngài được không?

Đáp 5.11: Không, hành giả không thể làm thế được. Chúng ta biết có một loại thần thông được gọi là “túc mệnh thông” (pubbenivasānussati). Nếu một người có được thần thông này, và gặp một vị Phật trong kiếp quá khứ nào đó của mình, họ có thể thấy sự kiện đó chỉ như một kinh nghiệm quá khứ, chứ không phải là một kinh nghiệm mới. Nếu có trao đổi pháp, thì cũng chỉ là những câu hỏi và câu trả lời cũ, chứ không thể là những câu hỏi và trả lời mới được.

-ooOoo-

[1] Như vậy Danh bao gồm 1 tâm + 52 tâm sở = 53 loại Danh.

[2] Chi tiết về 89 loại tâm, xem ở trên.

[3] Về 4 cảnh giới, xem ghi chú ở trên.

[4] Chi tiết liên quan đến Bhavaga, xem câu trả lời 3.12  và bảng 4 & 5

[5] Xem lại bảng 5

[6] Vấn đề Ý căn bắt tất cả mọi đối tượng, xem phần trích dẫn Kinh “Unnābha Brahmin“  trên

[7] Xem bảng 6.

[8] Đối với các thiền vô sắc, hành giả không nên phân biệt “Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền” vì rất tinh tế.

[9] Xem Vs T1.XVIII “Diṭṭhi Visuddhi Niddesa” D664 (Mô tả về Kiến Tịnh)

[10] MI.10 “Satipatthāna Sutta” (Kinh Niệm Xứ). Theo cách này, vị ấy trú quán tâm kể như tâm bên trong, hoặc vị ấy trú quán tâm kể như tâm bên ngoài. Đây không phải là Tha Tâm thông (ceto – pariya – nāna) mà là năng lực Minh Sát. Vì vậy, thường thì không thể phân biệt danh bên ngoài một cách chi tiết được. Xem lại phần trích dẫn “Aggregates Suttas” trên.

[11] Tiến trình tâm thiền ở đây là tiến trình tâm thiền sắc giới (rūpavacara)

[12] Ba mươi bốn tâm hành trong sơ thiền là tâm thiền và ba mươi ba tâm sở của nó (các chữ in đậm là 5 thiền chi). 1 – Tâm (thức), 2 – Xúc, 3 – Thọ (lạc), 4 – Tưởng, 5 – Tư, 6 – Nhất tâm, 7 – Mạng căn, 8 – Tác ý, 9 – Tầm, 10 – Tứ, 11 – Thắng giải, 12 – Cần, 13 – Hỷ, 14 – Dục, 15 – Tín, 16 – Niệm, 17 – Tàm, 18 – Qúy, 19 – Vô tham, 20 – Vô sân, 21 – Xả trung tánh,, 22 – Tịnh thân, 23 – Tịnh tâm, 24 – Khinh thân, 25 – Khinh tâm, 26 – Nhu thân, 27 – Nhu tâm, 28 – Thích thân, 29 – Thích tâm, 30 – Thuần thân, 31 – Thuần tâm, 32 – Chánh thân, 33 – Chánh tâm, 34 – Tuệ quyền.

[13] Ba cõi: 1 – dục giới (kāmāvacara), gồm nhân giới, thiên giới và khổ giới, 2 – Sắc giới (rūpāvacara) gồm các phạm thiên giới với sắc rất vi tế, 3 – Vô sắc giới (arūpavacara), ơ đây chỉ có danh.

[14] Khi phân biệt sắc, tất cả những loại sắc này cần phải được phân biệt. Trong bài giảng số 4 “Làm thế nào để phân biệt sắc” đã giải thích rõ điều này. Đồi với các sắc thực và sắc không thực, xem lại bảng 1

[15] Chi tiết, xem bảng 5 & 6.

[16] Cần phải hiểu rằng cho đến lúc này các loại tâm siêu thế vẫn chưa đạt đến.

[17] Sáu loại tổng hợp sắc căn bản: 1- các tổng hợp sắc có mắt là thứ mười, 2- các tổng hợp sắc có thân là thứ mười, 3- các tổng hợp sắc có tánh là thứ mười, 4- các tổng hợp tám do tâm sanh, 5- các tổng hợp tám do thời tiết sanh, và 6- các tổng hợp sắc do vật thực sanh – xem lại ở trên.

[18] Mặc dù trong thực tế hành giả đã phân biệt sáu mươi ba loại sắc rồi, song ở đây hành giả chỉ phân biệt năm mươi bốn loại. Tại sao hành giả phải làm điều này đã được giải thích chi tiết ở trên.

[19] Về 28 loại sắc, xem lại trên

[20] Về 53 loại danh, xem ghi chú cuối trang ở trên

[21] Bốn thiền sắc giới và thiền vô sắc.

[22] Vis. XI “Samādhi Niddesa” B.362 (Mô tả Định I. 120)

[23] Chi tiết, xem lại trên

[24] Xem lạiở trên

[25] Chi tiết, xem Vs. XII, “Iddhividha Niddesa

[26] Xem sau, để biết thêm chi tiết về “Sanh Diệt Trí”

[27] Vs. XXIII “Nirodhasamāpatti katha” B879 (Thích giải Diệt tận định) N43

[28] Aniccanti khandhapancakam … pancakkhandhā aniccati (Vbh.A.II.I “Suttantabhājaiya vannanā)

[29] D.II.9 “Mahāsatipatthāna Sutta

[30] U.I.10 “Bāhiya Sutta

[31] Về bốn loại người đạt đến Niết-bàn, xem lại ở trên; đối với bốn loại A-la-hán thánh đạo, xem câu trả lời 4.7

[32] D.III.6 “Pasādika Sutta

[33] Vs.I “Pathamasita pancakam” B20

[34] M.III. 133 “Mahākaccāyana Bhaddekaratta Sutta

-ooOoo-

- Ngũ môn lộ trình của nhãn môn (nhĩ, tỷ, thiệt và thân môn) có cùng cấu trúc, với đối tượng tương ứng của chúng. Các thành phần và trình tự của tiến trình nhận thức ngũ môn (ngũ môn lộ trình) là như nhau đối với tất cả và hợp theo qui luật tự nhiên của tâm (Citta-niyama)

- Thời gian (tồn tại) của một tâm gọi là sát na tâm (citta kkhaa). Tuổi thọ của sắc bằng mười bảy sát na tâm.

- Mỗi tâm (citta) có một giai đoạn sanh (uppda) [↓], một giai đoạn trú (hiti) [| ], và một giai đoạn diệt (bhaga) [↑]

- Đối tượng của tâm hữu phần y hệt như nhau suốt kiếp sống. Nó chính là đối tượng của tốc hành tâm cuối cùng thuộc kiếp trước.

- Giữa mỗi tiến trình tâm thường có một số bất định các tâm hử phần khởi lên, tùy theo người. Đức Phật có rất ít tâm hử phần giữa mỗi tiến trình tâm.

Tiến trình nhận thức Ý môn (Ý môn lộ trình tâm) có thể khởi lên với một trong năm tiến trình ngũ môn đi trước; chúng cũng có thể khởi lên với tiến trình ý môn đi trước. Các thành phần và trình tự của tiến trình nhận thức là như nhau cho tất cả (lộ ý): theo quy luật tự nhiên của tâm (citta niyama)

Mỗi tâm có 3 giai đoạn sanh [↓], trú [|], và diệt [↑]

Đối tượng của hữu phần hoàn toàn giống nhau trong suốt kiếp sống. Đó là đối tượng của tốc hành tâm cuối cùng thuộc kiếp trước.

Giữa mỗi tiến trình nhận thức có một số tâm hữu phần bất định khởi lên, tùy người.

Một vị Phật có rất ít tâm hữu phần giữa mỗi lộ tâm.

Cái “Biết” của mỗi tiến trình nhận thức được thực hiện bởi bảy tốc hành tâm.

Sau tiến trình nhận thức đầu tiên (tiến trình nhận thức ngũ môn), thì một chuỗi tiến trình Ý môn sẽ theo sau. Toàn bộ phương thức diễn tiến như sau:

1.  Tiến trình nhận thức ngũ môn ‘đón lấy’ đối tượng; trong trường hợp con mắt và cảnh sắc, nó chỉ nhận ra rằng có sắc vậy thôi.

2.  Tiến trình Ý môn nhận thức màu sắc ấy, so sánh màu sắc hiện tại với một màu nào đó ở quá khứ; biết được màu sắc quá khứ.

3.  Tiến trình Ý môn biết được màu đó là gì rồi; biết tên của màu ấy.

4.  Tiến trình Ý môn biết ‘ý nghĩa’ của đối tượng; thấy toàn bộ hình ảnh, khái niệm, được quyết định bởi kinh nghiệm quá khứ (do ‘tưởng’-saññā)

5.  Tiến trình Ý môn đánh giá và cảm nhận. Đây mới là sự mở đầu của nhận thức thực thụ, khi vọng tưởng (papañca) xảy ra thì nghiệp (kamma) được thực hiện, như chúng ta tưởng tri đối tượng là thường, lạc, ngã v.v…

(Tiến trình nhận thức Ý môn thuộc Minh Sát (Vipassana) thấy các đối tượng là vô thường, khổ, vô ngã…

6. Với cùng đối tượng này, sẽ khởi lên vô số tiến trình tâm (hành – sakhara) để tăng cường nhận thức.

Chính từ tiến trình nhận thức thứ năm trở đi mới có cái biết về sự thực chế định (khái niệm): ‘đàn ông’, ‘đàn bà’, ‘bình’, ‘chậu’, ‘vàng’, ‘bạc’ v.v… Và cũng từ tiến trình đó trở đi các trạng thái tâm thiện khởi lên từ như lý tác ý, với lòng kính trọng bậc thầy của mình, ảnh tượng Phật hay vị Tỳ khưu chẳng hạn; hoặc các trạng thái tâm bất thiện khởi lên từ phi lý tác ý, với sự luyến ái chồng, vợ, con cái, tài sản… chẳng hạn. Tiến trình sẽ tiếp tục cho đến khi tâm hướng đến một đối tượng mới.

-ooOoo-

BÀI PHÁP THOẠI 6

Làm thế nào để thấy những mắc xích của Duyên Khởi

Trong bài giảng vừa rồi, chúng ta đã bàn về cách phân biệt danh (nāma) và trong bài trước, chúng ta cũng đã bàn về cách phân biệt sắc (rūpa). Nếu hành giả có thể phân biệt được danh và sắc theo cách đã mô tả, hành giả cũng sẽ phân biệt được các nhân của chúng. Điều này có nghĩa là phân biệt được duyên khởi của các pháp (paticcasammuppāda). Duyên khởi ở đây muốn nói về cách các nhân và quả đã hoạt động như thế nào qua ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai.

Đức Phật dạy bốn cách để phân biệt duyên khởi tùy theo căn tánh của người nghe, và còn có một pháp thứ năm nữa do Tôn giả Xá Lợi Phất giảng được ghi lại trong Vô Ngại Giải Đạo (Patisambhidāmagga)[1]. Muốn giải thích những phương pháp này một cách chi tiết sẽ phải mất một khoảng thời gian, vì thế chúng ta sẽ chỉ tập trung vào hai phương pháp mà tại thiền viện Pa-Auk tôi thường dạy cho hầu hết các thiền sinh. Đó là pháp môn thứ năm của Tôn giả Xá Lợi Phất và pháp môn thứ nhất do đức Phật dạy trong “Kinh Đại Duyên” thuộc Trường Bộ và “Phẩm Nhân Duyên” trong Tương Ưng Bộ.[2]

Cả hai phương pháp đều liên quan đến việc phân biệt năm uẩn hiện tại, quá khứ và vị lai[3]. Phân biệt uẩn nào trong đó là nhân và uẩn nào là quả. Khi hành giả có thể làm được điều này rồi, hành giả cũng có thể học để biết cách phân biệt duyên khởi theo những phương pháp khác mà kinh và chú giải dạy.

Phương pháp thứ năm

Tam Luân Trong Duyên Khởi

Duyên khởi hay Thập Nhị Nhân Duyên (paticcasammuppāda) gồm mười hai chi phần.[4]

Mười hai chi phần này có thể nói là gồm ba luân (vòng) – hai vòng thuộc về nhân (năm nhân) và một vòng thuộc quả (năm quả).[5]

1. Phiền não luân (Kilesavaṭṭa)

- Vô minh (avijjā)
- Ái (ta)
- Thủ (upādāna)

2. Nghiệp luân (Kammavaṭṭa)

- Hành (sakhāra)
- Nghiệp hữu (kammabhava)

3. Quả luân (Vipākavata)

- Thức (viññāa)
- Danh Sắc (nāma rūpa)
- Lục nhập (salāyatana)
- Xúc (phassa)
- Thọ (vedanā)

Phiền não luân là nhân cho nghiệp luân, mà nghiệp luân này là nhân cho quả luân, nói cách khác, đó là sanh, già, chết (các chi phần thứ 11 và 12). Việc phân biệt duyên khởi đòi hỏi phải thấy được trình tự xoay của ba luân (vòng) này, và khởi đầu với sự phân biệt quá khứ.

Hành Giả Phân Biệt Quá Khứ Của Mình Như Thế Nào?

Để phân biệt quá khứ, hành giả bắt đầu bằng việc cúng dường hương hoa hoặc đèn nến tại một ngôi tháp (thờ Xá lợi), hoặc ảnh tượng đức Phật. Hành giả nên nguyện được tái sanh theo ý muốn, như nguyện trở thành một tỳ khưu, một tu nữ, một người nam, một người nữ hay chư thiên chẳng hạn.

Sau đó, hành giả sẽ đi ngồi thiền, phát triển định và lần lượt phân biệt danh-sắc bên trong cũng như bên ngoài. Đây là điều cần thiết bởi vì nếu hành giả không thể phân biệt được danh-sắc bên ngoài thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc phân biệt danh-sắc quá khứ. Lý do là vì phân biệt danh-sắc quá khứ cũng tương tự như phân biệt danh-sắc bên ngoài vậy.

Kế tiếp, hành giả phải phân biệt danh-sắc xuất hiện khi đang thực hiện việc cúng dường tại tháp thờ Xá lợi hay hình tượng Phật, như thể đó là các đối tượng bên ngoài. Khi làm điều này, hình ảnh của hành giả lúc đang cúng dường sẽ xuất hiện, hành giả phải phân biệt tứ đại trong hình ảnh đó.

Khi hình ảnh này phân tán ra thành những tổng hợp sắc (rūpa kalāpa), hành giả phải phân biệt tất cả sắc pháp thuộc sáu môn, đặc biệt là 54 sắc trong tâm – căn.[6] Lúc ấy, hành giả có thể sẽ phân biệt được tâm hữu phần và nhiều tiến trình ý môn khởi lên ở giữa. Hành giả nên nhìn vào các tiến trình ý môn ấy, quán sát cho đến khi thấy ra tiến trình ý môn thuộc phiền não luân với hai mươi tâm hành trong mỗi sát-na tâm tốc hành và tiến trình ý môn thuộc nghiệp luân với ba mươi bốn tâm hành trong mỗi sát-na tâm tốc hành.

Ở đây, chúng ta có thể minh họa với một ví dụ thực tiễn, trường hợp đang cúng dường hương, hoa, đèn, nến trước một tượng Phật và phát nguyện được tái sanh thành một vị tỳ khưu.

Trong trường hợp này:

- Vô minh là ảo tưởng cho rằng “một vị tỳ khưu” thực sự hiện hữu.
- Tham ái là lòng ao ước và mong mỏi đời sống của một vị tỳ khưu.
- Thủ là sự chấp trước vào đời sống đó.

Ba chi phần vô minh, ái, thủ này được tìm thấy trong các tâm tạo thành vòng phiền não (kilesavaṭṭa).

Nếu hành giả nguyện được sanh làm người nữ:

- Vô minh là ảo tưởng cho rằng “người nữ” thực sự hiện hữu.
- Ái là lòng mong ước và khát khao cuộc sống làm người nữ.
- Thủ là sự chấp trước vào đời sống người nữ ấy.

Trong các ví dụ trên, hành (sakhāra) là tư thiện[7] (kusalacetanā) về sự cúng dường, và nghiệp (kamma) là nghiệp lực của chúng. Cả hai được tìm thấy trong các tâm tạo nên vòng nghiệp luân (kammavaṭṭa) của duyên khởi.

Như vậy, khi hành giả có thể phân biệt được danh-sắc của nghiệp luân và phiền não luân thuộc quá khứ gần rồi, hành giả nên đi ngược trở về quá khứ xa hơn, tức là về một điểm thời gian nào đó trước lúc cúng dường và phân biệt danh-sắc giống như trên đã làm. Tiếp tục đi ngược xa thêm chút nữa và lập lại tiến trình. Theo cách như vậy, hành giả phân biệt danh-sắc của một ngày trước, một tuần trước, một tháng trước, một năm trước, hai năm trước, ba năm trước, v.v… Cuối cùng, có thể hành giả sẽ phân biệt ngay trở lại thời điểm của kiết sanh thức (paisandhi citta) phát sanh vào lúc thụ thai trong kiếp hiện tại của hành giả.[8]

Khi đi tìm các nhân của sự thụ thai, hành giả phải đi ngược xa hơn nữa để thấy, hoặc là danh-sắc thuộc thời cận tử trong kiếp trước của hành giả, hoặc đối tượng của tốc hành tâm cận tử (maraā sanna javana citta).

Có ba đối tượng khả dĩ cho tốc hành tâm cận tử là:

1. Nghiệp (kamma). Có những ý nghĩ tạo ra một hành động thiện hoặc ác đặc biệt trong quá khứ, như bố thí hoặc sát sanh chẳng hạn.

2. Nghiệp tướng (kammanimitta). Ở đây có thể là một ngôi tháp, một vị tỳ khưu, hương hoa hoặc một đối tượng cúng dường.

3. Thú tướng (gatinimitta). Nơi hành giả phải thọ sanh. Đối với trường hợp sanh lại làm người thì đó là bào thai của người mẹ tương lai và thường có màu giống như một tấm thảm đỏ.

Đối tượng xuất hiện do nghiệp lực tạo ra kiết sanh thức (paisandhicitta)[9]. Khi hành giả phân biệt điều này, có thể hành giả cũng sẽ phân biệt được các hành và nghiệp vốn tạo ra các uẩn thuộc về quả (vipāka) của kiếp này và vô minh, ái, thủ kiếp trước[10]. Sau đó, hành giả nên phân biệt các tâm hành (danh pháp) khác của vòng nghiệp luân và phiền não luân.

Những Ví Dụ

Một Nữ Hành Giả Phân Biệt Điều Gì?

Để làm cho vấn đề sáng tỏ hơn, chúng tôi đưa ra ví dụ về những gì một nữ hành giả có thể phân biệt. Khi nữ hành giả này phân biệt danh-sắc vào lúc cận tử, cô ta thấy được nghiệp của một nữ nhân đang cúng dường trái cây đến một vị tỳ khưu. Bắt đầu với tứ đại, cô xem xét thêm nữa danh-sắc của nữ nhân đó. Cô thấy rằng nữ nhân ấy là một thôn nữ rất nghèo và thất học. Người này đã suy nghĩ về sự đau khổ của mình và thực hiện việc cúng dường đến một vị tỳ khưu với ước nguyện được tái sanh làm một người nữ có học trong một thành phố lớn.

Trong trường hợp này:

- Vô minh (avijjā) là ảo tưởng cho rằng một nữ nhân có học thức ở thành phố lớn thực sự hiện hữu.
- Mong ước khát khao kiếp sống làm người nữ học thức là ái (ta).
- Sự chấp trước vào kiếp sống làm người nữ học thức là thủ (upādāna).
- Tư thiện (kusalacetanā) cúng dường trái cây đến một vị tỳ khưu là hành (sakhāra).
- Nghiệp (kamma) là nghiệp lực của chúng.

Trong kiếp này hành giả là một người nữ có học thức sống trong một thành phố lớn ở Myanmar (Miến Điện). Cô có thể (với chánh kiến) trực tiếp phân biệt được bằng cách nào nghiệp lực cúng dường trái cây trong kiếp trước của cô đã cho ngũ uẩn dị thục trong kiếp này.

Khả năng phân biệt các nhân và quả theo cách này được gọi là Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên (paccaya pariggaha ñāa).

Một Hành Giả Nam Phân Biệt Những Gì?

Đây là một ví dụ hơi khác một chút. Một nam nhân phân biệt thấy rằng quanh thời cận tử tốc hành tâm (maraā sanna javana citta) có bốn nghiệp tranh nhau. Đó là nghiệp dạy kinh, nghiệp thuyết pháp, nghiệp hành thiền và cuối cùng là nghiệp dạy thiền. Khi vị này thẩm sát xem nghiệp nào trong bốn nghiệp này đã tạo ra năm uẩn dị thục của kiếp này thì thấy rằng đó là nghiệp hành thiền. Khi thẩm sát thêm (để phân biệt đề mục thiền nào mình đã hành), vị ấy thấy đó là thiền minh sát (vipassanā) thấy vô thường, khổ và vô ngã trong danh-sắc. Thẩm sát thêm nữa, vị ấy thấy rằng, trước và sau mỗi thời tọa thiền, vị ấy đã nguyện được tái sanh lại làm người nam, được xuất gia làm tỳ khưu và là một tỳ khưu làm công việc hoằng pháp.

Trong trường hợp này:

- Vô minh là ảo tưởng cho rằng một nam nhân, một vị sư, hoặc một vị sư làm công việc hoằng pháp là thực tại cùng tột (chân đế).
- Ái là ao ước khát khao để được như vậy.
- Thủ là chấp trước vào đó.
- Hành là những hành động thuộc tu tập minh sát.
- Nghiệp là nghiệp lực của chúng (những hành động ấy).

Hành Giả Phân Biệt Các Kiếp Của Quá Khứ Thêm Nữa Như Thế Nào?

Khi hành giả đã có thể phân biệt được kiếp quá khứ gần nhất của mình theo cách này, đồng thời có thể thấy năm nhân tiền kiếp là vô minh, ái, thủ, hành, nghiệp và năm quả của chúng trong kiếp hiện tại là kiết sanh thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ rồi, hành giả cần phải phân biệt lui dần trở lại kiếp thứ hai, thứ ba, thứ tư và có thể lui lại càng nhiều (kiếp quá khứ) bao nhiêu càng tốt theo cùng cách thức như trên.

Nếu hành giả phân biệt một kiếp quá khứ hoặc tương lai trong cõi Phạm Thiên (Brahma), hành giả sẽ chỉ thấy ba căn – nhãn, nhĩ và ý – trái với sáu căn mà bình thường vẫn thấy ở các cõi chư thiên và nhân loại.

Làm Thế Nào Để Phân Biệt Tương Lai?

Một khi năng lực minh sát trí này đã được phát triển (nhờ phân biệt các nhân và quả qua các kiếp quá khứ ấy), hành giả có thể phân biệt các nhân và quả trong các kiếp tương lai theo cùng cách thức như thế. Tương lai mà hành giả sẽ thấy, tất nhiên vẫn có thể thay đổi, là kết quả của cả các nhân quá khứ lẫn hiện tại mà một trong số đó là “thiền” hành giả đang hành[11]. Để phân biệt tương lai, hành giả bắt đầu bằng cách phân biệt danh-sắc hiện tại rồi nhìn vào tương lai cho đến thời điểm chết trong kiếp này. Lúc đó, một nghiệp, hoặc nghiệp tướng hay thú tướng sẽ xuất hiện do sức mạnh của một nghiệp đặc biệt nào đó hành giả đã thực hiện trong kiếp này. Có thể lúc ấy hành giả sẽ phân biệt được danh-sắc kiết sanh (paisandhi nāma rūpa) vốn sẽ được tạo ra trong kiếp tương lai[12].

Hành giả phải cố gắng phân biệt được thật nhiều kiếp sống trong tương lai sao cho đến kiếp vô minh diệt không còn dư tàn. Điều này xảy ra cùng với sự chứng đắc A-la-hán Thánh đạo (Arahattamagga) của hành giả. Như vậy, hành giả cứ tiếp tục phân biệt vào trong tương lai cho đến khi thấy được rằng năm uẩn, danh-sắc diệt không còn dư tàn, nghĩa là, vào cuối của kiếp đắc A-la-hán, lúc Bát Niết-bàn hay nhập Vô Dư Niết-bàn của hành giả. Lúc đó hành giả sẽ thấy rằng với sự diệt của vô minh, danh-sắc cũng diệt, đồng thời hành giả cũng thấy ra sự diệt hoàn toàn của các pháp (dhamma), đó là không còn tái sanh nữa.

Theo cách này hành giả phân biệt năm uẩn thuộc quá khứ, hiện tại và vị lai, và cũng phân biệt luôn tương quan nhân quả của chúng. Đây là những gì chúng ta gọi là phương pháp thứ năm, do Tôn giả Xá Lợi Phất dạy. Sau khi hoàn tất việc phân biệt, lúc này hành giả có thể học cách chúng ta gọi là phương pháp thứ nhất, một trong bốn phương pháp do đức Phật dạy.

Phương Pháp Thứ Nhất

Phương pháp thứ nhất[13] của phân biệt duyên khởi hay thập nhị nhân duyên (paticcasamuppāda) qua ba kiếp sống và theo chiều thuận. Phương pháp này bắt đầu với các nhân trong kiếp quá khứ, đó là vô minh và hành. Hai nhân tạo ra quả trong kiếp hiện tại: dị thục thức (bắt đầu với kiết sanh thức), danh sắc, lục nhập, xúc và thọ. Rồi, có các nhân trong kiếp này: ái, thủ, và hữu, tạo quả sanh, già, chết và mọi hình thức khác của khổ trong kiếp tương lai.

Hành giả phải tìm ra vô minh, ái và thủ trong vòng phiền não (luân), thấy ra nó tác động đến vòng nghiệp luân như thế nào, và rồi nghiệp lực của nghiệp luân này đến lượt nó tạo ra năm uẩn lúc thụ thai, và trong suốt kiếp sống ra sao.

Điều đó đã kết luận cho lời giải thích tóm lược của tôi về cách làm thế nào để phân biệt duyên khởi theo các phương pháp thứ nhất và thứ năm. Dĩ nhiên có rất nhiều chi tiết nữa mà hành giả có thể học ra qua việc thực hành với một bậc thầy thích hợp.

Khi đã phân biệt đầy đủ các nhân của danh-sắc trong quá khứ, hiện tại và vị lai rồi, hành giả kể như đã hoàn tất tuệ minh sát thứ ha, Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên (paccaya pariggaha ñāa).

***

HỎI ĐÁP 6

Hỏi 6.1: Nếu một hành giả hành pháp niệm hơi thở (ānāpānasati) nhưng không thể thấy “tướng” (nimitta), họ cần phải kiểm tra lại thân và tâm như thế nào để có thể trở nên tốt hơn và nhập vào thiền (jhāna) được? Nói cách khác, thế nào là những điều kiện cần thiết để có một “nimitta”?

Đáp 6.1: Thực hành thường xuyên là điều cần thiết đối với mọi loại thiền. Trong niệm hơi thở, hành giả phải có chánh niệm về hơi thở trong mọi oai nghi, và nhất là phải làm điều ấy với lòng tôn kính. Khi đi, đứng hoặc ngồi, không niệm đối tượng nào khác ngoài hơi thở, tức là hành giả chỉ nên theo dõi hơi thở mà thôi. Cố gắng ngừng suy nghĩ, ngừng nói chuyện. Nếu hành giả cứ cố gắng liên tục theo cách này, sức tập trung của hành giả sẽ dần dần tốt hơn. Chỉ có định sâu và mạnh mẽ mới có thể tạo ra “tướng” (nimitta). Không có nimitta, đặc biệt là paibhāganimittta (tợ tướng), hành giả không thể đắc thiền (jhāna), vì đối tượng của thiền hơi thở (ānāpāna jhāna’s object) là tợ tướng hơi thở.

H 6.2: Oai nghi ngồi có ảnh hưởng gì đến khả năng tập trung và nhập thiền đối với người mới hành thiền không? Có nhiều hành giả ngồi thiền trên một cái ghế nhỏ, họ có thể nhập thiền được không?

Đáp 6.2: Oai nghi ngồi rất tốt đối với những người mới hành thiền. Nhưng với những ai đã có đủ ba-la-mật (pāramī) trong niệm hơi thở rồi thì có thể nhập thiền ở bất kỳ oai nghi nào. Một vị hành giả thiện xảo (khéo léo) cũng có thể nhập thiền ở bất cứ oai nghi nào. Vì thế, họ có thể nhập thiền được khi đang ngồi trên ghế.

Tôn giả Xá Lợi Phất (Sariputta) và Tôn giả Tu Bồ Đề (Subhūti) là những điển hình cho việc này. Chúng ta biết, Tôn giả Xá Lợi Phất rất thành thạo trong việc nhập diệt tận định. Khi đi bát trong làng, Ngài luôn nhập thiền diệt tại mỗi nhà trước khi nhận phần cúng dường của họ. Ngài chỉ nhận của cúng dường sau khi đã xuất khỏi diệt tận định. Đó là hạnh nguyện của Ngài.

Tôn giả Tu Bồ Đề lại rất thành thạo trong thiền tâm từ. Ngài cũng nhập thiền tâm từ ở mỗi nhà trước khi nhận của cúng dường. Nghĩa là chỉ sau khi xuất khỏi thiền tâm từ, Ngài mới nhận phần cúng dường của thí chủ. Tại sao các Ngài làm vậy? Vì muốn cho thí chủ có được lợi ích cao nhất. Các Ngài biết rằng, nếu các Ngài làm thế thì thiện nghiệp vô lượng và thù thắng sẽ khởi lên trong tiến trình tâm của các vị thí chủ. Các Ngài có lòng từ mẫn như vậy đối với những thí chủ cần phải được thế. Như vậy, họ có thể nhập thiền trong khi đang ở oai nghi đứng. Từ những ví dụ này hành giả có thể suy nghiệm về thiền hơi thở cũng theo cách tương tự.

Hỏi 6.3: Đối tượng của tứ thiền hơi thở là gì? Nếu ở tứ thiền không còn hơi thở, làm thế nào có thể có một nimitta được?

Đáp 6.3: Mặc dù không có hơi thở vô và hơi thở ra, nhưng ở tứ thiền hơi thở vẫn có tợ tướng (paibhāganimitta). Tợ tướng hơi thở ấy xuất phát từ hơi thở bình thường, tự nhiên. Đây là lý do vì sao đối tượng (của tứ thiền) vẫn là hơi thở vô – ra (assāsa – passāsa). Điều này đã được giải thích trong Phụ chú giải của Thanh Tịnh Đạo (Visudhimagga Sub-commentary)[14].

Hỏi 6.4: Người hành thiền có thể nhập vào một thiền chứng vô sắc (arūpajhāna samāpatti), hoặc hành thiền tâm từ trực tiếp từ niệm hơi thở được không?

Đáp 6.4: Hành giả không thể nhập vào một thiền chứng vô sắc trực tiếp từ tứ thiền hơi thở được. Vì sao? Các thiền vô sắc, đặc biệt là Không vô biên xứ thiền (ākāsānañcāyatana jhāna), được đạt đến bằng cách loại bỏ một đối tượng kasia nào đó. Sau khi loại bỏ đối tượng kasiṇa và tập trung vào khoảng không (ākāsa) còn lại thì đối tượng của Không vô biên xứ thiền sẽ xuất hiện. Khi hành giả thấy hư không, hành giả phải mở rộng nó ra dần dần. Và khi nó đã được mở rộng theo mọi hướng, đối tượng kasia sẽ biến mất. Hành giả phải mở rông khoảng không ấy cho đến vũ trụ vô biên. Đó là đối tượng của Không vô biên xứ thiền. Thiền này đến lượt nó lại trở thành đối tượng của Thức vô biên xứ thiền (viññānañcāyatana jhāna). Sự phi hữu hay vắng mặt của Không vô biên xứ thiền là đối tượng của Vô sở hữu xứ thiền (ākiñcaññāyatana jhāna). Thiền này cuối cùng là đối tượng của Phi tưởng – phi phi tưởng xứ thiền (neva saññā nā saññāyatana jhāna). Như vậy, bốn thiền vô sắc đều dựa trên tứ thiền kasia và đối tượng của nó. Không loại bỏ kasia hành giả không thể đi vào các thiền vô sắc được. Do đó, nếu một hành giả hành niệm hơi thở đến tứ thiền rồi, muốn đi vào các thiền vô sắc, trước tiên vị ấy phải hành mười kasia cho đến tứ thiền đã. Chỉ khi ấy hành giả mới có thể tiếp tục đi vào thiền vô sắc được[15].

Trường hợp hành giả muốn hành thiền tâm từ (mettā bhāvanā) từ tứ thiền hơi thở, hành giả có thể làm được không có vấn đề gì. Hành giả phải thấy được “người” là đối tượng của thiền tâm từ với ánh sáng của tứ thiền hơi thở. Nếu ánh sáng của hành giả không đủ mạnh, có lẽ cũng có một chút vấn đề. Tuy nhiên điều đó rất hiếm. Nếu sau khi đã đắc tứ thiền kasiṇa trắng, hành giả hành thiền tâm từ có thể sẽ nhanh chóng thành công. Đó là lý do vì sao ở đây chúng tôi dạy thiền kasiṇa trắng trước thiền tâm từ[16].

Hỏi 6.5: Làm thế nào một người có thể quyết định được khi nào thì chết, đó là, chọn ngày giờ chết cho mình?

Đáp 6.5: Nếu hành giả đã hành niệm hơi thở đến A-la-hán Thánh đạo, hành giả có thể biết chính xác ngày giờ nhập Niết-bàn của mình. Thanh Tịnh Đạo có đề cập trường hợp một vị Trưởng lão nhập Vô Dư Niết-bàn (parinibbāna) lúc đang đi kinh hành. Đầu tiên, vị ấy vạch một đường trên con đường kinh hành của mình rồi nói với các tỳ khưu bạn rằng mình sẽ nhập Niết-bàn khi đi đến vạch này. Điều đó đã xảy ra một cách chính xác như Ngài đã nói. Những vị không phải A-la-hán cũng có thể biết được thọ mạng của họ nếu đã hành pháp duyên khởi (paticcasamuppāda), tương quan giữa các nhân và quả của quá khứ, hiện tại và vị lai, nhưng không tuyệt đối chính xác như vị Trưỡng lão vừa đề cập. Tức là họ không biết chính xác thời gian, chỉ có thể biết trong giai đoạn nào thì họ sẽ chết vậy thôi.

Nhưng những người này không phải chết hoặc nhập Vô Dư Niết-bàn theo ý muốn của họ mà là hợp theo quy luật của nghiệp. Có một bài kệ do Tôn giả Xá Lợi Phất bày tỏ có thể cho chúng ta hiểu được điều này.

Nābhinandāmi jīvita, nābhinandāmi maraa,
kālañca patikankhāmi, nibbisa
bhatako yathā.”

(Ta không vui thích sống, cũng không vui thích chết.
Ta chờ thời Niết-bàn, như người làm chờ lương.)

Khi một người mong mỏi được chết như vậy thì cái chết đó gọi là “chết do quyết định” (adhimuttimaraa). Cái chết này thường chỉ có các vị Bồ tát đã hoàn thiện mới có thể thực hiện. Tại sao các ngài làm vậy? Khi các ngài tái sanh thiên giới, nơi đây không có cơ hội để tu tập các ba-la-mật. Các ngài không muốn phí thời gian, vì thế mà có lúc các ngài quyết định chết (trước thời hạn) mong được tái sanh vào cõi nhân loại ngõ hầu tu tập các ba-la-mật.

Hỏi 6.6: Nếu một ngày nào đó chúng ta bị chết trong một tai nạn, chẳng hạn như rớt máy bay, liệu lúc đó tâm chúng ta có thể “rời khỏi thân” để chúng ta không có sự đau đớn nào về thể xác không? Làm thế nào? Do năng lực hành thiền liệu người ta có thể không cảm thấy sợ hãi vào lúc đó và được giải thoát không? Mức độ định nào được đòi hỏi phải có?

Đáp 6.6: Mức độ định cần phải có là định thuộc Biến Hóa Thần Thông (iddhividha abhiññā). Với năng lực ấy, hành giả có thể thoát khỏi hiểm nguy. Nhưng nếu hành giả có một bất thiện nghiệp đã chín mùi để sẵn sàng cho quả rồi thì không được. Hãy nhớ đến trường hợp của Tôn giả Mục Kiền Liên. Ngài rất thành thạo trong việc sử dụng thần thông. Thế nhưng, đúng cái ngày mà bất thiện nghiệp của Ngài đã chín mùi thì Ngài không thể nhập thiền được nữa. Đây không phải do phiền não hay triền cái ngăn ngại mà chỉ là do nghiệp bất thiện của Ngài đến lúc cho quả. Đó là lý do vì sao mà bọn thảo khấu có thể nghiền nát xương Ngài. Nghĩ rằng Ngài đã chết, bọn cướp bỏ đi. Và chỉ lúc đó, Ngài mới có thể nhập thiền trở lại, đồng thời phục hồi các thần thông của mình. Ngài quyết định (adhiṭṭhāna) rằng, thân này hãy nguyên vẹn trở lại, rồi đến thỉnh cầu đức Phật cho phép Ngài được nhập Niết-bàn. Sau đó, Ngài trở về ngôi chùa Kalasīla của Ngài và nhập Niết-bàn ở đó. Chúng ta thấy, trước tiên, nghiệp bất thiện của Ngài cho quả, rồi nó hết hiệu lực. Chỉ khi đó Ngài mới có thể phục hồi các thần thông của mình.

Như vậy, nếu hành giả không có nghiệp bất thiện sắp chín mùi, đồng thời có các năng lực thần thông thì có thể thoát khỏi tai nạn xảy ra. Tuy nhiên, với định lực của thiền bình thường và thiền minh sát không đủ để cứu hành giả khỏi sự hiểm nguy như vậy. Thực sự chúng ta có thể nói rằng, vì sao người này lại gặp tai nạn này chắc chắn phải do nghiệp bất thiện của họ đến lúc cho quả vậy thôi.

Tâm không thể “rời khỏi” thân vì tâm sanh nương vào một trong sáu căn. Sáu căn này là nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn và ý căn. Những căn này nằm trong thân chúng ta. Một tâm không thể khởi lên trong cõi nhân loại này mà không có căn. Đó là lý do vì sao nói tâm không thể rời khỏi thân[17].

Tuy nhiên, ở đây chúng tôi có thể đưa ra giả thiết là nếu hành giả có thiền thì vào lúc tai nạn xảy ra, hành giả cần phải nhanh chóng nhập thiền. Điều đó có nghĩa hành giả cần phải hoàn thiện khả năng làm chủ việc nhập thiền của mình. Nếu ngay lúc nguy hiểm hành giả nhập thiền được thì nghiệp thiện đó có thể cứu hành giả, tuy nhiên chúng ta không thể nói chắc. Còn nếu hành giả đang ở trong thiền vào lúc sát-na tử (xảy ra), hành giả có thể tái sanh vào một trong những cõi Phạm thiên.

Trường hợp hành giả thiện xảo trong minh sát (vipassanā), hành giả phải đang thực hành lúc xảy ra nguy hiểm, tức là phải quán tính chất vô thường, khổ và vô ngã của pháp hành (sakhāra dhamma). Nếu hành giả có thể thực hành minh sát một cách triệt để trước khi cái chết xảy ra, hành giả có thể đắc một trong các đạo quả và đạt đến cảnh giới vui sau khi chết. Còn nếu đắc A-la-hán Thánh quả, hành giả sẽ nhập Vô Dư Niết-bàn (parinibbāna). Tuy nhiên, nếu hành giả không có thần thông, chẳng có thiền, cũng không thể hành minh sát, hành giả vẫn có thể thoát nạn nhờ vào thiện nghiệp nâng đỡ. Tức là nếu hành giả có đủ thiện nghiệp bảo đảm thọ mạng lâu dài thì đó cũng có thể là một cơ hội để thoát khỏi hiểm nguy, giống như đức Bồ tát Mahàjanaka vậy. Ngài là người duy nhất sống sót trong một vụ đắm tàu. Sau khi bơi trong biển cả bảy ngày, bảy đêm, Ngài đã được một vị chư thiên cứu sống.

Hỏi 6.7: Sau khi đắc đạo – quả, một vị Thánh (ariya) không thối chuyển thành phàm nhân (puthujjhana), đây là một quy luật tự nhiên (sammatta niyāma). Tương tự, người đã nhận được lời thọ ký thì không thể từ bỏ hạnh nguyện Bồ tát của mình. Đây cũng là một quy luật tự nhiên. Nhưng đức Phật lại tuyên bố rằng, các pháp là vô thường. Như vậy, những quy luật cố định này có hợp với quy luật vô thường không?

Đáp 6.7: Ở đây, quý vị nên hiểu thế nào là cố định và thế nào là vô thường. Quy luật của nghiệp (kamma) công bố bất thiện nghiệp (akusalakamma) cho quả xấu và thiện nghiệp (kusalakamma) cho quả tốt. Đây là quy luật tự nhiên của nghiệp (kammaniyāma). Liệu điều đó có nghĩa rằng các thiện và bất thiện nghiệp là thường (nicca) không? Cứ thử suy nghĩ về điều đó xem!

Nếu các thiện nghiệp là thường thì hãy suy xét điều này, hiện tại quý vị đang nghe pháp (dhamma) liên quan đến Thắng pháp (Abhidhamma) của đức Phật. Đây là thiện nghiệp thuộc về nghe pháp (dhammasā vena kusala kamma). Nó có thường không? Thử nghĩ về điều đó xem!

Nếu điều đó là thường thì trong suốt cuộc đời, quý vị sẽ chỉ có nghiệp này mà không có các nghiệp khác. Quý vị có hiểu không? Thiện nghiệp cho quả tốt, bất thiện nghiệp cho quả xấu. Đây là quy luật tự nhiên, nhưng nó không có nghĩa rằng nghiệp là thường. Tư thiện (kusalacetanā)[18] và tư bất thiện (akusalacetanā) là nghiệp. Ngay vừa sanh lên, chúng sẽ diệt – tức vô thường. Đó là tính chất tự nhiên của chúng. Song nghiệp lực, khả năng tạo ra nghiệp quả, vẫn tồn tại trong tiến trình danh-sắc.

Giả sử có một cây xoài. Hiện nay không có quả nào trên cây. Nhưng chắc chắn rằng một ngày kia, nếu đủ duyên, nó sẽ cho quả. Đây là quy luật tự nhiên. Quý vị có thể nói khả năng sanh quả đã hiện hữu trong cây. Khả năng đó là gì? Nếu chúng ta nghiên cứu lá, cành, vỏ và cuống của nó, chúng ta không thể thấy điều đó. Nhưng như thế không có nghĩa là nó không tồn tại, bởi vì một ngày kia cây xoài sẽ cho quả, nếu không có môt điều kiện bất thường nào cản trở. Cũng thế, chúng ta không nói thiện nghiệp và bất thiện nghiệp là thường. Chúng ta chỉ nói nghiệp lực tồn tại trong tiến trình danh-sắc như một khả năng, và rằng, một ngày nào đó, khi lực ấy chín mùi, nó sẽ cho quả của nó.

Bây giờ, chúng ta bàn đến quy luật cố định, quy luật tự nhiên (sammatta niyāma)[19]. Chúng ta nói các pháp thuộc đạo và quả là các pháp thuộc quy luật tự nhiên, nhưng chúng ta không bảo rằng chúng là thường (nicca). Các pháp ấy cũng vô thường (anicca), song sức mạnh của đạo tuệ vẫn tồn tại trong tiến trình danh-sắc của những vị đã đạt đến một đạo, quả và Niết-bàn. Sức mạnh hay năng lực ấy tồn tại theo quy luật tự nhiên, cố định và có một hệ quả tự nhiên. Chẳng hạn, năng lực của Nhập Lưu Thánh đạo (Sotāpattimagga) dẫn đến Nhập Lưu Thánh quả (Sotāpattiphala), và là một nhân hỗ trợ cho các quả chứng cao hơn. Nhưng nó không thể đưa đến những quả thấp hơn. Đây cũng là một quy luật tự nhiên.

Ở đây, quý vị nên suy xét đến điều này: để đắc A-la-hán Thánh quả không phải là dễ. Quý vị phải thực hành với nỗ lực lớn, yếu tố kiên trì mãnh liệt là cần thiết. Chẳng hạn, trong kiếp chót của đức Bồ tát Sakyamuni (Thích Ca Mu Ni), Ngài đã thực hành rất gian khổ (hơn sáu năm trường) để đắc A-la-hán Thánh quả kết hợp với Toàn Giác Trí (Sabbaññuta Ñāa, còn gọi là Nhất Thiết Trí). Quý vị có thể tưởng tượng là nó gian nan biết chừng nào! Vì thế, nếu sau khi đắc A-la-hán Thánh quả với muôn vàn khó khăn như thế, Ngài lại trở thành phàm nhân (puthujjhana) thì quả của việc thực hành này sẽ là gì? Quý vị nên suy nghĩ thận trọng về điều này.

Liên quan đến sự kiện vừa nêu, chúng ta hãy nhìn xem khi nào thì một vị Bồ tát có thể nhận được một lời thọ ký xác định.

Manussatta lingasampatti, hetu satthāradassana;
Pabbājjā gu
asampatti, adhikāro ca chandatā;
A
ṭṭhadhammasamodhāna abhinīhāro samijhati.

Một vị Bồ tát có thể được thọ ký xác định khi tám điều kiện sau đây được hoàn tất:

1. Manussatta: phải là người.

2. Ligasampatti: phải là nam nhân.

3. Hetu: nhân. Có các ba-la-mật đủ để đạt đến Thánh quả A-la-hán trong khi nghe một vị Phật thuyết một câu kệ ngắn liên hệ đến Tứ Thánh Đế. Điều này có nghĩa, vị ấy trước đó đã phải thực hành minh sát một cách triệt để cho đến “Hành Xả Tuệ”.

4. Satthāradassana: tương kiến bậc Đạo sư, nghĩa là phải gặp một vị Phật.

5. Pabbājja: xuất gia. Phải là người xuất gia, có thể là đạo sĩ hoặc tỳ khưu và có đức tin vững chắc đối với quy luật nghiệp báo.

6. Guasampatti: phải có tám thiền chứng và ngũ thông.

7. Adhikāro: phải có ba-la-mật đủ để tiếp nhận một lời thọ ký xác định nơi một vị Phật. Nghĩa là trong các kiếp trước, vị ấy đã phải hành các ba-la-mật cần thiết để đạt đến Toàn Giác Trí (Sabbaññuta Ñāa). Nói cách khác, vị ấy đã phải gieo những hạt giống trí tuệ (vijjā) và đức hạnh (carana) để có được Toàn Giác Trí trong thời kỳ giáo pháp của đức Phật quá khứ. Theo “Yasodharā Apadāna” thì thái tử Sĩ-đạt-ta tương lai đã phát nguyện đắc Toàn Giác Trí trước mặt hàng tỷ vị Phật (công chúa Da-du-đà-la tương lai cũng đã nguyện cho Ngài đạt được như vậy) và đã tu tập các ba-la-mật dưới sự hướng dẫn của các vị Phật này. Chẳng hạn, trên con đường tu tập các ba-la-mật, Ngài đã lấy thân mình làm cầu cho đức Phật Dīpankāra (Nhiên Đăng) và một trăm ngàn vị tỳ khưu băng qua, vẫn biết rằng hành động này phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.

8. Chandata: hoài bão mãnh liệt. Phải có hoài bão mãnh liệt muốn đắc Toàn Giác Trí. Hoài bão như thế nào là mãnh liệt? Giả sử toàn thế gian này là hầm than đang cháy. Có người bảo rằng, “ngươi sẽ đắc Toàn Giác Trí nhờ băng qua hầm than đang cháy”, vị ấy sẽ băng qua không chút do dự. Ở đây, xin hỏi quý vị, quý vị có dám băng qua hầm than đang cháy đó không? Đừng nói đến toàn thế gian, nếu chỉ từ Taiwan (Đài Loan) đến Pa-Auk (Miến Điện) là hầm than đang cháy, liệu quý vị có dám đi qua không? Nếu biết chắc rằng có thể đắc Toàn Giác Trí theo cách đó, đức Bồ tát sẽ băng qua hầm than đang cháy ấy liền. Đó là sức mãnh liệt của hoài bão muốn đắc Toàn Giác Trí của Ngài.

Nếu tám yếu tố này có mặt trong một vị Bồ tát, chắc chắn vị ấy sẽ nhận được lời thọ ký xác định từ một vị Phật. Những yếu tố này đã hiện hữu trong đức Bồ tát Sakyamuni của chúng ta khi Ngài còn là đạo sĩ Sumedha và thời đức Phật Nhiên Đăng. Đó là lý do tại sao Ngài được đức Phật Nhiên đăng thọ ký:

“Ông sẽ đắc Toàn Giác trí sau bốn a-tăng-kỳ (asankheyya) và một trăm ngàn đại kiếp (kappa) với tên Gotama (Cồ Đàm).”

Ở đây, lời thọ ký ấy là “xác định” với nghĩa như thế nào? Được gọi là xác định bởi nó không thể bị thay đổi. Điều đó không có nghĩa nó là thường. Danh-sắc của đức Phật Nhiên Đăng là vô thường. Danh-sắc của đạo Sumedha là vô thường. Đây là một sự thực, nhưng nghiệp lực, đặc biệt là nghiệp lực các ba-la-mật của họ không thể tiêu hoại khi vị ấy chưa đắc Toàn Giác Trí. Những lời nói của đức Phật Nhiên Đăng, được xem là lời thọ ký xác định, cũng không thể bị thay đổi và bị xem là hư ngụy được. Nếu những lời ấy bị thay đổi, do đó việc thọ ký xác định không phải là chân thật thì sẽ phát sinh ra vấn đề, một vị Phật đã nói lời hư vọng. Điều đó là không thể. Đức Phật chỉ đưa ra lời thọ ký khi Ngài thấy rằng tám điều kiện trên đã được hoàn thành. Chẳng hạn, nếu một người rất thành thạo trong nghề trồng trọt, đã trồng một cây chuối dưới những điều kiện thích hợp nhất, chắc chắn ông ta có thể nói cho quý vị biết cây chuối ấy sẽ ra quả trong bao lâu. Tại sao? Vì ông ta rất rành về trồng trọt, hơn nữa, ông còn thấy những bông hoa và lá nhỏ đang nhú ra từ cây. Cũng vậy, khi một người đã hoàn tất tám điều kiện, đức Phật có thể thấy được người ấy sẽ đắc quả Toàn Giác, đây là lý do Ngài đưa ra lời thọ ký xác định.

Vào thời đức Phật Nhiên Đăng, Bồ tát Sakyamuni của chúng ta là đạo sĩ Sumedha, một phàm nhân. Kiếp cuối cùng, khi Bồ tát Sĩ-đạt-ta chưa giác ngộ cũng vẫn là phàm nhân. Chỉ sau khi giác ngộ, Ngài mới trở thành đức Phật Sakyamuni. Sau khi đắc A-la-hán Thánh đạo kết hợp với Toàn Giác Trí, Ngài không thể thay đổi A-la-hán đạo của mình được, đây là một quy luật cố định tự nhiên (Sammatta niyāma). Quy luật cố định ở đây là A-la-hán đạo không thể thay đổi. Như vậy, không có nghĩa A-la-hán đạo là thường, mà phải hiểu rằng kết quả của nó có mặt do một nghiệp lực không thể thay đổi được mà thôi. Điều này chính xác nghĩa là gì? Nó có nghĩa chắc chắn rằng A-la-hán Thánh đạo sẽ tạo ra A-la-hán Thánh quả, và chắc chắn rằng nó sẽ hủy diệt mọi phiền não, cả những bất thiện nghiệp lẫn thiện nghiệp, vì nếu không chúng sẽ cho quả sau khi nhập Vô Dư Niết-bàn. Quyluật của nghiệp này được gọi là quy luật cố định tự nhiên (quy luật cố nhiên) và không thể thay đổi được. Như vậy, quy luật cố định tự nhiên và một lời thọ ký xác định không mâu thuẫn với quy luật vô thường.

Lại nữa, cũng cần giải thích thêm là, phát nguyện hay ước nguyện thôi thì không đủ để đắc Toàn Giác Trí. Khi các vị Bồ tát được thọ ký xác định thì tám điều kiện kể trên đã phải được hoàn thành. Hơn nữa một lời thọ ký xác định thôi vẫn không đủ để đưa đến Phật quả. Ngay cả sau khi thọ ký, các vị Bồ tát vẫn phải tiếp tục tu tập mười pháp ba-la-mật trên ba cấp độ:

1. Mười ba-la-mật căn bản (pāramī): từ bỏ vợ con và các tài sản bên ngoài.
2. Mười ba-la-mật bậc trung (upapāramī): từ bỏ tứ chi và các cơ quan (trong thân thể) như mắt, tay, v.v…
3. Mười ba-la-mật bậc thượng (paramattha pāramī): từ bỏ mạng sống.

Hết thảy có ba mươi pháp ba-la-mật. Nhưng nếu tổng kết lại chúng ta chỉ có bố thí (dāna), giữ giới (sīla), tu tâm (bhāvanā), tức hành Thiền An chỉ và Minh sát.

Ba-la-mật là những thiện nghiệp cao thượng. Các vị Bồ tát phải hoàn thiện các pháp ấy bằng cách từ bỏ (xả ly) tài sản hữu tình cũng như vô tình, chân tay và mạng sống của họ. Nếu hành giả tin mình là một vị Bồ tát, hành giả có thể và có muốn hoàn thiện các pháp ba-la-mật này không? Nếu có thể và nếu như hành giả cũng đã được một vị Phật thọ ký rồi thì một ngày nào đó hành giả sẽ đắc Toàn Giác Trí. Nhưng theo truyền thống Phật giáo Theravāda, chỉ một vị Phật duy nhất có thể xuất hiện ở một thời gian nhất định nào đó mà thôi. Còn họ phải hoàn thiện ba-la-mật của mình trong bao lâu? Sau khi đã được thọ ký, đức Bồ tát Sakyamuni của chúng ta đã tu tập các pháp ba-la-mật trong bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp. Đây là thơì gian ngắn nhất. Tuy nhiên chúng ta không thể nói đích xác là phải mất một thời gian bao lâu trước khi được thọ ký. Vì vậy, phát nguyện hay ước muốn thôi sẽ không đủ để trở thành một vị Phật.

Hỏi 6.8: Khi một vị Thanh Văn bậc thường (pakatisāvaka) đã hành Chỉ-Quán lên đến Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên, hoặc Sanh Diệt Tuệ, hoặc Hành Xả Tuệ, vị ấy sẽ không còn phải tái sanh vào bốn ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và Atula). Cho dù vị ấy có mất Chỉ-Quán do dễ duôi thì thiện nghiệp của việc hành Chỉ-Quán cũng vẫn tồn tại. Trong kinh “Sotānugata” cũng nói rằng vị ấy sẽ đạt đến Niết-bàn nhanh chóng[20]. Như vậy, tại sao trong phần Hỏi và Đáp ngày hai tháng sáu vừa rồi, Sayadaw có nói rằng một vị Bồ tát được một đức Phật thọ ký rồi, dù vị ấy đã hành thiền Chỉ-Quán cho đến Hành Xả Trí, vị ấy vẫn có thể bị tái sanh vào khổ cảnh[21]? Điều này được đề cập trong Kinh nào? Xin Sayadaw cho biết.

Đáp 6.8: Sở dĩ có điều này là vì con đường thực hành của Bồ tát và con đường thực hành của vị Thanh văn thường không giống nhau. Quý vị có thể xác chứng điều này trong các bản Kinh iBuddhavamsa (Phật Sử) và Cariyapitaka (Hạnh Tạng). Hai con đường này khác nhau như thế nào? Mặc dù một vị Bồ tát đã được đức Phật thọ ký, vào lúc ấy, các ba-la-mật của họ vẫn chưa thành thục để đạt đến Toàn Giác Trí. Vị ấy còn phải tu tập các ba-la-mật thêm nữa. Chẳng hạn, sau khi được đức Phật Nhiên Đăng thọ ký, đức Bồ tát Sakyamuni còn phải tiếp tục trau dồi các ba-la-mật trong bốn a – tăng – kỳ và một trăm ngàn đại kiếp. Giữa kiếp được thọ ký và kiếp áp chót, một vị Bồ tát có lúc phải tái sanh trong loài súc sanh vì một nghiệp bất thiện trước đó. Lúc đó, Ngài vẫn chưa thể hủy diệt hoàn toàn nghiệp lực bất thiện. Vì vậy, khi các nghiệp bất thiện chín mùi, Ngài không thể thoát khỏi quả báo của chúng. Đây là một quy luật tự nhiên.

Nhưng một vị Thanh văn bậc thường đã đắc Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên, hoặc Sanh Diệt Tuệ, hoặc Xả Hành Tuệ, có các ba-la-mật đủ để đắc đạo – quả tuệ. Vì lý do này, họ đắc đạo – quả, tức là thấy Niết-bàn ngay trong kiếp này hoặc trong kiếp tương lai nào đó của họ. Đây cũng là một quy luật tự nhiên.

Hỏi 6.9: Một vị A-la-hán cũng có thể đưa ra lời thọ ký xác định. Nên định nghĩa như thế nào về lời thọ ký xác định ở trường hợp này? Trong Kinh nào, hoặc trong nguồn tham khảo nào chúng ta có thể tìm thấy thông tin này?

Đáp 6.9: Về các nguồn tham khảo, vui lòng xem trong bộ Phật Sử (Buddhavamsa) và Apadāna trong văn hệ i. Tuy nhiên cần phải nhớ rằng, chỉ các vị A-la-hán đặc biệt có Vị Lai Phần Trí (Anāgatamsa ñāa), một trí phụ tùy của Thiên Nhãn Thông (dibbacakkhu) mới có thể đưa ra lời thọ ký xác định. Hơn nữa, họ chỉ có thể thấy một số kiếp giới hạn trong tương lai chứ không phải nhiều a-tăng-kỳ hay đại kiếp như một vị Phật được.

Hỏi 6.10: Có thể hành Vipassanā khi đang ở trong thiền chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ được không? Có thể tìm câu trả lời trong Kinh nào hay nguồn tham khảo nào?

Đáp 6.10: Hành giả không thể hành Vipassanā khi đang trong bất kỳ thiền chứng nào – Phi tưởng phi phi tưởng xứ cũng là một thiền chứng (jhāna). Vì sao? Bởi vì trong việc tu tập minh sát, chúng ta thường không dùng những đối tượng giống nhau như thường dùng để tu tập thiền định được[22]. Hơn nữa, Jhāna (bậc thiền) chúng ta tu tập bằng cách tập trung vào một đối tượng duy nhất (tướng hơi thở – ānāpānanimitta, hoặc kasia nimitta). Trong khi đó, chúng ta tu tập vipassanā bằng cách quán các đối tượng khác nhau. Chẳng hạn, đối tượng của các bậc thiền hơi thở là tợ tướng hơi thở – đây là một khái niệm chứ không phải là một sự thực tuyệt đối. Nhưng đối tượng của vipassanà không phải là một khái niệm mà là danh-sắc chân đế và các nhân của chúng kể cả các pháp thiền – jhāna dhamma (đó là 34 tâm hành thuộc sơ thiền, 32 tâm hành thuộc nhị thiền, 31 tâm hành thuộc tam thiền, tứ thiền và các thiền vô sắc)[23].

Chỉ sau khi đã xuất khỏi thiền người ta mới có thể hành minh sát – trên tâm và các tâm sở của bậc thiền ấy chẳng hạn. Điều này đã được đề cập trong kinh “Anupada” – Bất Đoạn. Đức Phật đã mô tả chi tiết cách thiền của Ngài Xá Lợi Phất trong mười lăm ngày sau khi đã đắc Nhập Lưu Thánh đạo [24].

Tôn giả Xá Lợi Phất nhập vào sơ thiền. Xuất khỏi sơ thiền, Ngài phân biệt từng tâm hành trong 34 tâm hành của thiền ấy, các trạng thái vô thường, khổ, vô ngã do thấy các giai đoạn sanh – trú – diệt của chúng. Theo cách này, Ngài lần lượt phân biệt cho đến Vô sở hữu xứ thiền. Đây gọi là minh sát các pháp riêng biệt (anupadadhamma vipassanā – cá biệt pháp quán), trong đó các tâm hành được phân biệt theo tuần tự từng pháp một. Nhưng khi đạt đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài chỉ có thể phân biệt các tâm hành như một nhóm. Đây gọi là minh sát do thẩm sát theo nhóm (kalāpa sammasana vipassanā). Chỉ có đức Phật mới có thể phân biệt các tâm hành của Phi tưởng phi phi tưởng xứ theo tuần tự từng pháp một bởi vì chúng cực kỳ vi tế, ngay cả một bậc Thượng thủ Thanh văn như Tôn giả Xá Lợi Phất cũng không thể làm được.

Hỏi 6.11: Một người kém trí nhớ, mắc bệnh hư giác, rối loạn thần kinh, đột quỵ hay rối loạn chức năng của não bộ và thần kinh có thể hành loại thiền này được không? Nếu được, người ấy cần phải thận trọng những gì?

Đáp 6.11: Người như vậy vẫn có thể hành loại thiền này được, nhưng thường không thành công vì họ không thể tập trung đủ lâu. Nói “đủ lâu” ở đây có nghĩa rằng khi sự tập trung của một người mạnh mẽ và vững chắc, nó phải được duy trì trong nhiều giờ và trong nhiều thời tọa thiền mới được. Thường thì sự tập trung của những người mắc bệnh như vậy không kiên trì. Đây là vấn đề. Nếu họ có thể duy trì sự tập trung qua nhiều thời tọa thiền liên tục cũng như qua nhiều ngày và nhiều tháng thì họ có thể thành công.

Có một điển hình nổi bật là trường hợp của Panācārā. Người chồng, hai đứa con, cha mẹ và anh em của bà đều chết cùng một ngày. Quá đau khổ, bà phát điên và bỏ đi lang thang không áo quần che thân. Một hôm, bà đến chùa Jetavana (Kỳ Viên ở Sāvatthi) gặp lúc đức Phật đang giảng pháp. Do công hạnh các ba-la-mật trong kiếp trước, cộng với lòng từ bi của đức Phật, bà đã lắng nghe pháp với lòng tôn kính. Lần hồi, tâm bà yên tịnh và hiểu được ý nghĩa của pháp. Chẳng bao lâu bà trở thành một vị Nhập Lưu (Sotāpanna). Bà xin phép xuất gia tỳ khưu ni và tiếp tục hành thiền. Nhờ có thể duy trì định tâm và phát triển minh sát trí mà một ngày kia, tâm thiền của bà chín mùi. Bà trở thành một bậc A-la-hán với Tứ Tuệ Phân Tích và các năng lực thần thông. Đức Phật xác nhận bà là người tinh thông giới luật đệ nhất trong số các tỳ khưu ni.

Các ba-la-mật của bà đã được tu tập từ thời giáo pháp của đức Phật Padumuttara (Thượng Liên Hoa) cho đến thời kỳ giáo pháp của đức Phật Kassapa (Ca Diếp). Hồi đó, bà là công chúa con của vua Kikì. Bà đã hành phạm hạnh Komāri trong suốt hai mươi ngàn năm. “Komāri brahmaccariya” là giữ ngũ giới, nhưng thay vì giới không tà dâm, là phải giữ sự trong trắng hoàn toàn, Bà đã trau dồi Tam học giới, định, tuệ khi còn là người tại gia trong suốt hai mươi ngàn năm như vậy. Các ba-la-mật của bà đã chín mùi trong thời kỳ giáo pháp của đức Phật Thích Ca. Bởi thế, dù điên loạn, bà vẫn có thể phục hồi tâm trí, hành theo Tam học và trở thành một vị A-la-hán.

Khi hành thiền, người như vậy cần phải có bậc thiện tri thức (kalyānamimitta) giúp đỡ. Bậc thiện trí ở đây có thể là những vị thầy có phẩm chất đạo đức hay bạn đồng phạm hạnh tốt. Thuốc men và thực phẩm thích hợp cũng là những trợ giúp cần thiết. Từ kinh nghiệm riêng của mình, tôi thấy hầu hết những người như họ khó có thể duy trì sự tập trung, nên thường họ không thành công.

Hỏi 6.12: Trường hợp một người không có những quan hệ tình cảm tốt đẹp của con người, nếu thành công trong việc đắc thiền thì có cải thiện được sự khéo léo của họ trong giao tiếp với mọi người không? Liệu việc đắc thiền có thể sửa được những vấn đề như vậy không?

Đáp 6.12: Những vấn đề này thường phát sinh do tâm sân (dosa). Đó là một trong những triền cái (chướng ngại cho thiền). Bao lâu một người không thể thay đổi được thái độ này, họ không thể đắc thiền cũng như các đạo – quả. Một thí dụ rõ ràng cho điều này là trường hợp của Tôn giả Xa-nặc (Channa Thera). Ông sinh cùng ngày với đức Bồ tát của chúng ta, trong hoàng cung của vua Tịnh Phạn ở Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ). Là con của một nữ tỳ, ông trở thành một trong những người bạn thời thơ ấu của thái tử Sĩ-đạt-đa. Điều này sau đó khiến ông phát sanh tâm ngã mạn đối với mọi người. Ông nghĩ rằng: “Người này là vua của ta; đức Phật là bạn ta; Pháp (dhamma) là pháp của chúng ta. Khi Ngài rời bỏ hoàng gia, chính ta đã theo Ngài đến bờ sông Anoma chứ nào phải ai khác. Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên v.v… cũng chỉ là những đóa hoa nở muộn mà thôi!” Vì nghĩ như vậy nên ông luôn luôn dùng những ngôn ngữ thô tháo, không có lòng tôn kính đối với các bậc trưỡng lão như Tôn giả Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên và các vị khác. Vì thế, chẳng một ai có quan hệ thân thiện với ông. Khi đức Phật còn tại thế, ông không hề đắc thiền hay một đạo-quả nào vì không thể loại bỏ được tâm ngã mạn và sân hận của mình.

Vào đêm nhập Vô Dư Niết-bàn, đức Phật dạy Tôn giả Ānanda nên thi hành hình phạt Phạm-đàn (Brahmadanda) đối với Tôn giả Channa. Phạm-đàn nghĩa là không người nào nói chuyện với Tôn giả Channa nữa dù ông ấy có muốn nói. Khi thấy không ai nói chuyện với mình thì lòng ngã mạn và sân hận của Tôn giả cũng mất. Tăng sự (Sanghakamma) này diễn ra trong ngôi chùa GhositārāmaKosambī, năm tháng sau ngày Niết-bàn của đức Phật.

Tôn giả Channa sau Tăng sự ấy bèn rời Ghositārāma, đi đến chùa Isipatana nơi vườn Lộc giả gần Benares. Ngài tinh tấn hành thiền nhưng không có kết quả. Vì thế, một hôm, Ngài đi đến Tôn giả Ānanda để thỉnh cầu giúp đỡ. Vì sao Ngài không thành công? Ngài cũng phân biệt tính chất vô thường, khổ và vô ngã của năm uẩn, nhưng lại không phân biệt duyên khởi (paticcasamuppāda). Tôn giả Ānanda đã dạy cho Ngài cách phân biệt duyên khởi, đồng thời còn dạy bài Kinh “Kaccānagotta[25] cho Ngài. Sau khi nghe xong bài pháp, Tôn giả đắc Nhập Lưu. Ngài tiếp tục thực hành và chẳng bao lâu trở thành một vị A-la-hán. Vì thế nếu một người có thể thay đổi được cá tánh xấu của mình và hành Chỉ-Quán đúng cách, họ có thể đắc thiền cũng như đạo-quả.

-ooOoo-

[1] Ps. I.1.4. Dhammaṭṭhitiñāna Niddeso (Mô tả về Pháp Trú Tri – Standing on Phenomena Knowledge Description). Hoặc xem trong Vs.XVII “Paññā Bhūmi Niddesa” B653 (“Mô tả về Đất cho Tuệ sanh” N284

[2] Mahānidāna Sutta (Kinh Đại Duyên, D.11.2); Nidāna Vagga (Phẩm Nhân Duyên) S.11)

[3] Ở đây, thiền sư Pa-Auk đang nói về năng lực thiền minh sát, vốn cho hành giả khả năng thấy chỉ năm thủ uẩn (S.A.III.I.VIII.7), chứ không phải nói về thần thông. Chúng ta biết Túc Mạng Thông (Pubbenivāsānussati abhiññā) có khả năng thấy: 1 – Các uẩn kết hợp với pháp siêu thế (lokuttara dhamma), đó là các uẩn (bốn/ năm trong Phạm Thiên giới; năm trong nhân/ thiên giới) của những người đã đắc một trong bốn Thánh đạo tâm và Thánh quả tâm; 2 – Các thủ uẩn (upādānakkhandha); 3 – Dòng tộc, tướng mạo, thức ăn, lạc và khổ, v.v… 4 – Các khái niệm như tên và chủng tộc v.v…

[4] Xem lại Mahānidāna Sutta (Đại Duyên Kinh) D.11. hoặc AIII.II.11.I

[5] Xem lại ghi chú cuối trang ở trên.

[6] Cách phân biệt xem lại Bài IV “Làm Thế Nào Để Phân Biệt Sắc”.

[7] Tư (cetanā) là một tâm sở thuộc hành uẩn được đức Phật xác nhân là yếu tố quyết định tính chất đạo đức của nghiệp.

[8] Trong cõi ngũ uẩn, danh-sắc phát sinh do duyên thức và ngược lại. Xem trên.

[9] Xem lại câu trả lời 3.12.

[10] Cũng có cái gọi là Phi quả thục uẩn (avipāka), có nghĩa các uẩn này là quả (phala) của một nhân (hetu). Chẳng hạn như trong sắc do tâm sanh, vốn không phải do nghiệp sanh.

[11] Vấn đề tương lai sẽ thay đổi như thế nào, xem thêm trên.

[12] Sanh (jāti) là sự thể hiện của các uẩn, các uẩn này cũng là danh-sắc. Xem thêm chi tiết ở Vs. XVIII. “Paññā Bhūmi Niddesa” (Mô tả Đất cho Tuệ sanh – Description of the Soil in which Understanding Grows.)

[13] Xem “Mahānidāna sutta” (Kinh Đại Duyên D11.2); “Nidāna Vagga” S.11

[14] Trong trường hợp này, tướng hơi thở (ānāpānanimitta) vốn khởi lên nương theo hơi thở bình thường, tự nhiên cũng được gọi là hơi thở vô – ra (Assāsa – passāsa nissāya uppannanimitta patha assāsa – passāsa sāmaññameva vutta). Vs.T1.VIII. “Anāpānassati Kathā B215″.

[15] Chi tiết liên quan đến việc tu tập các thiền vô sắc

[16] Xem câu trả lời 2.2 ở trên.

[17] Về vấn đề thân – tâm hay danh-sắc phụ thuộc lẫn nhua, xem lại trên.

[18] Tư (cetanā), một tâm sở trong nhóm hành, là sự cố ý, quyết tâm, chủ ý làm. Đức Phật bảo “tư là nghiệp”.

[19] Sammatta niyāma: chánh tánh quyết định.

[20] A.IV.IV.V.I “Sotānugata sutta

[21] Xem lại câu trả lời 4.3.

[22] Ngoài trừ các thiền chứng vô sắc thứ hai và thứ tư, khi hành giả tập trung vào tâm thuộc thiền vô sắc đi trước (không phải là một khái niệm). Xem lại phần “Bốn thiền vô sắc”  ở trên.

[23] Xem lại  để biết cách phân biệt các tiến trình tâm.

[24] M.III “Anupada sutta” – Bất Đoạn Kinh.

[25] S.II “Kaccānagotta Sutta” và S.III “Channa Sutta“.

-ooOoo-

BÀI PHÁP THOẠI 7

Tu tập các Tuệ Minh Sát như thế nào để thấy Niết-bàn

Trong bài giảng vừa rồi, chúng ta đã bàn luận một cách tóm tắt làm thế nào để phân biệt duyên khởi theo phương pháp thứ nhất và thứ năm. Hôm nay, chúng ta sẽ bàn đến cách làm thế nào tu tập các minh sát tuệ để thấy Niết-bàn.

Có mười sáu tuệ minh sát (Vipassanā ñāa) cần phải được tu tập theo tuần tự để thấy Niết-bàn.

Tuệ minh sát thứ nhất là Tuệ Phân Tích Danh Sắc (Nāmarūpapariccheda ñāa). Tuệ này đã được giải thích ở phần phân biệt danh-sắc rồi.

Tuệ minh sát thứ hai là Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên (Paccayapariggaha ñāa). Tuệ này cũng đã được giải thích trong bài giảng vừa rồi khi chúng ta nói về cách phân biệt các nhân của danh-sắc trong quá khứ, hiện tại và vị lai, đây cũng là cách phân biệt duyên khởi.

Sau khi tu tập xong hai tuệ ấy, hành giả cần phải hoàn thiện chúng bằng cách phân biệt nhiều lần tất cả danh, tất cả sắc và tất cả các chi phần của duyên khởi theo đặc tính, nhiệm vụ, sự thể hiện và nhân gần của chúng. Thực sự, khó có thể giải thích điều này theo lối tóm tắt, tốt hơn là hành giả phải học thêm chi tiết vào lúc hành thực thụ.

Bây giờ chúng ta sẽ đi vào các tuệ còn lại một cách tóm tắt.

Làm Thế Nào Để Tu Tập Tuệ Thẩm Sát (Tam Tướng)

Tuệ minh sát thứ ba là Tuệ Thẩm Sát (Sammasanañāa). Đó là thẩm sát các hành theo những phạm trù. Để tu tập tuệ này, hành giả chia các hành thành những phạm trù [1].

- Hai phạm trù là danh và sắc.
- Năm phạm trù là năm uẩn [2].
- Mười hai phạm trù là mười hai xứ [3].
- Mười hai phạm trù là mười hai chi phần của duyên khởi [4].
- Mười tám phạm trù là mười tám giới [5].

Sau đó, hành giả quán ba đặc tánh (tam tướng) vô thường, khổ và vô ngã trong mỗi phạm trù.

Chẳng hạn, đối với trường hợp của năm phạm trù, đức Phật trong “Kinh Vô Ngã Tướng” (Anattalakkhana Sutta) [6] đã dạy phân biệt năm uẩn (tất cả sắc, thọ, tưởng, hành và thức) với chánh trí tuệ theo ba cách:

1. “Cái này không phải của tôi” (neta mama)
2. “Cái này không phải là tôi” (nesohamasmi)
3. “Cái này không phải tự ngã của tôi” (nameso attā) [7].

Và trong “Khandha Sutta” (Kinh Uẩn), Tương Ưng Bộ III, đức Phật giải thích “tất cả” là: Quá khứ, hiện tại và vị lai; bên trong và bên ngoài; thô và tế; hạ liệt và cao thượng; xa và gần.

Để tu tập tuệ này, trước tiên hành giả phải thiết lập lại tứ thiền. Nếu hành giả thuộc hạng thuần quán đã tu tập thiền tứ đại thì lập lại định cho đến khi ánh sáng chói bừng và mạnh mẽ. Trong cả hai trường hợp, hành giả lấy “sắc” kể như phạm trù thứ nhất. Đó là hành giả phân biệt sắc thực của mỗi môn trong sáu căn môn, thấy ra sự sanh diệt của nó và biết đó là vô thường (anicca). Hành giả cần phải làm điều này ở bên trong và bên ngoài rồi dần dần mở rộng tầm tưởng của mình từ gần đến xa cho tới vũ trụ vô biên.

Theo cùng cách thức như trên, hành giả thấy ra cái khổ mà người ta phải thường xuyên cảm nhận do sự sanh và diệt của sắc ấy và biết đó là khổ (dukkha). Cuối cùng thấy sắc là rỗng không, không có một tự ngã thường hằng nào cả và biết đó kể như vô ngã (anatta).

Phạm trù kế tiếp, hành giả cần phải thấy được vô thường, khổ và vô ngã ở trong đó là danh. Trước tiên, phân biệt tất cả danh ở sáu môn, đó là thấy tâm và các tâm sở trong mỗi sát-na tâm của từng tiến trình thuộc sáu căn môn và bhāvaga (hữu phần) – tâm khởi lên giữa hai tiến trình nhận thức. Hành giả cũng theo đúng thể thức đã làm với sắc vậy.

Sau khi đã thấy hai phạm trù này (tức thấy danh và sắc thuộc sáu môn ở hiện tại), hành giả bây giờ cần phải thấy vô thường, khổ và vô ngã của danh-sắc trong suốt kiếp này, từ thức tái sanh (kiết sanh thức) cho tới tử tâm. Ở đây cũng vậy, hành giả thấy ba đặc tánh, mỗi lần một và làm đi làm lại, lúc bên trong và lúc bên ngoài.

Tiếp theo, hành giả cần thấy được vô thường, khổ và vô ngã của các kiếp quá khứ, hiện tại và vị lai mà hành giả đã phân biệt khi phân biệt duyên khởi. Ở đây cũng vậy, hành giả thấy ba đặc tánh, mỗi lần một (đặc tánh), bên trong và bên ngoài luân phiên nhau trong tất cả danh và sắc thuộc quá khứ, hiện tại và vị lai.

Sau đó, hành giả cũng cần phải thấy vô thường, khổ và vô ngã của mỗi trong mười hai chi phần thuộc duyên khởi trong ba thời quá khứ, hiện tại và tương lai theo phương pháp thứ nhất, mỗi lần một chi phần, lặp đi lặp lại, lúc bên trong, lúc bên ngoài như trước.

Ở giai đoạn này, hành giả có thể thấy rằng việc tu tập các tuệ minh sát cao hơn của mình được nhanh chóng hơn, đi hết giai đoạn này đến giai đoạn khác cho tới khi chứng đắc A-la-hán Thánh quả. Nếu không, có một vài cách luyện tập để tăng cường tuệ giác của hành giả.

Cách Tăng Cường Tuệ Minh Sát.

Bốn Mươi Cách Tưởng.

Bài tập đầu tiên là thấy vô thường, khổ và vô ngã của danh-sắc, bên trong và bên ngoài, ở quá khứ, hiện tại và tương lai theo bốn mươi cách tưởng khác nhau (cattārīsākāra anupassanā). Trong ngôn ngữ i, 40 cách tưởng này đều tận cùng với tiếp vĩ ngữ “to”, vì thế chúng ta gọi nôm na là 40 “to”.

Có mười cách tưởng khác nhau về vô thường:

1. Aniccato: vô thường
2. Palokato: phân tán
3. Calato: hay thay đổi
4. Pabbanguto: dễ hư hoại
5. Addhuvato: không bền
6. Vipariāmadhammato: phải chịu biến hoại
7. Asā rako: không có cốt lõi
8. Vibhavato: phải chịu diệt vong
9. Maraadhammato: phải chịu chết
10. Sankhatato: hữu vi.

Có hai mươi lăm cách tưởng về khổ.

1. Dukkhato: khổ
2. Rogato: bệnh hoạn
3. Aghato: tai họa
4. Gaṇḍato: ung nhọt
5. Sallato: mũi tên
6. Ābādhato: đau đớn
7. Upaddavato: bất hạnh
8. Bhatato: sợ hãi
9. Ītito: bệnh dịch
10. Upassagato: mối đe dọa
11. Atānato: không có sự bảo vệ
12. Aleato: không có nơi che chở
13. Asaraato: không có nơi nương tựa
14. Vadhakato: sát nhân
15. Aghamūlato: cội nguồn của tai ương
16. Ādīnavato: nguy hiểm
17. Sāsavato: phải chịu (ảnh hưởng) của lậu hoặc
18. Mārāmasato: miếng mồi của Ma vương
19. Jātidhammato: phải chịu sanh
20. Jarādhammato: phải chịu già
21. Byādhidhammato: phải chịu bệnh
22. Sokadhammato: khiến cho sầu khổ
23. Paridevadhammo: khiến cho bi ai
24. Upasāsadhammo:  khiến cho tuyệt vọng
25. Samkilesadhammo: phải chịu phiền não.

Có năm cách tưởng về vô ngã:

1. Anattato: vô ngã
2. Suññato: không
3. Parato: biệt lập
4. Rittato: trống rỗng
5. Tucchato: vô dụng.

Trong khi thấy bốn mươi “to” này trong danh-sắc, bên trong và bên ngoài, quá khứ, hiện tại và vị lai như vậy, tuệ giác của một số hành giả sẽ tiến triển đưa đến sự chứng đắc A-la-hán Thánh quả.

Ngoài ra, còn có cách luyện tập khác gọi là bảy cách quán sắc (rūpasattaka) và bảy các quán danh (nāmasattaka).

Bảy Cách Quán Sắc.

Sắc mà hành giả phân biệt trong bảy cách này là sắc thuộc bốn loại theo nguồn gốc (sắc do nghiệp sanh, do thời tiết sanh, do tâm sanh và do vật thực sanh).

(1) Cách thứ nhất: Hành giả thấy vô thường, khổ và vô ngã của sắc trong toàn bộ kiếp sống này từ lúc tái sanh cho đến lúc chết, cả ở bên trong lẫn bên ngoài.

(2) Cách thứ hai: Hành giả thấy vô thường, khổ và vô ngã của sắc ở những giai đoạn khác nhau trong kiếp này cả bên trong lẫn bên ngoài. Hành giả xem quãng đời này là một trăm năm và chia nó thành ba giai đoạn ba mươi ba năm. Rồi thấy rằng danh và sắc trong mỗi giai đoạn sanh và diệt ở đó, chứ không đi qua giai đoạn kế tiếp, điều đó có nghĩa chúng là vô thường, khổ và vô ngã vậy.

Kế đó chia quãng đời này thành những giai đoạn càng lúc càng nhỏ hơn và cũng thấy theo cách như vậy. Ở đây, hành giả lần lượt chia một trăm năm của cuộc đời này thành: mười giai đoạn 10 năm, hai mươi giai đoạn 5 năm, hai mươi lăm giai đoạn 4 năm, ba mươi ba giai đoạn 3 năm, năm mươi giai đoạn 2 năm, một trăm giai đoạn 1 năm, ba trăm giai đoạn 4 tháng, sáu trăm giai đoạn 2 tháng và hai ngàn bốn trăm giai đoạn nửa tháng, và cuối cùng chia mỗi ngày thành hai giai đoạn, rồi sáu giai đoạn. Ở mỗi trường hợp như vậy hành giả thấy ra rằng sắc trong một giai đoạn sanh lên và diệt ở đó chứ không chuyển qua giai đoạn kế tiếp, điều đó có nghĩa rằng nó là vô thường, khổ và vô ngã vậy.

Rồi giảm các giai đoạn xuống còn khoảng thời gian của mỗi chuyển động thân như bước tới, bước lui, nhìn trước, nhìn hai bên, co duỗi chân tay v.v… Sau đó hành giả chia mỗi bước chân thành sáu giai đoạn: nhấc, dở, bước tới, hạ, đặt và nhấn. Cũng thấy vô thường, khổ và vô ngã trong sắc của mỗi giai đoạn hàng ngày trong quãng đời một trăm năm này.

(3) Cách thứ ba: Hành giả thấy vô thường, khổ và vô ngã của sắc do vật thực sanh [8]. Đó là, hành giả thấy chúng trong sắc của các giai đoạn lúc đói và lúc đã thỏa mãn, và thấy rằng nó không di chuyển từ giai đoạn đói sang giai đoạn đã thỏa mãn (và ngược lại), mỗi ngày trong quãng đời một trăm năm này.

(4) Cách thứ tư: Hành giả thấy vô thường, khổ và vô ngã của sắc do thời tiết sanh. Đó là thấy chúng trong sắc của những giai đoạn lúc nóng, lúc lạnh và thấy rằng nó không chuyển từ giai đoạn của cảm giác nóng sang giai đoạn của cảm giác lạnh (và ngược lại), mỗi ngày trong quãng đời một trăm năm này.

(5) Cách thứ năm: Hành giả thấy vô thường, khổ và vô ngã của sắc do nghiệp sanh. Đó là, thấy rằng sắc của mỗi trong sáu căn môn sanh và diệt ở đó chứ không chuyển sang môn khác, mỗi ngày trong quãng đời một trăm năm này.

(6) Cách thứ sáu: Hành giả thấy vô thường, khổ và vô ngã của sắc do tâm sanh. Đó là thấy chúng trong sắc của các giai đoạn khi vui và hài lòng, khi không vui và buồn rầu, mỗi ngày trong quãng đời một trăm năm này.

(7) Cách thứ bảy: Hành giả thấy vô thường, khổ và vô ngã của sắc không linh hoạt trong hiện tại, tức là sắc không có sáu nội xứ, chẳng hạn như sắt, thép, đồng, chì, vàng, bạc, nhựa, ngọc trai, đá quý, đồi mồi, cẩm thạch, san hô, đất, đá, bê tông, cây cối… Các loại sắc đó chỉ tìm thấy ở bên ngoài.

Trên đây là bảy cách quán sắc.

Bảy Cách Quán Danh.

Trong bảy cách quán danh, hành giả thấy vô thường, khổ và vô ngã của các tâm – minh sát (danh) vốn thấy ba đặc tánh đó trong bảy cách quán sắc. Điều này có nghĩa rằng, đối tượng của hành giả, trong mỗi trường hợp, là một tâm minh sát, tâm này sẽ được hành giả thấy với một tâm minh sát theo sau [9].

(1) Cách thứ nhất: Hành giả thấy vô thường, khổ và vô ngã của sắc thuộc bảy cách quán sắc, nhưng thấy sắc chỉ như một nhóm. Kế đó, hành giả thấy vô thường, khổ và vô ngã của danh đã thấy sắc này. Nghĩa là, hành giả thấy sắc uẩn là vô thường và rồi thấy sự vô thường, khổ và vô ngã của chính tâm minh sát ấy trong mỗi trường hợp, với một tâm minh sát theo sau. Đối với sắc uẩn (sắc thấy theo nhóm) được thấy như khổ và vô ngã hành giả cũng làm theo cách thức như vậy.

(2) Cách thứ hai: Hành giả thấy vô thường, khổ và vô ngã của danh quán mỗi trong bảy cách quán sắc. Nghĩa là, hành giả thấy sắc ở mỗi trong bảy cách quán sắc là vô thường, rồi thấy sự vô thường, khổ và vô ngã của chính tâm minh sát đó trong mỗi trường hợp với một tâm minh sát theo sau. Đối với sắc được thấy như khổ và vô ngã hành giả cũng làm theo cách thức như vậy, và cũng làm vậy đối với mỗi trong các tâm minh sát trong những giai đoạn nhất định ở mỗi ngày của quãng đời một trăm năm này.

(3) Cách thứ ba: Hành giả lại thấy vô thường, khổ và vô ngã của danh quán mỗi trong bảy cách quán sắc, nhưng làm như thế bốn lần liên tiếp. Nghĩa là, hành giả lại thấy ở mỗi trong bảy cách quán sắc như vô thường và rồi thấy sự vô thường, khổ và vô ngã của tâm minh sát đầu tiên đó với một tâm thứ hai, và tâm minh sát thứ hai với một tâm thứ ba v.v… cho đến khi với tâm minh sát thứ năm hành giả thấy ra vô thường, khổ và vô ngã của tâm minh sát thứ tư.

(4) Cách thứ tư: Hành giả cũng làm như trước, nhưng tiếp tục cho đến với tâm minh sát thứ mười một, hành giả thấy ra vô thường, khổ và vô ngã của tâm minh sát thứ mười.

(5) Cách thứ năm: Hành giả thấy vô thường, khổ và vô ngã của danh để loại trừ các tà kiến. Ở đây, một lần nữa, hành giả thấy các tâm minh sát của bảy cách quán sắc, nhưng tăng cường tưởng vô ngã để vượt qua các tà kiến, đặc biệt là ngã kiến.

(6) Cách thứ sáu: Hành giả thấy ra vô thường, khổ và vô ngã của danh để loại trừ mạn. Một lần nữa, hành giả thấy các tâm minh sát của bảy cách quán sắc, nhưng tăng cường tưởng vô thường để vượt qua mạn.

(7) Cách thứ bảy: Hành giả thấy ra vô thường, khổ và vô ngã của danh để chấm dứt tham ái. Một lần nữa hành giả thấy các tâm minh sát của bảy cách quán sắc, nhưng tăng cường tưởng khổ để vượt qua tham ái.

Trên đây là bảy cách quán danh. Mặc dù không tuyệt đối cần thiết, song nếu thực hiện những bài tập này đối với danh và sắc thuộc hiện tại, quá khứ và vị lai, bên trong và bên ngoài sẽ rất lợi ích.

Cùng với việc hoàn tất những bài tập này, danh và sắc chắc chắn sẽ trở nên rõ ràng đối với hành giả.

Đến đây, phần giải thích về cách làm thế nào để tu tập tuệ thẩm sát các hành trong các phạm trù đã hoàn tất, như vậy chúng ta sẽ bàn đến cách tu tập tuệ về sự sanh diệt của các hành.

Hành Giả Tu Tập Sanh Diệt Như Thế Nào.

Tuệ Sanh Diệt (Udayabbaya Ñāa) là tuệ tri sự sanh và diệt của các hành: danh-sắc, năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, Tứ Thánh Đế và duyên khởi (hay mười hai nhân duyên), bên trong và bên ngoài, ở hiện tại, quá khứ và vị lai [10]. Thực sự tuệ hay trí này gồm hai:

1. Tuệ về nhân duyên (paccayato) – nhân duyên sanh và diệt của các hành.
2. Tuệ về sát-na (khaato) – sát-na sanh và diệt của các hành.

Để thấy được nhân duyên sanh và diệt của các hành, hành giả phải thấy nó theo phương pháp thứ năm trong hai phương pháp phân biệt duyên khởi như đã mô tả trong bài giảng trước.

Để thấy được sát-na sanh và diệt của các hành, hành giả phải thấy năm uẩn sanh và diệt như thế nào trong mỗi sát-na tâm, từ tái sanh cho đến chết của mỗi kiếp hành giả phân biệt.

Có hai phương pháp để tu tập Tuệ Sanh Diệt. Phương pháp tóm tắt (chỉ thấy tính chất nhất thời của các hành) và phương pháp chi tiết (thấy cả hai – nhân duyên và tính chất nhất thời của các hành). Ở đây, tôi chỉ giải thích phương pháp chi tiết mà thôi.

Phương pháp chi tiết được tu tập trong ba giai đoạn. Đó là, hành giả thấy:

1. Chỉ sự sanh (udaya) – nhân duyên và sát-na sanh của các hành.
2. Chỉ sự diệt (vaya) – nhân duyên và sát-na diệt của các hành.
3. Cả sanh lẫn diệt (udayabbaya) – nhân duyên và sát-na sanh – diệt của các hành.

Tu tập Tuệ Sanh Diệt theo phương pháp thứ năm của duyên khởi như thế nào?

- Quán tánh sanh.

Để khởi sự cho việc tu tập Tuệ Sanh – Diệt theo phương pháp chi tiết, hành giả phải thấy đi thấy lại nhiều lần nhân duyên sanh của các hành và sát-na sanh của chúng. Đây gọi là quán tính chất sanh (samudayadhammānupassi).

Chẳng hạn, hành giả thấy nhân duyên sanh của sắc theo phương pháp thứ năm của duyên khởi như đã vừa đề cập. Điều này có nghĩa là hành giả nhìn trở lại cho tới những sát-na cận tử của kiếp trước để thấy năm nhân quá khứ đưa đến sự khởi sanh (udaya) của sắc do nghiệp sanh trong kiếp này. Tuần tự từng pháp một, hành giả thấy sự sanh khởi của vô minh, ái, thủ, hành và nghiệp. Mỗi pháp tạo ra sự sanh khởi của sắc do nghiệp sanh trong kiếp này như thế nào.

Sau đó, hành giả thấy sự sanh của sắc do nghiệp sanh trong mỗi sát-na tâm, từ tái sanh cho đến chết.

Điều này có nghĩa là hành giả thấy năm uẩn vào lúc sanh (udaya) của những tâm ngoài tiến trình (vīhimuttacitta), đó là tâm tục sinh (paisandhicitta – kiết sanh thức), tâm hữu phần (bhavaga) và tâm tử (cuticitta). Hành giả cũng thấy sự sanh của năm uẩn thuộc mỗi sát-na tâm trong bất kỳ tiến trình tâm (vīthi) ngang qua sáu môn nào xen vào giữa (những tâm ngoài tiến trình ấy). Hành giả thấy điều này trong mỗi kiếp quá khứ mà hành giả đã phân biệt và trong tất cả các kiếp vị lai cho đến tận thời điểm Bát Niết-bàn của hành giả [11].

Sau đó, hành giả cũng cần phải thấy sự sanh theo nhân duyên của sắc tuần tự do thời tiết sanh, do tâm sanh và do vật thực sanh. Hành giả thấy vì sao:

- Tâm khiến cho sắc khởi lên: sắc do tâm sanh.
- Thời tiết khiến cho sắc khởi lên: sắc do thời tiết sanh.
- Vật thực khiến cho sắc khởi lên: sắc do vật thực sanh.

Trong mỗi trường hợp như vậy, hành giả cũng thấy sự khởi sanh trong sát-na của loại sắc đặc biệt.

Sau khi làm xong điều này, hành giả còn phải thấy sự sanh theo nhân duyên và theo sát-na của danh; thấy sự sanh của danh-sắc theo cùng cách thức như vậy trong kiếp kế. Tuy nhiên, để liệt kê đầy đủ chi tiết ở đây sẽ phải mất một thời gian nên chúng ta sẽ thông qua và trong mỗi trường hợp chỉ giải thích chi tiết về sắc mà thôi.

- Quán tánh diệt.

Sau khi đã thấy sự sanh (udaya) theo nhân duyên và theo sát-na của danh và sắc, giờ hành giả sẽ thấy đi thấy lại nhiều lần chỉ sự diệt (vaya) của danh và sắc ấy. Đây gọi là quán tánh diệt (vayadhammānupassi).

Sự diệt của vô minh, ái, thủ, các hành và nghiệp lực[12] xảy ra khi hành giả đắc A-la-hán, và sự diệt của ngũ uẩn xảy ra vào lúc Bát Niết-bàn của hành giả. Trong khi sự sanh theo nhân duyên là loại vô minh, ái, thủ, hành và nghiệp lực riêng biệt mà hành giả phân biệt ở mỗi kiếp nơi nó xảy ra thì sự diệt lại luôn luôn xảy ra ở cùng một kiếp – tức khi năm uẩn không còn sanh nữa sau Bát Niết-bàn (Parinibbāna). Mặc dù vậy, Niết-bàn và A-la-hán Thánh đạo thực sự vẫn không hiển lộ vì chúng ta vẫn chưa chứng đắc Bốn Thánh Đạo Tuệ (maggañāa) và Bốn Thánh Quả Tuệ (phalañāa). Sở dĩ chúng ta hiểu được rằng Parinibbàna (sự diệt độ) của chúng ta đã xảy ra vì không còn sự sanh của năm uẩn mà thôi.

Chẳng hạn hành giả thấy sự diệt theo nhân duyên (nirodha) của sắc theo phương pháp thứ năm của duyên khởi. Đó là khi hành giả mong đợi thời điểm hành giả trở thành một vị A-la-hán và thấy rằng khi đắc A-la-hán Thánh đạo, A-la-hán Thánh quả thì tất cả mọi phiền não đều diệt và vào cuối kiếp sống ấy các hành diệt tận – đó là cái thấy trực tiếp sự kiện Bát Niết-bàn của hành giả. Sau sự kiện ấy, danh-sắc mới không còn sanh hay diệt nữa. Nếu hành giả đắc A-la-hán trong kiếp này, sự kiện đó sẽ là ở tương lai. Nếu hành giả đắc A-la-hán ở trong một kiếp tương lai nào đó của mình thì sự kiện đó cũng ở tương lai. Lần lượt hành giả thấy rằng sự diệt (nirodha) của vô minh, ái, thủ, các hành và nghiệp theo tuần tự (mỗi chi phần diệt) khiến cho sắc do nghiệp sanh diệt.

Sau khi đã thấy được sự diệt theo nhân duyên của sắc do nghiệp sanh, bây giờ hành giả chỉ thấy sự diệt theo sát-na của sắc ấy.

Sau đó, hành giả thấy sự diệt theo sát-na của sắc nghiệp trong mỗi sát-na tâm, từ sanh cho đến chết, trong mỗi kiếp quá khứ và tương lai mà hành giả đã phân biệt[13]. Điều này có nghĩa là hành giả thấy năm uẩn vào lúc sanh của các tâm ngoài tiến trình như kiết sanh thức, các tâm hữu phần và tâm tử. Hành giả cũng thấy sự sanh của năm uẩn ở mỗi sát-na tâm trong bất kỳ tiến trình tâm ngang qua sáu môn nào xen vào giữa (các tâm ngoài tiến trình ấy).

Sau đó, hành giả cần phải thấy sự diệt theo nhân duyên của sắc do tâm sanh, do thời tiết sanh và do vật thực sanh, lần lượt từng sắc một. Tức là hành giả thấy vì sao:

- Sự diệt của tâm lại khiến cho có sự diệt của sắc do tâm sanh.
- Sự diệt của thời tiết khiến cho có sự diệt của sắc do thời tiết sanh.
- Sự diệt của vật thực khiến cho có sự diệt của sắc do vật thực sanh.

Trong mỗi trường hợp, hành giả cũng thấy sự diệt theo sát-na của loại sắc đặc biệt ấy.

Sau việc này, hành giả phải thấy sự diệt theo nhân duyên và theo sát-na của sắc nữa.

- Quán tánh sanh và diệt

Một khi hành giả đã thấy được sự diệt của danh-sắc theo nhân duyên và theo sát-na rồi, lúc này hành giả sẽ thấy đi thấy lại nhiều lần cả sự sanh lẫn sự diệt của danh-sắc ấy. Đây gọi là quán tánh sanh diệt (samudayavayadhammānupassi). Nó đòi hỏi phải thấy, trước tiên sự sanh và diệt theo nhân duyên của chúng, sau đó đến sự sanh và diệt theo sát-na của chúng. Hành giả thấy (mỗi danh-sắc) theo ba cách liên tiếp:

1. Sự sanh của nhân và quả của nó.
2. Sự diệt của nhân và quả của nó.
3. Tính vô thường của nhân và quả của nó.

Chẳng hạn hành giả thấy theo tuần tự vì sao:

- Sự sanh của mỗi nhân: vô minh, ái, thủ, các hành và nghiệp khiến cho có sự sanh của sắc do nghiệp sanh.
- Sự diệt của mỗi nhân ấy khiến cho có sự diệt của sắc do nghiệp sanh.
- Mỗi nhân và sắc nó sanh ra đó đều là vô thường.

Cũng vậy, hành giả thấy theo tuần tự vì sao:

- Tâm lại khiến cho có sự sanh khởi của sắc do tâm sanh.
- Sự diệt của tâm khiến cho có sự diệt của sắc do tâm sanh.
- Tâm là vô thường và sắc do tâm sanh ấy cũng vô thường.

Đối với sắc do thời tiết sanh, sắc do vật thực sanh, hành giả cũng thấy theo cách như vậy.

Đây là cách hành giả thấy sự sanh và diệt của sắc vừa theo nhân duyên lẫn theo sát-na. Sau đó hành giả phải thấy sự sanh và diệt của danh theo nhân duyên và theo sát-na.

Như vậy, theo cách vừa phác họa, hành giả thấy sự sanh và diệt theo sát-na và theo nhân duyên cũng của năm uẩn, đồng thời thấy tam tướng vô thường, khổ và vô ngã trong năm uẩn ấy. Hành giả phải làm công việc này đối với năm uẩn bên trong, năm uẩn bên ngoài và năm uẩn thuộc quá khứ, hiện tại và vị lai.

Cách Tu Tập Tuệ Sanh Diệt Theo Phương Pháp Thứ Nhất Của Duyên Khởi.

Kế tiếp hành giả cũng cần phải tu tập tuệ này với phương pháp thứ nhất của duyên khởi. Trong trường hợp này, để thấy sự sanh theo nhân duyên của các hành, hành giả thấy các pháp duyên sanh theo chiều thuận tuần tự từng pháp một và thấy ra rằng[14]:

- Vô minh (1) duyên hành (2)
- Hành duyên thức (3)
- Thức duyên danh-sắc (4)
- Danh-sắc duyên lục nhập (5)
- Lục nhập duyên xúc (6)
- Xúc duyên thọ (7)
- Thọ duyên ái (8)
- Ái duyên thủ (9)
- Thủ duyên hữu (10)
- Hữu duyên sanh (11)
- Sanh duyên lão, tử , sầu, bi, khổ thân, khổ tâm và tuyệt vọng (12).

Để thấy sự diệt của các hành theo nhân duyên ở A-la-hán Thánh quả và lúc nhập Vô Dư Niết-bàn, hành giả thấy các pháp duyên diệt theo chiều thuận tuần tự từng pháp một và nhận ra rằng[15]:

- Cùng với sự diệt không còn dư tàn của vô minh, các hành cũng diệt.
- Với sự diệt của các hành, thức diệt.
- Với sự diệt của thức, danh-sắc diệt.
- Với sự diệt của danh-sắc, lục nhập diệt.
- Với sự diệt của lục nhập, xúc diệt.
- Với sự diệt của xúc, thọ diệt.
- Với sự diệt của thọ, ái diệt.
- Với sự diệt của của ái, thủ diệt.
- Với sự diệt của thủ, hữu diệt.
- Với sự diệt của hữu, sanh diệt.
- Với sự diệt của sanh, già, chết, sầu, bi, khổ thân, khổ tâm và tuyệt vọng diệt.

Chính theo cách này mà mọi hình thức của khổ diệt.

Như trước, hành giả thấy cả sự sanh theo nhân duyên và theo sát-na lẫn sự diệt theo nhân duyên và theo sát-na của các hành. Hành giả thấy các pháp duyên sanh và duyên diệt theo chiều thuận tuần tự từng pháp một, đó là:

1. Vô minh duyên cho các hành.
2. Với sự diệt không còn dư tàn của vô minh, các hành cũng diệt.
3. Vô minh là vô thường, các hành cũng vô thường.

Hành giả thấy các pháp duyên khởi theo cùng cách ấy, ở bên trong và bên ngoài, ở quá khứ, hiện tại và vị lai.

Đây là sự giải thích hết sức tóm tắt về cách làm thế nào để tu tập Tuệ Sanh và Diệt của các hành.

Làm Thế Nào Để Vượt Qua Mười Tùy Phiền Não Của Minh Sát

Khi hành giả áp dụng các phương pháp này và tuệ giác của hành giả càng lúc càng trở nên mạnh hơn, chính ở giai đoạn này, mười tùy phiền não của minh sát (dasa upakkilesa) có thể phát sinh. Đó là[16]:

1. Ánh sáng (obhāsa)
2. Tuệ (ñāa)
3. Hỷ (pīti)
4. Khinh an (passaddhi)
5. Lạc (sukha)
6. Quyết định (adhimokkha)
7. Tinh tấn (paggaha)
8. Niệm (upaṭṭthāna)
9. Xả (upekkha)
10. Tham chấp (nikanti)

Ngoại trừ ánh sáng (hào quang) và tham chấp ra, các tùy phiền não còn lại là những pháp thiện, và do vậy không phải là những phiền não. Tuy nhiên chúng có thể trở thành những đối tượng cho bất thiện pháp (tức là hành giả có thể chấp trước vào chúng), đó là lý do vì sao chúng được gọi là những tùy phiền não. Nếu hành giả kinh nghiệm một trong những tùy phiền não của minh sát này, hành giả cần phải vượt qua sự tham chấp và mong mỏi rất có thể sẽ khởi sanh nhờ thấy nó là vô thường, khổ và vô ngã. Theo cách đó, hành giả mới có thể tiếp tục phát triển tiến bộ của mình được.

Hành Giả Tu Tập Tuệ Quán Sự Tan Rã Như Thế Nào

Sau khi đã tu tập xong tuệ quán sự sanh diệt, tuệ giác của hành giả về các hành được bền vững và thanh tịnh hơn. Lúc này hành giả phải tu tập tuệ quán sự tan rã (bhanga ñāa). Để làm được điều này, hành giả chỉ tập trung vào sát-na diệt (vaya) và tan hoại (bhanga) của các hành. Hành giả không thấy sự sanh của các hành, không thấy sự trú (hiti) của các hành, không thấy các tướng (nimitta) của các hành riêng biệt, không thấy sự khởi chuyển của quá trình tạo ra các hành. Sử dụng năng lực minh sát trí của mình, hành giả chỉ thấy sự tan hoại của các hành và tưởng tri chúng là vô thường, khổ và vô ngã.

1. Hành giả thấy sự hoại diệt, sự sụp đổ và tan hoại của các hành, tức thấy được tính chất vô thường của chúng.
2. Hành giả thấy sự tan rã liên tục của các hành là đáng sợ, tức thấy được tính chất khổ của chúng.
3. Hành giả thấy sự không tồn tại của bất kỳ một cốt lõi thường hằng nào trong các hành, tức thấy được tính chất vô ngã.

Hành giả phải thấy vô thường, khổ và vô ngã không chỉ ở sự tan hoại của danh-sắc mà còn trong sự tan hoại của các tâm minh sát đã thấy được điều này nữa. Tức là, hành giả phải thấy sự hoại diệt của sắc và biết nó là vô thường. Đó là tâm minh sát thứ nhất của hành giả. Rồi, với một tâm minh sát thứ hai, hành giả thấy sự tan hoại của tâm minh sát thứ nhất, và như vậy, biết nó là vô thường nữa. Hành giả cũng làm thế với danh, rồi lại làm như vậy đối với danh và sắc để tuệ tri chúng là khổ và vô ngã. Hành giả cứ lập đi lập lại những bài tập này nhiều lần, luân phiên giữa bên trong và bên ngoài, giữa danh và sắc, các hành (thuộc) nhân và các hành (thuộc) quả ở quá khứ, hiện tại và vị lai[17].

Tuệ Tri Mười Một Tuệ Minh Sát Đầu Tiên

Khi hành giả tiếp tục phân biệt sự trôi qua và diệt của các hành theo cách này, tuệ giác vững mạnh của hành giả sẽ tiến triển qua sáu minh sát tuệ kế tiếp.

Đến giai đoạn này, hành giả đã tu tập được mười một tuệ đầu trong số mười sáu tuệ minh sát. Năm tuệ đầu mà hành giả đã tu tập trước đó là:

1. Tuệ Phân Tích Danh Sắc (Nāma-rūpa pariccheda ñāa)
2. Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên (Paccaya – pariggaha ñāa)
3. Tuệ Thẩm Sát (Sammasana ñāa)
4. Tuệ (quán) Sự Sanh Diệt (Udayabba ñāa)
5. Tuệ (quán) Sự Tan Hoại (Bhanga ñāa)

Và sáu tuệ kế tiếp mà hành giả sẽ đi qua là:

6. Tuệ (quán) Sự Kinh Úy (Bhaya ñāa)
7. Tuệ (quán) Sự Nguy Hiểm (dīnava ñāa)
8. Tuệ Yểm Ly (Nibbidā ñāa)
9. Tuệ Dục Thoát (Muñcitukamyatā ñāa)
10. Tuệ Giản Trạch (Paisankhā ñāa)
11. Tuệ Xả Hành (Sankhārupekkhā ñāa)

Bởi lẽ hành giả đã tu tập năm tuệ minh sát đầu một cách thấu đáo nên sáu tuệ kế tiếp cũng sẽ nhanh chóng phát triển. Có một vài hướng dẫn thêm cho các tuệ này, song chúng tôi không có đủ thời gian để giải thích ở đây.

Biết và Thấy Niết-bàn

Sau khi chứng đắc các tuệ này, hành giả vẫn tiếp tục công việc thấy sự trôi qua và diệt mất của mỗi hành khi chúng khởi lên, với ước muốn thoát khỏi chúng, hành giả sẽ thấy ra rằng cuối cùng tất cả các hành đều diệt. Tâm hành giả trực tiếp biết và thấy Niết-bàn – đó là ý thức trọn vẹn về (vô vi) Niết-bàn kể như đối tượng.

Khi tâm thấy Niết-bàn, hành giả kinh qua năm tuệ còn lại cùng với sự khởi lên của tiến trình tâm đạo (maggavīthi). Năm tuệ đó là:

12. Tuệ Thuận Thứ (Anulama ñāa)
13. Tuệ Chuyển Tộc (Gotrabhù ñāa)
14. Tuệ Đạo (Magga ñāa)
15. Tuệ Quả (Phala ñāa)
16. Tuệ Phản Khán (Paccavekkhana ñāa)

Tiến trình tâm đạo qua đó năm tuệ cuối cùng này sanh lên có bảy giai đoạn:

1. Một ý môn hướng tâm khởi lên thấy các hành kể như vô thường, khổ hoặc vô ngã tùy theo cách Tuệ Xả Hành khởi như thế nào.

2. Một tốc hành tâm (javana) đầu tiên khởi lên (làm “công việc chuẩn bị” – Parikamma), thấy các hành theo cùng cách ấy. Nó duy trì tính tương tục của tâm[18].

3. Một tốc hành tâm thứ hai khởi lên (“cận hành” – upacāra), cũng thấy các hành theo cùng cách ấy.

4. Một tốc hành tâm thứ ba khởi lên (“thuận thứ”" – anuloma), cũng thấy các hành theo cùng cách ấy.

Thực ra, ba tốc hành tâm (chuẩn bị, cận hành và thuận thứ) này là thành phần của tuệ thứ mười hai – Tuệ Thuận Thứ (anuloma ñāa).

Thuận (thứ) theo cái gì? Theo những gì đã đến trước và theo những gì sẽ đến sau. Tuệ này thuận theo những phận sự thấy sự thực trong tám tuệ minh sát đã đến trước (từ Tuệ Quán Sự Sanh Diệt đến Tuệ Xả Hành), và nó cũng thuận theo ba mươi bảy pháp thuộc tâm đạo[19] dự phần vào sự giác ngộ sẽ đến sau. Tuệ Thuận Thứ là tuệ cuối cùng có các hành kể như đối tượng của nó.

5. Một tốc hành tâm thứ tư khởi lên có Niết-bàn làm đối tượng. Đây là tuệ thứ mười ba là Tuệ Chuyển Tộc (Gotrabhū ñāa).

Mặc dù tâm này biết (vô vi) Niết-bàn, nó vẫn không hủy diệt các phiền não, nhiệm vụ của nó là chuyển tâm từ phàm tộc sang thánh tộc mà thôi.

6. Một tốc hành tâm thứ năm khởi lên, có Niết-bàn làm đối tượng. Đây là tuệ thứ mười bốn, vốn tiêu diệt các phiền não thích đáng – Tuệ Đạo (Magga ñāa).

7. Tốc hành tâm thứ sáu và thứ bảy khởi lên với Niết-bàn làm đối tượng. Chúng là tuệ thứ mười lăm – Tuệ Quả (Phala ñāa).

Phản Khán Tuệ (Paccavekkhana ñāa)

Tuệ thứ mười sáu và cũng là tuệ cuối cùng là Tuệ Phản Khán. Tuệ này làm nhiệm vụ xét lại năm pháp:

1. Xét lại Đạo Tuệ
2. Xét lại Quả Tuệ
3. Xét lại Niết-bàn
4. Xét lại những phiền não đã bị tiêu diệt
5. Xét lại những phiền não chưa bị tiêu diệt[20].

Như vậy hành giả đã đạt đến chánh trí về Tứ Thánh Đế và đã tự mình chứng ngộ Niết-bàn. Với sự chứng ngộ này, tâm hành giả đã được tịnh hóa và thoát khỏi mọi tà kiến. Nếu hành giả cứ tiếp tục theo cách này, có thể hành giả sẽ đạt đến A-la-hán Thánh quả và nhập Vô Dư Niết-bàn.

Dĩ nhiên còn có nhiều chi tiết về việc tu tập tuệ này nhưng chúng tôi phải bỏ qua để bài giải thích này được tóm gọn như có thể. Cách tốt nhất để học về pháp hành này là tham dự một khóa thiền với một vị thiền sư có đủ khả năng vì lúc ấy hành giả có thể học một cách hệ thống hơn theo tuần tự từng bước một.

*

HỎI ĐÁP 7

Hỏi 7.1: Sự khác nhau giữa tưởng (saññā) và tưởng uẩn (saññākkhandha); giữa thọ (vedāna) và thọ uẩn (vedānakkhandha) là gì?

Đáp 7.1: Mười một loại tưởng hợp lại với nhau thì gọi là tưởng uẩn. Mười một loại thọ hợp lại với nhau thì gọi là thọ uẩn. Thế nào là mười một? Quá khứ, hiện tại, vị lai, bên trong, bên ngoài, thô, tế, hạ liệt, cao thượng, gần và xa. Cả năm uẩn cần được hiểu theo cách như vậy. Có thể xem lại Kinh Uẩn (Khandha Sutta) trong Tương Ưng Bộ Kinh để có thêm lời giải thích.

Hỏi 7.2: Ký ức, sự suy đoán và sáng tạo thuộc về tâm sở nào? Chúng là một phần của năm uẩn, nhưng tại sao chúng lại trở thành khổ (dukkha)?

Đáp 7.2: Thế nào là ký ức? Nếu quý vị nhớ đến các đối tượng thiền chỉ, như tướng kasiṇa hoặc tướng hơi thở thì đó là chánh niệm (sammā sati). Nếu quý vị có thể thấy danh-sắc chân đế (paramattha nāma-rūpa) ở quá khứ, hiện tại và vị lai cùng với các nhân của chúng và thấy chúng là vô thường, khổ và vô ngã, đây cũng là chánh niệm. Niệm kết hợp với minh sát trí. Niệm này có ba mươi ba tâm hành phối hợp, tất cả hợp chung lại gọi là bốn danh uẩn (nāmakkhandha). Nhớ đến Đức Phật, Giáo Pháp và Chư Tăng (Buddha, Dhamma, Sangha), và những dịp cúng dường đã làm trong quá khứ cũng là chánh niệm. Khi nhớ đến các hành động tạo ra thiện pháp thì đó cũng là chánh niệm, nhưng sẽ không phải là chánh niệm khi nó tạo ra các bất thiện pháp. Đây là những tưởng bất thiện, tức là những tưởng kết hợp với các pháp bất thiện; chúng cũng là bốn danh uẩn.

Các danh uẩn dù thiện hay bất thiện cũng đều vô thường. Ngay khi sanh lên, chúng liền diệt. Chúng phải chịu sanh diệt liên tục như vậy nên gọi chúng là khổ.

Hỏi 7.3: Tâm sở nào làm việc “bắt lấy đối tượng” liên hệ?

Đáp 7.3: Tất cả tâm (citta) và các các tâm sở phối hợp (cetasika) cùng bắt một đối tượng. Không có đối tượng, chúng (tâm, tâm sở) không thể khởi lên. Tâm và các tâm sở phối hợp là chủ thể (nhận thức). Chủ thể – ārammaika dhamma – không thể khởi lên mà không có đối tượng (àrammana). Arammaika là pháp (dhamma) bắt lấy đối tượng. Nói cách khác, chủ thể là pháp biết một đối tượng. Nếu không có đối tượng cần được biết thì sẽ không có pháp làm việc biết. Các nhóm tâm và tâm sở khác nhau bắt lấy những đối tượng khác nhau. Có tám mươi chín loại tâm và năm mươi hai loại tâm sở, tất cả bắt lấy đối tượng tương ứng của chúng. Chẳng hạn, các tâm đạo và tâm quả cùng với các tâm sở (maggacitta – cetasikaphalacitta – cetasika) chỉ bắt một đối tượng duy nhất là Niết-bàn. Một tâm thiền hơi thở và các tâm sở của nó chỉ bắt một đối tượng duy nhất là tợ tướng hơi thở (ānāpānā patibhāga nimitta). Tâm và tâm sở thiền kasiṇa đất chỉ bắt tợ tướng kasiṇa đất là đối tượng. Tất cả những tâm ấy là những tâm siêu thế và sắc giới. Riêng tâm dục giới (kāmāvacaracitta) bắt lấy những đối tượng tốt xấu khác nhau. Nếu muốn biết rõ hơn về vấn đề này, quý vị nên nghiên cứu Vi Diệu Pháp, chính xác hơn nên xem phần Ārammaa (đối tượng) của bộ Vi Diệu Pháp Yếu Nghĩa (Abhidhammattha Sangaha).

Hỏi 7.4: Làm việc phục vụ cho tăng chúng (Sangha) có ảnh hưởng gì đến thiền của mình không? Điều đó tùy thuộc vào các nhân, hay chúng ta có thể thành tựu một mức độ định nào đó rồi sau hãy làm việc thì không có ảnh hưởng gì?

Đáp 7.4: Trong nhiều bài kinh đức Phật thường quở trách các vị tỳ khưu làm những việc sau:

- Ưa thích làm việc (kammārāmatā)
- Ưa thích nói chuyện (bhassārāmatā)
- Ưa thích ngủ nghỉ (niddārāmatā)
- Ưa thích hội chúng (sanghaikārāmatā)
- Không phòng hộ các căn (indriyesu agutta dvāratā)
- Không tiết độ trong ăn uống (bhojāne amattaññutā)
- Không cố gắng thực hành Chỉ-Quán với sự tiết chế ngủ nghỉ (jāgariye ananuyuttā)
- Lười biếng không thực hành Chỉ-Quán (kusita, kosajja)

Vì thế, nếu có công việc gì (hành giả) cần phải làm cho Tăng chúng hay cho chính bản thân mình thì hãy cố gắng hoàn tất nhanh chóng càng sớm càng tốt để trở lại với việc hành thiền của mình với tâm an tịnh.

Nếu hành giả thích làm việc nhiều quá thì đó là một chướng ngại cho thiền vì niệm vững chắc và mạnh mẽ trên đối tượng thiền lúc ấy khó có thể đạt được. Nói chung, thích làm việc sẽ không tạo ra định tâm tốt được.

Hỏi 7.5: Liệu một người tu tập thiền với ý xấu có thể được lợi gì từ việc đắc thiền không? Và còn về một người xài tiền của Tăng[21] cho mục đích cá nhân của họ và không nghĩ việc làm đó là sai lầm. Khi họ đắc tứ thiền, tâm của họ hoặc quan kiến của họ có thay đổi không?

Đáp 7.5: Trong trường hợp này quý vị nên phân biệt một người tại gia và một vị tỳ khưu. Nếu một vị tỳ khưu đã phạm một tội (āpatti) thì đó làm một chướng ngại cho việc đắc thiền. Chẳng hạn, nếu họ chiếm hữu vật dụng (tứ vật dụng) hợp pháp của Tăng để xài riêng cho mình thì điều đó sẽ trở ngại cho việc đắc thiền, trừ khi họ sửa sai tội đó (āpatti). Có nghĩa là vị ấy phải trả lại những vật dụng có giá trị tương đương với những vật dụng hợp pháp (của Tăng) mà vị ấy đã dùng. Rồi vị ấy phải thú tội trước Tăng hoặc một vị tỳ khưu khác. Sau khi sám hối tội lỗi, nếu vị ấy hành Chỉ-Quán, vị ấy có thể đắc thiền hoặc đạo – quả. Còn nếu không sửa lỗi mà vị ấy thực sự đắc thiền thì có thể vị ấy không phải là một vị tỳ khưu thực thụ và do đó, tội ấy cũng không phải là một tội.

Đối với người tại gia, thanh tịnh giới hạnh cũng cần thiết. Và nếu họ làm cho trong sạch giới hạnh của mình trước khi hành thiền là điều rất tốt, tức là, nếu họ thọ trì ngũ giới hoặc bát giới. Nhờ thọ trì giới luật, trong lúc hành thiền, giới hạnh của họ trong sạch, họ có thể đắc thiền, mặc dù trước khi thiền họ là người xấu. Ví dụ, trong Chú Giải Pháp Cú (Dhammapada) có ghi lại câu chuyện về nữ tỳ Khujjuttarā. Cô là tỳ nữ của Sāmāvatī – Hoàng hậu của vua Udena. Hàng ngày vua Udena đưa cho cô tám đồng tiền vàng để mua hoa cho hoàng hậu, nhưng cô chỉ mua bốn đồng, còn lấy bốn đồng cho mình. Ngày nọ, đức Phật cùng tăng chúng đến dự trai tăng tại nhà người bán hoa. Khujjuttarā phụ người bán hoa dâng vật thực cho chư tăng. Sau bữa ăn, đức Phật thuyết pháp. Trong suốt thời pháp ấy, Khujjuttarā khởi tâm hổ thẹn vì đã ăn cắp tiền và quyết định từ nay về sau không hành động như thế nữa. Quyết định của cô là một thí dụ về giới đã được thanh tịnh trong khi lắng nghe pháp. Sau khi nghe hết thời pháp với tâm thiền, Khujjuttarā trở thành một vị Nhập Lưu. Từ đó, cô đã mua hoa với tất cả số tiền vua đưa. Khi đưa hoa cho hoàng hậu Sàmàvatì, hoàng hậu rất ngạc nhiên vì thấy hoa nhiều hơn thường lệ. Khujjuttarā liền kể lại tất cả[22].

Cũng nên xét đến trường hợp của Tôn giả Angulimāla. Trước khi trở thành một tỳ khưu, Ngài là một sát nhân khét tiếng. Nhưng khi đã là một tỳ khưu, Ngài đã thanh tịnh giới hành của mình và tinh tấn hành thiền. Vì thế Ngài đã đắc A-la-hán Thánh quả.

Cần lưu ý ở đây là trong vòng luân hồi, mọi người ai cũng đã từng tạo những thiện nghiệp và ác nghiệp. Không người nào tránh khỏi những ác nghiệp cả. Nhưng nếu họ thanh tịnh giới hạnh của mình trong lúc hành thiền thì những ác nghiệp trước không thể ngăn cản việc chứng thiền của họ[23]. Tuy nhiên, đó chỉ là khi nào những ác nghiệp trước đó không thuộc về một trong năm nghiệp vô gián (anantariya kamma)[24]. Năm vô gián nghiệp là: giết cha, giết mẹ, giết một vị A-la-hán, với ác ý làm cho một vị Phật chảy máu, gây chia rẽ trong Tăng chúng.

Nếu đã phạm vào một trong những ác nghiệp này thì không thể đắc thiền hay đạo và quả được, như trường hợp vua Ajātasattu (A-xà-thế). Vua Ajātasattu có đủ ba-la-mật để trở thành một vị Nhập Lưu sau khi nghe xong Kinh Sa Môn Quả (Sāmaññaphala Sutta). Nhưng vì ngài đã giết cha của mình là vua Bimbisàra nên điều đó đã không xảy ra.

Quý vị hỏi, vậy thì sau khi đắc thiền, tâm của những người như vậy hoặc quan kiến của họ có thay đổi không. Chúng ta biết thiền có thể loại trừ các triền cái trong một thời gian dài, có nghĩa là, nếu họ nhập thiền trong một giờ thì trong thời gian đó các triền cái sẽ không khởi lên. Khi họ xuất thiền, các triền cái có thể trở lại do phi lý tác ý. Vì thế chúng ta không thể nói chắc được là tâm của một người như vậy sẽ chuyển đổi hay không với việc chứng thiền. Chúng ta chỉ có thể nói rằng bao lâu họ còn trong bậc thiền thì chừng đó các triền cái không khởi lên, vậy thôi[25].

Cũng có những ngoại lệ, như trường hợp của Trưởng lão Mahānāga [26]. Mặc dù ngài đã hành thiền Chỉ-Quán trong hơn sáu mươi năm song vẫn còn là phàm phu (puthujjana). Tuy nhiên, do việc thực hành Chỉ-Quán vững chắc của ngài, không có phiền não nào xuất hiện trong suốt sáu mươi năm ấy. Chính vì điều này, ngài nghĩ mình đã là một vị A-la-hán. Nhưng một trong những đệ tử của ngài là vị A-la-hán Dhammadinna đã biết rõ và gián tiếp giúp ngài nhận ra điều đó. Khi Trưởng lão Mahānāga nhận ra rằng mình còn là phàm nhân, ngài tiến hành Vipassanā và chỉ ít phút sau ngài đã đắc quả A-la-hán. Nhưng đây là trường hợp rất hiếm.

Một điểm khác quý vị cũng cần phải nhớ, ngài là một bậc lão thông pháp học (pariyatti) cũng như pháp hành (paipatti). Ngoài ra ngài còn là một vị thiền sư (kammaṭṭhānācariya), có rất nhiều vị A-la-hán, như Dhammadinna, là đệ tử của ngài. Mặc dù ngài thông thạo trong Chỉ-Quán, song có những hiểu lầm vẫn khởi lên trong tâm do một sự tương tự nào đó trong các kinh nghiệm. Vì thế, nếu quý vị nghĩ về bản thân mình rằng “ta đã đạt đến sơ thiền” v.v…, quý vị nên xem xét lại kinh nghiệm của mình một cách toàn diện qua nhiều ngày, thậm chí nhiều tháng. Tại sao? Nếu đó là jhāna hoặc vipassanā thực thụ thì chúng có lợi cho hành giả, vì thiền hoặc minh sát ấy có thể giúp quý vị đạt đến “Niết-bàn” thực sự, đây là “Tịnh Độ”[27] của truyền thống Phật giáo Theravāda. Nhưng “thiền giả tạo” và “minh sát giả tạo” không thể làm phát sanh những lợi ích này.

Vì thế chúng tôi muốn đề nghị là quý vị không nên nói với những người khác “tôi đã đắc sơ thiền”, v.v… quá sớm, vì có thể có người nào đó sẽ không tin quý vị. Cũng có thể kinh nghiệm của quý vị là thực, nhưng cũng có thể là chưa phải, như Trưởng lão Mahānāga. Quý vị nên ý thức về vấn đề này.

Hỏi 7.6: Thế nào là sự khác nhau giữa tổng hợp sắc (rūpakalāpa) và sắc chân đế (paramattharūpa)?

Đáp 7.6: Rūpakalāpa là những phần tử nhỏ. Khi hành giả phân tích những phần tử nhỏ ấy họ thấy sắc chân đế (paramattharūpa). Trong một tổng hợp sắc có ít nhất tám loại sắc là: đất, nước, gió, lửa, màu, mùi, vị và dưỡng chất. Tám loại sắc này là sắc chân đế. Trong một số các tổng hợp sắc có thêm sắc thứ chín nữa là sắc mạng căn (jīvita rūpa) và ở một số khác còn có thêm sắc thứ mười là sắc tánh (bhāva rūpa) hoặc sắc tịnh sắc (pasādarūpa). Tám, chín hay mười loại sắc này đều là sắc chân đế.

Hỏi 7.7: Khi một hành giả có thể thấy các tổng hợp sắc hay sắc chân đế rồi, liệu tâm (citta) và kiến (diṭṭhi) của họ có thay đổi không?

Đáp 7.7: Khi một hành giả với minh sát trí thấy được sắc chân đế trong mỗi tổng hợp sắc rồi thì tâm và kiến của họ sẽ thay đổi nhưng chỉ tạm thời vì minh sát trí (tuệ) loại trừ tà kiến và các phiền não khác chỉ trong nhất thời thôi. Chính Thánh đạo (ariyamagga) theo từng giai đoạn mới hủy diệt hoàn toàn các tà kiến và những phiền não khác.

Hỏi 7.8: Định tịnh hóa tâm (cittavisuddhi) như thế nào? Các loại phiền não (kilesa) nào được loại trừ bằng định?

Đáp 7.8: Thực hành định là trực tiếp đối đầu với năm triền cái. Cận định và định của sơ thiền loại trừ năm triền cái trong một thời gian dài. Định của nhị thiền loại trừ tầm (vitakka) và tứ (vicāra). Định của tam thiền loại trừ hỷ (pīti). Định tứ thiền loại trừ lạc (sukha). Theo cách này, tâm được thanh tịnh nhờ định và vì thế cũng gọi là thanh tịnh tâm.

Hỏi 7.9: Vipassanā (minh sát) tịnh hóa kiến (diṭṭhi visuddhi) như thế nào? Các loại phiền não nào được loại trừ bằng (tuệ) minh sát?

Đáp 7.9: Trước khi thấy sắc chân đế cũng như các nhân và tính chất vô thường, khổ và vô ngã của chúng, một hành giả có thể có những tà kiến hay tà tưởng như “đây là đàn ông, đàn bà, mẹ, cha, tự ngã v.v…” Nhưng khi vị ấy thấy rõ thì tà kiến này được loại trừ tạm thời. Vì sao nó được loại trừ? Vì vị ấy thấy rằng chỉ có danh-sắc chân đế và các nhân của chúng. Vị ấy cũng thấy rằng ngay khi chúng khởi lên, chúng liền diệt, đó là tính chất vô thường của chúng. Chúng luôn luôn phải chịu sanh diệt như vậy nên bản chất của chúng là khổ. Không có một tự ngã nào trong danh-sắc và các nhân của chúng nên bản chất của chúng là vô ngã. Đây là minh sát trí (vipassanā ñāa). Chính chánh kiến (sammā diṭṭhi) này loại trừ các tà kiến (micchā diṭṭhi). Minh sát trí cũng còn loại trừ các phiền não như tham và mạn vốn là những kẻ “đồng lõa” với tà kiến. Vì thế, trong lúc một hành giả hành vipassanà thì chánh kiến có mặt nhưng chỉ tạm thời, bởi vì khi vị ấy ngưng thiền, tà kiến sẽ xuất hiện lại do phi như lý tác ý (ayonisomanasikāra). Lúc đó vị ấy lại tưởng “đây là đàn ông, đàn bà, mẹ, cha, tự ngã, v.v…” và những phiền não kết hợp như tham, sân, mạn cũng sẽ khởi sanh. Khi vị ấy trở lại với thiền minh sát, tà kiến này lại biến mất. Vì thế, minh sát trí chỉ tạm thời loại trừ các tà kiến và phiền não mà thôi. Tuy nhiên, khi hành giả đạt đến đạo và quả thì Đạo Tuệ (magga ñāa) sẽ hủy diệt các tà kiến ấy và những phiền não khác một cách hoàn toàn, từng giai đoạn một.

Hỏi 7.10: Thế nào là sự khác nhau giữa tâm và kiến?

Đáp 7.10: Tâm là citta, nhưng trong cittavisuddhi (thanh tịnh tâm), nó lại đặc biệt đề cập đến một tâm, như cận định tâm (upacāra samādhi citta) hoặc an chỉ – thiền tâm (appanā jhāna citta). Diṭṭhi có nghĩa là tà kiến và là một tâm sở (cetasika). Tâm sở này khởi sanh cùng với bốn tâm căn tham. Một tâm căn tham (lobhamūlacitta) hoặc phối hợp với tà kiến, hoặc phối hợp với ngã mạn.

Tà kiến ở đây là ngã tưởng (attasaññā). Có hai loại ngã tưởng:

1. Ngã tưởng phổ thông của thế gian (loka sañsaññā attavāda). Đây là một loại tà kiến có mặt như hệ quả của tập quán, tưởng cho rằng có đàn ông, đàn bà, cha, mẹ, v.v…

2. Ngã kiến (atta diṭṭhi). Đây là một loại tà kiến có mặt như hệ quả của tham ái (ta), tưởng cho rằng có một tự ngã bất khả hoại (atta), và cho rằng tự ngã bất khả hoại ấy do một sáng tạo chủ (paramatta) tạo ra.

Thực sự không có một tự ngã nào trong ba mươi mốt cõi mà chỉ có danh-sắc và các nhân của chúng. Danh-sắc ấy cũng luôn luôn vô thường, khổ và vô ngã. Ngoài ba mươi mốt cõi này cũng không có tự ngã. Minh sát trí này gọi là chánh kiến minh sát (vipassanā sammā diṭṭhi). Nó thủ tiêu tà kiến một cách tạm thời, gồm luôn cả tà kiến về tự ngã. Nhưng chỉ có đạo trí (magga ñāa), tức chánh kiến thuộc Thánh đạo (magga samāa diṭṭhi) mới hủy diệt hoàn toàn tà kiến. Như vậy, thực sự chúng ta có ba loại kiến: tà kiến (micchā diṭṭhi); chánh kiến minh sát (vipassanā sammā diṭṭthi), còn gọi là chánh kiến hiệp thế (lokiya sammā dṭṭhi); chánh kiến Thánh đạo (magga sammā diṭṭhi), còn gọi là chánh kiến siêu thế (lokuttara sammā diṭṭhi).

Kinh Brahmajāla Sutta (Kinh Phạm Võng. D1) luận bàn đến cả thảy sáu mươi hai tà kiến hiện hành. Tất cả tà kiến ấy đều được sắp dưới danh mục tà kiến về tự ngã, còn được gọi là “thân kiến” (sakkāya diṭṭhi). Tự thân (sakkāya) là năm uẩn nên thân kiến tức là xem năm uẩn như là tự ngã. Cũng có nhiều loại chánh kiến, những loại kiến chân chánh như vậy được gọi là chánh kiến về Tứ Thánh Đế (catusacca sammā diṭṭthi):

- Chánh kiến thiền (jhāna sammā diṭṭhi): thiền trí kết hợp với các thiền chi.
- Chánh kiến phân biệt danh-sắc (nāma-rūpa pariggha sammā diṭṭhi): trí (quán) danh-sắc chân đế.
- Chánh kiến về nghiệp và nghiệp quả (kammassakatā sammā diṭṭhi): trí thuộc về sự phân biệt nhân duyên.
- Chánh kiến minh sát (vipassanā sammā diṭṭhi): minh sát trí (quán) tính chất vô thường, khổ và vô ngã của danh-sắc và các nhân của chúng.
- Chánh kiến Thánh đạo (magga sammā diṭṭhi): trí về Niết-bàn.
- Chánh kiến Thánh quả (phala sammā diṭṭhi): trí về Niết-bàn.

Hỏi 7.11: Người hành thiền nên hành như lý tác ý (yoniso manasikāra) như thế nào trong đời sống hàng ngày và trong lúc hành Chỉ-Quán (samatha vipassanā) của họ?

Đáp 7.11: Như lý tác ý hiệu quả nhất là minh sát. Nếu quý vị hành đến mức minh sát (vipassanā) rồi, quý vị sẽ có như lý tác ý hiệu quả nhất. Như vậy, nếu quý vị hành minh sát trong đời sống hàng ngày, minh sát ấy sẽ tạo ra những kết quả tốt, như đạo và quả thấy Niết-bàn. Còn nếu quý vị không thể hành đến mức minh sát được, quý vị nên suy xét đến sự kiện rằng, các pháp hữu vi là vô thường (sabbe sakhāra anicca). Đây cũng là tác ý như lý nhưng rất yếu và chỉ có tính cách gián tiếp thôi.

Quý vị cũng có thể thực hành bốn phạm trú (brahmavihāra), đặc biệt là xả phạm trú (upekkhābrahmavihāra). Đó là loại tác ý như lý cao cấp nhất, bởi vì thực hành xả phạm trú là để thấy quy luật của nghiệp đúng theo tinh thần “sabbe sattā kammassakā” (tất cả chúng sinh đều là chủ nhân ông của nghiệp họ làm). Đôi khi quý vị cũng có thể phản tỉnh đến những hậu quả của phi lý tác ý. Phi lý tác ý khiến cho nhiều bất thiện nghiệp tuần tự xảy đến. Những bất thiện nghiệp này sẽ tạo ra muôn vàn khổ đau trong bốn ác đạo (apāya). Hiểu được điều này là như lý tác ý. Quý vị nên thực hành như vậy thường xuyên trong đời sống hàng ngày của mình.

Hỏi 7.12: Thế nào là sự khác nhau giữa tác ý (manasikāra) và thực hành Thất Giác Chi (bojjhanga)?

Đáp 7.12: Khi quý vị hành Thất Giác Chi, tác ý thường đứng đầu ba mươi bốn tâm hành. Có khi ba mươi bốn tâm hành còn được gọi là minh sát trí, vì trong ba mươi bốn tâm hành ấy, tuệ (paññā) là yếu tố chính vậy.

Ở đây, quý vị nên biết đến ba loại tác ý liên quan đến nội dung này.

1. Tác ý kể như nhân căn bản cho đối tượng (ārammaa paipādaka manasikāra)
2. Tác ý kể như nhân căn bản cho tiến trình tâm (vīthi paipādaka manasikāra)
3. Tác ý kể như nhân căn bản cho tốc hành tâm (javana paipādaka manasikāra).

Tác ý kể như nhân căn bản cho đối tượng tức là tâm sở tác ý. Nhiệm vụ của nó là làm cho đối tượng rõ ràng đến tâm của hành giả.

Tác ý kể như nhân căn bản cho tiến trình tâm là ngũ môn hướng tâm (pañcadvārāvajjana) trong tiến trình tâm ngũ môn (pañcadvāravīthi). Nhiệm vụ của nó là cho tất cả các tiến trình ngũ môn khả năng bắt lấy đối tượng tương ứng của nó.

Tác ý kể như nhân căn bản cho tốc hành tâm là ý môn hướng tâm (manodvārāvajjana) trong tiến trình tâm ý môn (manodvārāvīthi) và quyết định tâm (voṭṭhapana) trong tiến trình tâm ngũ môn. Trong trường hợp này tác ý, hoặc là như lý, hoặc là phi như lý. Nhiệm vụ của nó là làm cho tốc hành (javana) khởi lên. Nếu đó là như lý tác ý thì tốc hành sẽ là thiện đối với phàm nhân (puthujjana) và các bậc hữu học (sekkha). Còn đối với các bậc A-la-hán thì nó chỉ là duy tác (kiriya). Khi tác ý phi như lý thì tốc hành tâm luôn luôn là bất thiện, một điều không thể xảy ra trong các vị A-la-hán.

Hỏi 7.13: Xin thiền sư hoan hỷ giải thích bằng sơ đồ được không? Trong hệ thống thiền này, có cần thiết phải thực hành hơn ba mươi loại đề mục thiền (kammaṭṭhāna) không? Làm như vậy được lợi ích gì?

Đáp 7.13: Chúng tôi không quan tâm đến các sơ đồ. Nó được dựa trên loại sơ đồ mà một ông thầy giáo, loại người rất quan tâm đến các sơ đồ, vẽ.

Ở trung tâm thiền Pa-Auk, chúng tôi dạy nhiều loại thiền chỉ (samatha) cho những ai muốn hành chúng. Nếu họ không muốn hành hết những đề mục ấy mà chỉ muốn một đề mục duy nhất, như niệm hơi thở chẳng hạn, thì chúng tôi chỉ dạy họ thiền đó. Khi họ đã có thiền, chúng tôi đưa họ thẳng vào minh sát theo tuần tự một cách hệ thống.

Trong khi hành Chỉ-Quán, đôi khi có thể có những triền cái như tham (rāga), sân (dosa) và tư duy lan man (vitakka – tầm) xen vào khuấy dộng thiền định và minh sát của quý vị. Các đề tài thiền sau đây được xem là những vũ khí hữu hiệu nhất để loại trừ các triền cái đó.

Trong Kinh Meghiya, đức Phật khuyên:

Asubhā bhāvetabbā rāgassa pahānāya
(Hành giả nên hành thiền (quán) bất tịnh để loại trừ dục tham).

Mettā bhāvetabbā byāpādassa pahānāya
(Hành giả nên hành thiền tâm từ để loại trừ sân).

Ānāpānassati bhavetabbā vitakkupacchedāya.
(Hành giả nên hành niệm hơi thở để loại trừ tư duy lan man).

Hơn nữa, một tâm có định có thể thấy các pháp chân đế (paramattha dhamma) như chúng thực sự là. Trong các pháp hành định, tám thiền chứng (samāpatti) được xem là rất cao và vững mạnh, vì thế, những ai muốn hành tám thiền chứng một cách triệt để, chúng tôi cũng sẽ dạy thiền kasiṇa. Nếu quý vị muốn hiểu sơ đồ một cách trọn vẹn, quý vị cần phải hành Chỉ-Quán cho đến các Đạo – Quả Tuệ. Chỉ lúc ấy quý vị mới hiểu đầy đủ sơ đồ.

Vì sao chúng tôi không quan tâm đến các sơ đồ? Bởi vì, thực ra nó không đủ để trình bày toàn bộ hệ thống trên một trang giấy. Chúng tôi đã giải thích toàn bộ hệ thống này trên hơn ba ngàn sáu trăm trang giấy ở Miến Điện rồi. Một trang giấy không cách gì đủ được.

Hỏi 7.14: Một tâm sân có thể tạo ra nhiều thế hệ tổng hợp sắc do thời tiết sanh (utuja ajaṭṭhamaka kalāpa) và làm cho mắt lóe sáng lên được không?

Đáp 7.14: Khi nói “một tâm tạo ra ánh sáng” là chỉ nói theo phép ẩn dụ thôi, bởi vì thực sự, ngoài tâm kiết sanh (paisandhi citta) ra, tất cả các tâm sanh lên nương vào ý căn (sắc trái tim – hadayavatthu) đều tạo ra các tổng hợp sắc do tâm sanh (cittajakalāpa). Trong số các tổng hợp sắc này luôn luôn có màu (vaṇṇa). Màu này sẽ sáng hơn nếu tâm đó là một tâm thiền chỉ hay tâm thiền minh sát. Điều này đã được các bản kinh Pāli, các bản Chú Giải và Phụ Chú Giải đề cập đến. Tuy nhiên, những nguồn ấy không hề nói rằng sắc do tâm sanh được tạo ra bởi một tâm sân cũng phát ra ánh sáng.

Hỏi 7.15: Tâm thấy có thấy danh-sắc của chính nó bao gồm trong danh-sắc không? Nó có được kể trong tuệ không?

Đáp 7.15: Có, tâm ấy thấy được[28]. Quý vị có thể thấy điều này ở mọi giai đoạn minh sát, đặc biệt ở giai đoạn Tuệ (quán) Sự Tan Hoại (bhanga ñāa). Trong Thanh Tịnh Đạo có nói:

Ñātañca ñāañca vipassati” (Chúng ta phải hành minh sát trên cả “cái sở tri” – ñāta, lẫn trí (năng tri) – ñāa) [29]

“Cái sở tri” ở đây là năm uẩn và các nhân của chúng, vốn phải được biết với minh sát trí. “Trí” (năng tri) có nghĩa là minh sát trí biết tính chất vô thường, khổ và vô ngã của năm uẩn và các nhân của chúng, tức là các pháp hành (sakhāra dhamma). Minh sát trí là tuệ, là chánh kiến minh sát. Thường thường chánh kiến minh sát khởi lên cùng với ba mươi ba hoặc ba mươi hai tâm hành, như vậy thành ra ba mươi bốn hoặc ba mươi ba tâm hành. Chúng được gọi là minh sát trí và cũng là các danh pháp bởi vì chúng có khuynh hướng nghiêng về đối tượng ở đây là tính chất vô thường, khổ và vô ngã của các hành.

Tại sao quý vị cần phải thấy tự thân minh sát trí cũng là vô thường, khổ và vô ngã? Bởi vì một số hành giả có thể hỏi hoặc nghĩ, không biết minh sát trí này là thường hay vô thường, lạc hay khổ, có ngã hay vô ngã. Để trả lời cho câu hỏi này, quý vị cần phải thấy tiến trình tâm minh sát tự thân nó là vô thường, khổ và vô ngã, đặc biệt ba mươi bốn tâm hành trong mỗi sát-na tâm tốc hành, dẫn đầu bởi minh sát trí. Hơn nữa, một số hành giả có thể trở nên hãnh diện vì họ có thể hành minh sát giỏi và thành công. Chính vì để loại trừ và ngăn ngừa những phiền não này mà quý vị cần phải thấy được minh sát trí hoặc tiến trình tâm minh sát tự thân nó cũng là vô thường, khổ và vô ngã.

Hỏi 7.16: Làm cách nào để vượt qua trạng thái tâm không thích và chán ngán trong suốt những giai đoạn hành thiền lâu dài hoặc ở một mình trong rừng vắng? Loại tâm này có phải là một pháp bất thiện không?

Đáp 7.16: Trạng thái tâm này gọi là giãi đãi (kosajja) và thường được xem là một pháp bất thiện kết hợp với tham hoặc sân v.v… Trạng thái tâm này sanh khởi là vì phi lý tác ý. Nếu tác ý phi như lý của một người được chuyển đổi và thay thế bằng như lý tác ý, người ấy có thể thành công trong thiền.

Để vượt qua trạng thái tâm này hành giả phải thỉnh thoảng nhớ lại rằng, thành công của đức Bồ tát Sakyamuni của chúng ta là do sự kiên trì của Ngài. Hành giả cũng nên nhớ lại những câu chuyện về các vị A-la-hán đã phấn đấu với muôn ngàn khó khăn như thế nào để thành công trong thiền pháp của họ, cuối cùng mới đắc quả vị A-la-hán. Chẳng một ai không nỗ lực lại có thể có được thành công. Đặc biệt trong thiền sự kiên trì là rất cần thiết. Như lý tác ý cũng rất quan trọng. Hành giả phải cố gắng tác ý đến tính chất vô thường, khổ và vô ngã trong các pháp hữu vi. Nếu được như thế, một ngày nào đó hành giả sẽ thành công.

Hỏi 7.17: Xin thiền sư hoan hỷ cho một ví dụ về một nguyện ước mà không đi cùng với vô minh, ái và thủ được không?

Đáp 7.17: Nếu quý vị hành minh sát khi đang thực hiện những thiện nghiệp và thấy được tính chất vô thường, khổ và vô ngã của các thiện nghiệp ấy thì vô minh, ái và thủ không khởi sanh. Còn nếu quý vị không thể hành minh sát (trong lúc làm thiện nghiệp) thì hãy phát nguyện như sau:

Ida me puññā Nībbānassa paccayo hotu.
(Cầu mong phước báu này hãy là một trợ duyên cho sự chứng đắc Niết-bàn)

Hỏi 7.18: Nếu năm uẩn là vô ngã vậy thì bạch Ngài, ai là người đang thuyết pháp? Nói khác hơn, nếu năm uẩn là vô ngã, không có Sayadaw (chỉ thiền sư Pa-Auk) là người đang thuyết pháp. Như vậy, có một tương quan như thế nào giữa năm uẩn và tự ngã?

Đáp 7.18: Có hai loại sự thực: sự thực theo chế định (sammuti sacca) và sự thực theo chân đế (paramattha sacca).

Quý vị nên phân biệt rõ ràng giữa hai loại sự thực này. theo sự thực chế định thì có đức Phật, có Sayadaw, có cha, có mẹ, v.v… Nhưng theo sự thực chân đế hay sự thực cùng tột thì không có đức Phật, không có Sayadaw, không có cha, không có mẹ, v.v… Điều này quý có thể thấy được nếu có minh sát trí đủ mạnh. Nếu quý vị nhìn vào đức Phật với minh sát trí, quý vị chỉ nhìn thấy danh-sắc chân đế, đó là ngũ uẩn. Ngũ uẩn hay danh-sắc này là vô thường, khổ và vô ngã. Không có một tự ngã nào cả. Cũng vậy, nếu quý vị nhìn vào tôi hay vào một người nào đó với minh sát trí, quý vị chỉ thấy danh-sắc chân đế, năm uẩn, mà những pháp này đều là vô thường, khổ và vô ngã. Nói cách khác, không có đức Phật, không có Sayadaw, không có cha, mẹ v.v… Chỉ có năm uẩn và các nhân của chúng, gọi chung là các hành. Như vậy, các hành này đang nói về các hành khác, có khi về Niết-bàn. Hoàn toàn không có ngã. Đã vậy, chúng ta nói về mối tương quan như thế nào đây?

Chẳng hạn, nếu có ai đó hỏi quý vị “sừng thỏ dài hay ngắn”, quý vị sẽ trả lời thế nào? Hoặc nếu họ hỏi “lông rùa đen hay trắng”, quý vị trả lời ra sao? Nếu cái ngã đã không có thực, chúng ta không thể nói về sự tương quan giữa nó và năm uẩn được. Ngay cả đức Phật cũng không trả lời loại câu hỏi này. Vì sao? Giả sử quý vị nói “sừng thỏ dài”, điều đó có nghĩa rằng quý vị chấp nhận thỏ có sừng. Và nếu quý vị nói “sừng thỏ ngắn”, thì cũng có nghĩa tương tự. Hoặc nếu quý vị nói “rùa có lông đen” hay “trắng” thì chẳng khác nào quý vị chấp chận rùa có lông! Cũng vậy, nếu đức Phật nói năm uẩn và tự ngã có liên quan, hay không có liên quan, có nghĩa Ngài đã chấp nhận có môt tự ngã. Đó là lý do vì sao đức Phật không trả lời loại câu hỏi này. Vì thế, chúng tôi muốn đề nghị quý vị cố gắng hành thiền cho đến mức vipassanà. Chỉ khi ấy quý vị mới có thể loại trừ tà kiến về tự ngã này được.

Hỏi 7.19: Đức Phật dạy cho các vị tỳ khưu “Thần Chú Rắn” (Mantra). Đọc Thần Chú ấy có giống như thiền tâm từ không? Có phải niệm chú là một truyền thống của Bà-la-môn du nhập vào đạo Phật không?

Đáp 7.19: Thần chú là gì? Thế nào là “Thần Chú Rắn”? Chúng tôi không biết các thần chú có phải được truyền vào từ Ấn Giáo hay không. Nhưng trong Kinh điển Thượng Tọa Bộ (Theravāda) có một bài Kinh Bảo Hộ (Paritta Sutta) gọi là Khandha Paritta [30]. Đức Phật dạy Kinh Bảo Hộ này để các vị tỳ khưu đọc tụng hàng ngày. Có một điều luật (vinaya) quy định rằng nếu một vị Tỳ khưu hay Tỳ khưu Ni trú ở rừng nào mà quên không đọc Kinh Bảo Hộ này ít nhất mỗi ngày một lần, vị ấy xem như đã phạm một tội.

Có một lần, vào thời đức Phật, một vị tỳ khưu nọ đang trú trong rừng thì bị một con rắn độc cắn chết. Do sự kiện này mà đức Phật dạy bài Kinh Khandha Paritta. Mục đích của Kinh Bảo Hộ này cũng giống như thiền tâm từ vậy. Trong Kinh đưa ra những cách khác nhau để mở rộng lòng từ đến các loại rắn và rồng khác nhau. Ngoài ra cũng có một lời xác nhận về sự thực liên quan đến Tam Bảo và những ân đức của Phật cũng như các vị A-la-hán. Chúng tôi sẽ tụng bài Kinh Bảo Hộ này tối hôm nay. Nó rất có oai lực. Quý vị có thể gọi đó là “Thần Chú Rắn” cũng được. Cái tên không quan trọng lắm. Quý vị có thể gọi nó bằng bất cứ tên gì mình thích. Có một số vị sư ở Miến Điện dùng Kinh Bảo Hộ này để tụng cho những người bị rắn độc cắn rất có hiệu quả. Khi họ tụng Kinh Bảo Hộ này nhiều lần và khi nạn nhân uống nước có tụng bài Kinh ấy, nọc độc dần dần tan biến. Thường thường thì họ khỏi, nhưng không phải trường hợp nào cũng được như vậy. Đức Phật dạy Kinh Bảo Hộ này để các vị tỳ khưu ngăn ngừa các loại rắn độc. Nếu các vị tụng Kinh với lòng kính tin và mở rộng lòng từ đến tất cả chúng sinh, kể cả các loài rắn, thì sẽ không gặp hiểm nguy. Nếu các vị còn giữ giới nghiêm túc nữa, thì không có sự tai hại nào có thể xảy đến với họ được.

-ooOoo-

[1] Vs. T1. XIV “Paññā Kathā” (Giải thích về Tuệ) và Vs. XX “Maggāmagga Ñāadassana Visuddhi Niddesa” B694 (Mô tả về Đạo Phi Đạo Tri Kiến Thanh Tịnh). N9.

[2] Năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) xem lại ở trên

[3] Mười hai xứ: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp (6 nội xứ và 6 ngoại xứ).

[4] Vô minh, hành, thức, danh-sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, già – chết – sầu – bi – khổ – ưu não.

[5] Mười hai xứ và sáu loại thức tương ứng của chúng: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức.

[6] S.III “Anattalakkhana Sutta

[7] Chú giải “Kinh Giáo Giới Xa-nặc” (Channavāda Sutta) giải thích rằng “Cái này không phải của tôi” là quán vô thường; “Cái này không phải là tôi” là quán khổ; “Cái này không phải tự ngã của tôi” là quán vô ngã.

[8] Điều này có nghĩa rằng hành giả phân biệt cả bốn loại sắc đã sanh khởi do sự hỗ trợ của sắc do vật thực. Nguyên tắc này cũng áp dụng cho sự phân biệt sắc do nghiệp, do tâm và do thời tiết sanh.

[9] Tâm minh sát minh sát (quán) tiến trình ý môn: một ý môn hướng tâm và bảy tốc hành, đôi khi có hai tâm thập di theo sau nữa. Trong ý môn hướng tâm có mười hai tâm hành, và trong mỗi tốc hành tâm có ba mươi bốn, ba mươi ba hoặc ba mươi hai tâm hành. (Xem lại bảng 6)

[10] Vs.XX “Maggāmagga Ñāadassana visuddhi Niddesa B.723 (Mô tả về Đạo Phi Đạo Tri Kiến Thanh Tịnh) N93.

[11] Trong một vài trường hợp, hành giả bắt đầu chỉ với một kiếp hiện tại này thôi, kế đó mới nhìn vào các kiếp quá khứ và tương lai.

[12] Mặc dù vẫn có nghiệp lực nằm dưới năm uẩn hiện tại, nghĩa là bậc A-la-hán vẫn cảm thọ lạc, khổ do nghiệp quá khứ. Song sẽ không có nghiệp lực trong các hành hiện tại để tạo ra nghiệp mới.

[13] Có lúc Thiền sư Pa-Auk Sayadaw hướng dẫn thiền sinh khởi sự bằng cách nhìn vào kiếp này, sau đó nhìn vào các kiếp quá khứ và tương lai.

[14] MI.IV.8 “Mahātanhāsankhata Sutta” (Đại Kinh Ái Đoạn Tận)

[15] Ibid.

[16] Xem thêm trong Vs. XX (B.634 – N107)

[17] Các hành thuộc nhân là các pháp hay chi phần của duyên khởi: vô minh, hành, thức, danh-sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu. Các hành thuộc quả là sắc do nghiệp sanh, do tâm sanh, do thời tiết sanh và do vật thực sanh và các tâm hành thuộc quả.

[18] Trong một số trường hợp, nếu tuệ của hành giả cực mạnh, tâm này sẽ không khởi lên và như vậy tốc hành tâm đầu tiên là “cận hành” (upacārā).

[19] Đây là ba mươi bảy pháp trợ bồ đề (Bodhipakkhiyadhamma): Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Y Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh Đạo.

[20] Các pháp 1,2,4 và 5 hành giả cần phải chủ động làm và đòi hỏi phải biết cách làm (công việc phản khán ấy).

[21] Đức Phật xem đó là một trọng tội nếu vị tỳ khưu nào thọ nhận, sở hữu hoặc sử dụng tiền. Điều cấm này đã được thiền sư Pa-Auk Sayadaw tuân thủ.

[22] Dh. AI. II.I “Sāmāvatī vatthu“.

[23] Nói cách khác, nếu những ác nghiệp quá khứ làm cho không thể đắc thiền thì sẽ không có ai có thể đắc thiền hết!

[24] Xem A.V.ix.3 “Parikuppa Sutta“. Năm nghiệp này được gọi là “vô gián” vì chắc chắn chúng sẽ chín mùi trong kiếp hiện tại và cho quả tái sanh trong đại địa ngục Avici (A-tỳ) như trường hợp của đức vua Ajātasattu.

[25] Xem câu trả lời 7.7 và 7.9 để biết rõ hơn.

[26] Vs.xx. “Vipassanupakkilesa Kathā” B.733.

[27] Tịnh Độ được gọi là Tây Phương, Cực Lạc Quốc trong truyền thống Mahāyāna (Đại Thừa), nơi đây có đức Phật gọi là Phật A-Di-Đà đang chờ đợi những ai được tái sanh về đó nhờ niệm danh hiệu của ngài. Nói chung, mục đích của truyền thống Đại Thừa là vãng sanh Tịnh Độ vì ai đi đến đó đều sẽ thành Phật và họ sẽ đi cứu độ tất cả chúng sanh ở khắp Ta-bà thế giới! Còn Tịnh Độ mà thiền sư Pa-Auk nói ở đây (truyền thống Phật giáo Theravāda) chỉ như một biểu trưng cho Niết-bàn để phù hợp với thính chúng theo Đại Thừa, chứ Ngài không nói rằng Niết-bàn là một nơi, hay không muốn dùng bất kỳ một cách nào để so sánh với Tây Phương Tịnh Độ v.v… Xem lại phần nói về cảnh giới siêu thế (lokuttarabhūmi) ở câu trả lời 3.12.

[28] Chi tiết liên quan đến điều này xem “Bảy cách quán danh” và “Làm thế nào để tu tập Tuệ (quán) Sự Hoại Diệt”.

[29] Vs.XXI “Bhangānupassanāñāa Kathā” B742.

[30] A.IV.11.ii.7. “Ahirāja Sutta” (Kinh Chúa Các Loài Rắn). Sở dĩ gọi Khandha (nhóm, uẩn), Paritta (Bảo Hộ) bởi vì tâm từ (metta) ở đây được mở rông đến tất cả chúng sinh theo các nhóm: bốn loại rắn, các chúng sinh không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân.

-ooOoo-

BÀI PHÁP THOẠI 8

Những ước nguyện của Đức Phật cho các hàng đệ tử
và giáo pháp của Ngài

(Bài giảng nhân ngày lễ Vesākha)

Đức Phật Từ Bỏ Thọ Hành [1]

Mùa hạ (Vassa) cuối cùng, đức Phật trải qua trong ngôi làng Veuna. Thời gian ấy, một cơn đau kịch liệt khởi lên nơi Ngài. Vào ngày trăng tròn tháng Asāha (tháng 6), một cơn đau lưng buốt nhức cực độ bất ngờ tấn công Ngài, do nghiệp đời trước.

Một trong những tiến kiếp của Ngài, đức Phật đã từng là võ sĩ. Có lần Ngài đã đánh ngã một đối thủ và làm gãy lưng người này. Bất thiện nghiệp ấy khi chín muồi đã cho quả của nó, đó là mười tháng trước ngày nhập Vô Dư Niết-bàn của Ngài. Nghiệp quả ấy mạnh đến độ kéo dài cho đến lúc chết. Một thọ khổ như vậy được gọi là “thọ (khổ) chấm dứt vào lúc chết” (maranatikavedanā), tức là nó chỉ dừng lại khi cái chết xảy ra[2].

Đức Phật đã ngăn không cho thọ khổ đó khởi lên nhờ nhập A-la-hán Thánh quả định (Arahattaphala samāpatti) và thực hiện một quyết định (adhiṭṭhāna). Trước tiên, đức Phật nhập A-la-hán Thánh quả định dựa trên bảy cách quán sắc (rūpa sattaka vipassanā). Sau khi hành những pháp quán ấy xong và ngay trước khi nhập vào A-la-hán Thánh quả định, đức Phật quyết định: “Kể từ hôm nay cho đến ngày Niết-bàn, mong cho những thọ khổ này không khởi lên”, sau đó Ngài mới nhập Thánh quả định. A-la-hán Thánh quả định là tâm quả A-la-hán với Niết-bàn làm đối tượng, khởi lên liên tục trong một thời gian dài. Do việc hành vipassanā trước đó kiên trì và mãnh liệt mà A-la-hán Thánh quả định cũng mãnh liệt và kiên trì như vậy. Chính nhờ nỗ lực của minh sát và định lực của Thánh quả mà thọ khổ đã không khởi lên trong mười tháng còn lại cho đến ngày Đại Niết-bàn của đức Phật. Nhưng trong thời gian đó, mỗi ngày đức Phật đều phải nhập Thánh quả đều đặn.

Sau mùa an cư (Vassa), đức Phật vân du từ nơi này đến nơi khác, và cuối cùng đến tại Tỳ – xá – ly (Vesālī). Ba tháng trước ngày trăng tròn tháng Vesāka (rằm tháng Tư), tức là vào ngày rằm tháng Giêng tại ngôi tháp Cāpāla (Cāpāla cetiya), đức Phật quyết định xả bỏ thọ hành (āyusankhāra ossajana), nghĩa là, vào ngày đó Ngài quyết định:

Temāsamattameva pana samāpatti samāpajjitvā tato para na samāpajjissāmīti citta samāpajjitva citta uppādasi
(Từ hôm nay cho đến trăng tròn tháng Vesākha ta sẽ thực hành Thánh quả định này. Rồi sau đó ta sẽ không hành pháp ấy nữa.)

Đức Phật tuyên bố những ước nguyện của Ngài

Vào ngày đó, trước chúng Tăng tỳ khưu tại đại giảng đường của chùa mahàvana, đức Phật thông báo Ngài xả bỏ thọ hành. Ngài nói với chúng tỳ khưu:

Tasmātiha bhikkhave ye te mayā dhammā abhiññā desitā, te vo sādhuka uggahetva āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā.
(Này chư tỳ khưu, ta đã giải thích rõ những Chân lý (dhamma) mà ta đã tự mình thắng tri cho các người. Các người cần phải khéo học tập, trau dồi, tu tập và thực hành thường xuyên những pháp ấy).

Như vậy, đức Phật chỉ dạy pháp mà Ngài đã tự chứng. Ở đây đức Phật tuyên bố những ước nguyện của Ngài cho Giáo Pháp và chỉ dạy Tăng chúng:

1. Tăng chúng cần phải nắm vững những lời dạy của Ngài, nhưng nắm vững thôi thì chưa đủ. Đây là ước nguyện thứ nhất của đức Phật.

2. Ngài chỉ dạy Tăng chúng nên trau dồi pháp. Trong i thường gọi là sevitabbā, có nghĩa rằng chúng ta phải cố gắng hiểu pháp này bằng sự thực hành thường xuyên, nên chúng tôi dịch là trau dồi. Đây là ước nguyện thứ hai của đức Phật.

3. Cuối cùng Ngài chỉ dạy Tăng chúng phải tu tập (bhāvetabbā) các pháp. Khi chúng ta trau dồi, nhất thiết phải có sự tăng trưởng và tiến bộ.

Điều đó có nghĩa là gì? Khi chúng ta hành pháp, chỉ có những thiện pháp (kusala dhamma) khởi lên trong tiến trình tâm của chúng ta. Các thiện pháp đó là, giới thiện pháp (sīla kusaladhamma), định thiện pháp (samādhi kusaladhamma) và tuệ thiện pháp (paññā kusaladhamma). Những thiện pháp này phải khởi lên không gián đoạn cho đến quả vị A-la-hán. Nếu một vị Thanh Văn đệ tử (Sāvaka) của đức Phật đắc A-la-hán Thánh quả thì việc thực hành (bhāvanā) của họ kể như hoàn tất. Vì thế, một đệ tử của đức Phật phải thực hành những lời dạy của đức Phật cho đến khi đạt đến cứu cánh, tức là sự trau dồi phải được phát triển cho đến Thánh quả A-la-hán. Để đạt đến A-la-hán Thánh quả chúng ta phải thực hành thường xuyên. Vì lý do đó, đức Phật đã đưa ra lời chỉ dẫn “bahulīkātabba“, có nghĩa là chúng ta phải thực hành một cách thường xuyên. Đây là ước nguyện thứ ba của đức Phật.

Những ước nguyện này vì sao lại khởi lên trong tiến trình tâm của đức Phật?[3]

Yathayida brahmacariya addhaniya assa ciraṭṭhikika.”
(Để cho lời dạy thuần tịnh này có thể được an lập và bền lâu).

Đó là, duy trì lời dạy thuần tịnh này sao cho nó có thể bền vững trong một thời gian lâu dài.

Phận Sự Của Chúng Ta Với Tư Cách Là Những Phật Tử.

Duy trì lời dạy này không để cho thất tán là bổn phận hết sức quan trọng của mỗi người Phật tử. Do đó, chúng ta phải cố gắng:

- Nắm vững (hiểu rõ) tất cả những lời dạy của đức Phật.
- Thực hành những lời dạy của đức Phật như thế nào để hiểu được pháp ấy qua kinh nghiệm tự thân.
- Thực hành những lời dạy đó cho đến quả vị A-la-hán.

Đây là những bổn phận của mọi Phật tử. Là một Phât tử, chúng ta phải theo những chỉ dẫn này. Nếu không theo những điều này, chúng ta chỉ là Phật tử trên danh nghĩa chứ không phải người Phật tử chân chánh. Tóm lại, người nào hành theo ba phận sự này một cách triệt để, người ấy là một Phật tử chân chánh. Vì thế, hôm nay quý vị có thể quyết định:

- Ta sẽ cố gắng nắm vững tất cả những lời dạy của đức Phật.
- Ta sẽ cố gắng thực hành những lời dạy ấy để hiểu được chúng qua kinh nghiệm tự thân.
- Ta sẽ thực hành những lời dạy của đức Phật cho đến quả vị A-la-hán.

Chúng Ta Có Thể Làm Lợi Ích Cho Đời Như Thế Nào

Nếu chúng ta thực hiện được ba bổn phận đó thì có thể nói rằng chúng ta đang thở theo những chỉ dẫn của đức Phật. Vì sao?

Tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussāna
(Vì an lạc và lợi ích cho số đông,
Xuất phát từ lòng bi mẫn cho đời,
Vì sự an lạc và hạnh phúc của chư Thiên và nhân loại.)

Có thực hành theo những chỉ dẫn của đức Phật, chúng ta mới có thể truyền trao Giáo Pháp đến các thế hệ tương lai như một di sản, mới có thể dạy cho các hàng chư Thiên và loài người:

- Hãy cố gắng nắm vững tất cả những lời dạy của đức Phật.
- Hãy thực hành những lời dạy của đức Phật để hiểu được chúng qua kinh nghiệm tự thân.
- Hãy thực hành những lời dạy của đức Phật cho đến quả vị A-la-hán.

Chúng Ta Có Thể Chứng Tỏ Đức Tin Của Mình Như Thế Nào?

Quý vị có đủ niềm tin vững chắc nơi những lời dạy của đức Phật không?

Trong Chú giải Kinh Ghaīkāra [4] có nói:

Pasanno ca pasannākāra kātu sakkhissati.”
(Những người có niềm tin chân chánh đối với Tam Bảo có thể biểu lộ lòng kính tín của họ qua việc thực hành.)

Nếu một người nam hay nữ nào không biểu lộ được lòng tịnh tín của họ (theo cách đó) thì chúng ta không thể nói rằng người ấy có một đức tin trong sạch thật sự. Nếu quý vị có đức tin chân chánh nơi những lời dạy của đức Phật, quý vị phải khéo học những lời dạy ấy, thực hành những lời dạy ấy không ngừng nghỉ khi chưa đắc A-la-hán Thánh quả. Đây là những di huấn quan trọng của đức Phật trước lúc nhập diệt. Nếu chúng ta có niềm tin nơi đức Phật, chúng ta phải tuân theo những di huấn này. Khi chúng ta có niềm tin nơi cha mẹ của mình, chúng ta phải vâng theo những chỉ dẫn của họ. Cũng vậy, “Cha” chúng ta ở đây chính là đức Phật, chúng ta phải vâng theo những di huấn của “Cha” mình giống như vậy.

Chúng Ta Phải Học Và Hành Những Gì?

Những lời dạy đó là gì? Đó là[5]:

- Tứ Niệm Xứ (Cattaro Satipaṭṭhānā)
- Tứ Chánh Cần (Cattaro Sammappadhānā)
- Tứ Thần Túc  (Cattaro Iddhipādā)
- Ngũ Căn (Pañcindriyāni)
- Ngũ Lực (Pañca Bala)
- Thất Giác Chi  (Satta Bojjhanga)
- Bát Thánh Đạo  (Ariya Atthangiko Maggo)

Tất cả có Ba Mươi Bảy Pháp thiết yếu cho Sự Giác Ngộ (Bodhipakkhiyadhamma). Chúng ta sẽ luận bàn một cách tóm tắt những pháp này ở đây. Trong Kinh điển i, đức Phật dạy Ba Mươi Bảy Pháp Trợ Giác Ngộ theo nhiều cách khác nhau tùy theo khuynh hướng của người nghe. Những lời dạy của đức Phật trong Kinh điển i có thể rút gọn chỉ còn Ba Mươi Bảy pháp này. Nếu cô đọng lại thì chỉ có Bát Chánh Đạo. Và nếu được cô đọng thêm nữa thì chỉ có Tam học: Giới, Định, Tuệ.

Căn Bản Cho Việc Thực Hành

Trước tiên chúng ta phải học “giới học” để thực hành. Nếu không biết giới học, chúng ta không thể nào tịnh hóa những hành vi cư xử của mình. Rồi chúng ta phải học thêm chỉ (samatha) để kiểm soát và tập trung tâm ý. Nếu không biết về thiền chỉ, chúng ta sẽ trau dồi định như thế nào? Nếu không hành định, làm sao chúng ta có thể kiểm soát được tâm mình? Sau đó, chúng ta phải học cách làm thế nào để trau dồi trí tuệ. Nếu không biết về tuệ học, chúng ta trau dồi trí tuệ ra sao?

Vì thế, để thanh tịnh giới hạnh, để kiểm soát tâm và tu tập tuệ của mình, trước hết chúng ta phải thấu rõ Pháp (dhamma). Thứ đến, chúng ta phải trau dồi và tu tập pháp ấy cho đến A-la-hán Thánh quả.

Trong Kinh Đại Niết-bàn, đức Phật đã khích lệ hàng đệ tử của Ngài nhiều lần:

Iti sila, iti samādhi, iti paññā
Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaso,
Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisa
sā,
Paññāparibhāvita
cittam sammadeva āsavehi vimuccati,
Seyyathida
kāmāsavā bhavāsavā diṭṭhāsavā avijjāsavā.

(Đây là giới, đây là định, đây là tuệ.
Định khi được tu tập viên mãn dựa trên giới sẽ đem lại quả lớn, lợi ích lớn.
Tuệ khi được tu tập viên mãn dựa trên định sẽ đem lại quả lớn, lợi ích lớn.
Tâm khi được tu tập viên mãn với trí tuệ sẽ hoàn toàn giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, kiến lậu và vô minh lậu.)

Tất cả chúng ta ai cũng có tâm. Nếu chúng ta có thể kiểm soát được tâm mình, dựa trên giới, thì sức mạnh của tâm có định ấy sẽ vô cùng kỳ diệu. Tâm có thể thâm nhập vào sắc chân đế. Sắc phát sinh dưới dạng các tổng hợp sắc (rūpa kalāpa). Những tổng hợp này nhỏ hơn các nguyên tử (atoms). Thân chúng ta do những rūpa kalāpa này làm thành và tâm có định có thể phân tích được các tổng hợp sắc đó. Tâm định còn có thể thâm nhập vào thực tại cùng tột của danh (danh chân đế), vào các nhân của chúng và vào tính chất sanh diệt của danh-sắc cũng như các nhân ấy. Minh sát trí thâm nhập vào các hiện tượng này gọi là trí tuệ. Tuệ ấy tiến triển nhờ định dựa trên giới. Tâm định và trí tuệ tạo thành năng lực. Năng lực này có thể dẫn đến sự chứng đắc Niết-bàn, diệt tận mọi tham đắm, phiền não và khổ đau.

Mọi người đều có tâm. Khi tâm được tu tập sung mãn nhờ định thì minh sát trí (tuệ) có thể giải phóng con người ra khỏi các cấu uế của dục tham và vòng luân hồi một cách hoàn toàn. Song định đó phải dựa trên giới. Đối với hàng tại gia thì ngũ giới là cần thiết. Đó là:

- Không sát sanh
- Không trộm cắp
- Không tà dâm
- Không nói dối
- Không uống rượu và các chất say

Năm giới này đối với những Phật tử tại gia là cần thiết. Nếu người nào phạm vào một trong năm điều này, tự nhiên họ không còn là một Phật tử chân chánh nữa. Pháp quy Tam bảo của người ấy cũng không còn giá trị. Ngoài ra, người Phật tử còn phải tránh những cách sinh nhai không chân chánh (tà mạng), tức là không sử dụng những tài sản có được do sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói đâm thọc, nói lời thô ác hoặc nói chuyện vô ích. Người Phật tử cũng không can dự vào năm loại nghề bất chánh là mua bán vũ khí, người, súc vật để mổ thịt, các chất say và các chất độc.

Như vậy, đối với người Phật tử, giới rất quan trọng. Ngoài sự hỗ trợ cho việc chứng đắc Niết-bàn, giới giúp người Phật tử có được trạng thái an vui lúc cận tử – nhân tố cần thiết cho cảnh giới tái sanh. Nếu hành nghiệp của một người không trong sạch thì không dễ gì có được một thú tướng tốt đẹp, bởi vì vào lúc lâm chung, những bất thiện nghiệp ấy thường bám vào tâm họ, xuất hiện trong tâm họ. Và do bắt lấy một trong những bất thiện nghiệp đó làm đối tượng của tâm, họ thường đi đến những khổ cảnh sau khi chết.

Giới cũng quan trọng không kém trong việc mưu tìm hạnh phúc và an lạc trong kiếp hiện tại. Không trong sạch giới hạnh, con người không thể tìm thấy hạnh phúc và an lạc. Thông thường, một người có nhiều ác nghiệp, tự nhiên sẽ ít có thiện hữu. Mà người ít có bạn tốt thì khó có được an vui hạnh phúc trong cuộc đời.

Thiền Chỉ Và Thiền Quán

Trong Kinh Pháp Cú, đức Phật dạy:

Yo ca vassasata jīve, dussilo asamāhito,
Ekāha
jīvita seyyo, sīlavantassa jhāyino.”

(Dầu sống cả trăm năm
Không giới, không thiền định,
Cuộc đời người như vậy
Không có gì đáng khen.
Tốt hơn sống chỉ một ngày
Mà biết hành giới, tu thiền định tâm.)

Vì sao? Vì tâm khi được tu tập sung mãn qua thiền định có thể phát sinh trí tuệ thâm sâu, tức có thể thấy Niết-bàn, chấm dứt vòng sanh tử luân hồi, hủy diệt mọi phiền não và khổ đau.

Vì thế chúng ta phải hành thiền chỉ và thiền quán dựa trên giới. Khi chúng ta hành Chỉ-Quán, chúng ta phải hành Tứ Niệm Xứ (Cattaro satipaṭṭhāna):

- Niệm thân (Kāyānupassanā satipaṭṭhāna)
- Niệm thọ (Vedanānupassanā satipaṭṭhāna)
- Niệm tâm (Cittānupassanā satipaṭṭhāna)
- Niệm pháp (Dhammānupassanā satipaṭṭhāna)

Cái gì là “thân” (kāya)? Trong thiền minh sát có hai loại thân: sắc thân (rūpakāya) và danh thân (nāmakāya). Sắc thân là một tổng hợp hai mươi tám loại sắc. Danh thân là một nhóm các tâm và tâm sở của chúng. Nói cách khác, hai thân ở đây là năm uẩn (khandha) – sắc, thọ, tưởng, hành và thức.

Nhưng những đối tượng của thiền chỉ (samatha) như là hơi thỏ, ba mươi hai thể trược (asubha) và tứ đại cũng được gọi là thân. Vì sao? Chúng cũng là nguyên khối sắc. Chẳng hạn, hơi thở là một nhóm các tổng hợp sắc do tâm tạo. Nếu chúng ta phân tích các tổng hợp sắc ấy, chúng ta sẽ thấy có chín loại sắc trong mỗi tổng hợp: đất, nước, lửa, gió, màu, mùi, vị, dưỡng chất và (âm) thanh (sắc cảnh thinh). Bộ xương cũng là nguyên khối của các tổng hợp sắc. Nếu là một cơ thể sống thì có tổng cộng năm loại tổng hợp sắc. Nếu phân tích các tổng hợp sắc ấy, chúng ta thấy có bốn mươi bốn loại sắc.

Trong phần niệm thân, đức Phật dạy hai loại thiền: chỉ và quán. Trong mục quán thân, Ngài gồm luôn niệm hơi thở (ānāpānasati) và ba mươi hai thể trược v.v… Vì thế, nếu hành giả đang hành niệm hơi thở, hành giả cũng đang hành quán thân. Tất cả những pháp thiền chỉ ấy đều đi vào phần quán thân. Sau khi hành giả đã thành công trong việc hành thiền chỉ, hành giả chuyển sang thiền minh sát và thấy hai mươi tám loại sắc. Như thế cũng là đang hành quán thân. Vào lúc hành phân biệt danh (nāmakammaṭṭhāna), khi hành giả phân biệt các cảm thọ, thì đó là quán thọ; khi phân biệt tâm, là quán tâm; khi phân biệt xúc, là quán pháp. Nhưng chỉ phân biệt thọ, tâm và xúc thôi thì chưa đủ để đắc các tuệ minh sát. Vì thế, chúng ta phải phân biệt các tâm sở còn lại. Sau khi đã phân biệt xong danh và sắc, chúng ta còn phải phân biệt các nhân của chúng trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Đây là tuệ phân biệt Nhân Duyên (paccaya pariggaha ñāa). Sau tuệ phân biệt Nhân Duyên, tức là khi hành giả đã đạt đến giai đoạn minh sát (vipassanā), hành giả có thể nhấn mạnh vào sắc, hoặc thọ, tâm hay xúc. “Nhấn mạnh” ở đây không có nghĩa là hành giả chỉ phân biệt duy nhất một trạng thái. Hành giả có thể nhấn mạnh sắc nhưng cũng không bỏ quên danh. Tức là, hành giả cũng phải phân biệt thọ, tâm và pháp nữa[6].

Hành giả có thể nhấn mạnh các cảm thọ. Nhưng các cảm thọ thôi chưa đủ. Hành giả còn phải phân biệt các tâm hành đồng sanh với chúng, các căn của chúng và các đối tượng của chúng. Năm căn và các đối tượng của chúng là sắc. Đối với các tâm và pháp cũng như vậy[7].

Vì thế ở đây, vipassanā là quán tính vô thường, khổ và vô ngã của danh-sắc và các nhân của chúng. Các pháp ấy diệt ngay khi chúng vừa sanh lên, đó là vô thường. Chúng bị đàn áp với bởi sự sanh diệt liên tục, đó là khổ. Trong các pháp ấy không có tự ngã, không có gì bền vững, thường hằng và bất tử, đó là vô ngã. Sự phân biệt tính vô thường, khổ và vô ngã của danh-sắc và các nhân, các quả của chúng được gọi là thiền minh sát. Khi một hành giả hành thiền chỉ và quán, có thể nói là hành giả ấy đang hành Tứ Niệm Xứ.

Khi hành giả hành Tứ Niệm Xứ, hành giả phải đề khởi đủ Tứ Chánh Cần. Đó là:

- Tinh tấn ngăn không cho những bất thiện pháp khởi sanh
- Tinh tấn trừ diệt các bất thiện pháp đã sanh
- Tinh tấn phát khởi những thiện pháp chưa sanh (định thiện pháp, minh sát thiện pháp, Thánh đạo thiện pháp v.v…)
- Tinh tấn tu tập các thiện pháp cho đến A-la-hán Thánh quả.

Hành giả phải hành như thế nào? Hành giả phải hành theo Tứ Niệm Xứ . Khi hành cần phải đề khởi đủ bốn loại tinh tấn vừa đề cập, “dù cho thịt và máu ta có khô cạn chỉ còn lại xương và gân, ta cũng không từ bỏ thiền này.”

Khi hành, hành giả phải có Tứ Thần Túc:

- Dục (chanda): lòng mong mỏi kiên trì và mãnh liệt muốn đạt đến Niết-bàn.
- Cần (vīriya): tinh tấn kiên trì và mãnh liệt để đạt đến Niết-bàn.
- Tâm (citta): tâm kiên trì và mãnh liệt để đạt đến Niết-bàn.
- Thẩm (vimasa): minh sát tuệ kiên trì và mãnh liệt để đạt đến Niết-bàn.

Nếu có lòng mong mỏi mạnh mẽ như vậy, chúng ta sẽ đạt đến mục đích. Không có điều gì không thể thành tựu nếu có đủ hoài bão. Với tinh tấn, tâm và thẩm, không có gì không thể thành tựu.

Khi hành chỉ và quán dựa trên giới, chúng ta cũng phải có ngũ căn. Đó là:

- Tín (saddha): niềm tin kiên cố nơi đức Phật và những lời dạy của Ngài.
- Tấn (vīriya): vận dụng tinh tấn đủ mạnh.
- Niệm (sati): phải có niệm đủ mạnh trên đối tượng thiền. Nếu là thiền chỉ, nó phải là một đối tượng như tướng hơi thở (ānāpāna nimitta) hoặc tướng kasiṇa (kasia nimitta). Nếu là minh sát (quán), nó phải là danh, sắc và các nhân của chúng.
- Định (samādhi): phải có định đủ mạnh trên các đối tượng chỉ và minh sát.
- Tuệ (paññāa): phải có sự hiểu biết đầy đủ về các đối tượng thiền chỉ và thiền minh sát.

Năm căn tinh thần này sẽ kiểm soát tâm của hành giả, nhờ vậy nó không đi chệch ra khỏi con đường Bát Chánh, đưa đến Niết-bàn. Nếu hành giả không có một trong những căn này, hành giả không thể đạt đến mục tiêu của mình được. Hành giả không thể kiểm soát được tâm của mình. Năm căn này có sức mạnh kiểm soát được tâm hành giả, nhờ vậy nó không rời khỏi đối tượng thiền của hành giả. Sức mạnh này cũng được gọi là ý lực (bala). Trên ý nghĩa của ý lực, năm căn tinh thần được gọi là ngũ lực (pañcabalāni).

Ngoài Tứ Niệm Xứ ra, Thất Giác Chi (satta bojjhaga) cũng rất quan trọng. Đó là:

- Niệm (sati)
- Trạch pháp (dhammavicaya). Đây là minh sát tuệ.
- Tinh tấn (vīriya)
- Hỷ (pīti)
- An tịnh (passadhi)
- Định (samādhi)
- Xả (upekkhā)

Cuối cùng, có Bát Chánh Đạo (Ariyo aṭṭhangiko maggo):

- Chánh Kiến (sammā diṭṭhi)
- Chánh Tư Duy (sammā sankappa)
- Chánh Ngữ (sammā vācā)
- Chánh Nghiệp (sammā kammanta)
- Chánh Mạng (sammā ājīva)
- Chánh Tinh Tấn (sammā vāyāma)
- Chánh Niệm (sammā sati)
- Chánh Định (sammā samādhi).

Nói cách khác, đó là Giới, Định và Tuệ – Tam Học. Chúng ta phải hành Tam Học này một cách hệ thống.

Tất cả có 37 Pháp Trợ Giác Ngộ. Ước nguyện của đức Phật là các đệ tử của Ngài phải nắm vững 37 Pháp này và thực hành các pháp ấy cho đến quả vị A-la-hán. Nếu làm được điều đó, chúng ta có thể truyền trao cho các thế hệ tương lai di sản này. Như vậy, chúng ta và các thế hệ tương lai sẽ nhận được những lợi ích trong đời này cho đến khi chứng đắc Niết-bàn.

Những Lời Khuyên Của Đức Phật Cho Tăng Chúng.

Trong Kinh Đại Niết-bàn, đức Phật nói thêm:

Handa dāni bhikkhave āmantayāmi vo,
vayadhammā sankhārā appamādena sampādetha
.”

(Này các tỳ khưu, tất cả hành (pháp hữu vi) phải chịu sự tan hoại,
Do đó hãy phấn đấu chớ nên dễ duôi.)

Tất cả danh-sắc và các nhân của chúng được gọi chung là các hành (sankhāra) vì chúng được tạo ra bởi các nhân tương ứng của chúng. Các hành luôn luôn vô thường.

Hành giả không nên quên về tính vô thường này. Chính do quên tính vô thường (của các pháp) mà quý vị khao khát cho bản thân mình, cho con cái, cho gia đình, v.v… Nếu biết được mọi vật đều mang tính vô thường thì trong suốt cuộc đời, chúng ta sẽ cố gắng thoát khỏi nó. Vì thế, quý vị không nên quên lời khích lệ của đức Phật: “Tất cả các hành phải tan hoại, do đó, hãy phấn đấu chớ nên dễ duôi!”

Đức Phật dạy tiếp:

Na cira Tathāgatassa Parinibbāna bhavissati.
Ito tinna
māsāna accayena Tathāgato parinibbāyissati“.

(Giờ diệt độ của Như Lai sắp đến,
Ba tháng nữa, kể từ hôm nay, Như Lai sẽ nhập Đại Niết-bàn.)

Điều đó có nghĩa là Ngài sẽ diệt độ hoàn toàn. Quả thực là đau buồn khi nghe những lời đó. Đức Phật cũng nói:

Paripakko vayo mayha, paritta mama jīvita.
(Tuổi ta giờ đã quá già, thọ mạng chỉ còn ngắn ngủi.)

Rồi Ngài đã mô tả tuổi già của Ngài cho Tôn giả Ānanda:

“Này Ānanda, Ta nay đã già yếu, đã vượt qua năm tháng,
Năm nay ta đã tám mươi, đã trải qua cuộc đời.

Như một chiếc xe cũ kỹ, này Ānanda, được ràng giữ lại với nhau với nhiều khó khăn, thân của Như Lai cũng vậy, chỉ khi được hỗ trợ mới tiếp tục tồn tại.

Đó là, này Ānanda, chỉ khi Như Lai không tác ý đến các đối tượng bên ngoài, với sự diệt trừ một cảm thọ, chứng và trú Vô Tướng Tâm Định, [8] thân ta mới được thoải mái.”

Pahāya vo gamissāmi, kata me saraamattano.
(Từ biệt các người ta ra đi, chỉ nương tựa vào chính mình mà thôi.)

Điều đó có nghĩa Ngài sẽ nhập Đại Niết-bàn và rời bỏ tất cả. Ngài đã tạo dựng nơi nương tựa cho chính Ngài bằng quả vị A-la-hán.

“Do vậy, này Ānanda, hãy là hòn đảo cho chính mình, hãy nương tựa vào chính mình, đừng tìm sự nương tựa ở bên ngoài; hãy lấy Pháp làm hòn đảo, lấy Pháp làm nơi nương tựa, chớ tìm sự nương tựa nào khác.

Và này Ānanda, một vị tỳ khưu là hòn đảo cho chính mình, là nơi nương tựa cho chính mình, không tìm nơi nương tựa bên ngoài, lấy Pháp làm hòn đảo, lấy Pháp làm nơi nương tựa, không tìm sự nương tựa nào khác, là thế nào?”

Câu trả lời của đức Phật như sau:

Appamattā satimanto susīlā hotha bhikkhavo
Susamāhitasankappā sacittamanurakkhatha
.”

(Như vậy, này chư tỳ khưu, hãy chuyên cần chánh niệm và giới hạnh trong sạch.
Với quyết tâm vững chắc, canh giữ tâm của các người.)

Susīlā hotha bhikkhavo“, có nghĩa, “Này các tỳ khưu, các người phải cố gắng thanh tịnh giới hạnh của mình. Các người phải cố gắng là những vị tỳ khưu có giới hạnh hoàn toàn trong sạch.” Điều này muốn nói chúng ta phải trau dồi giới học, đó là, chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng.

Susamāhita” nghĩa là, chúng ta phải thực hành định học, tức chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. “Sankappā“, nghĩa là tuệ học, tức chánh kiến và chánh tư duy.

Appamattā” nghĩa là để thấy, với minh sát trí, tính vô thường, khổ và vô ngã trong các hành.

Satimato” có nghĩa khi chúng ta thực hành Tam Học – Giới, Định, Tuệ – chúng ta phải có đủ chánh niệm.

Vì thế chúng ta cần phải chánh niệm và chuyên cần. Chánh niệm về những gì? Chánh niệm về Tứ Niệm Xứ, danh và sắc, hay nói khác hơn, chúng ta phải chánh niệm trên các hành.

Cuối cùng, đức Phật nói:

Yo masmi dhamma vinaye appamatto vihessati
pahāya jātasamsāra
dukkhassanta karissati.

(Bất cứ người nào nhiệt tâm theo đuổi Pháp và Luật (dhamma – vinaya) này sẽ vượt qua vòng tử sanh luân hồi, đoạn tận mọi khổ đau.)

Như vậy, nếu muốn chấm dứt tử sanh luân hồi, chúng ta phải theo những lời dạy của đức Phật, tức là Bát Thánh Đạo. Chúng ta hãy phấn đấu nỗ lực trước khi cái chết xảy ra.

Cầu mong tất cả chúng sinh được an vui hạnh phúc.

Ghi chú:

Đức Phật Gotama có ba loại Thánh quả định:

1. A-la-hán Thánh Quả Định sau Đạo (maggānantra phala samāpatti)[9]. Đây là A-la-hán Thánh Quả Định đến liền sau thiện nghiệp A-la-hán Thánh đạo (Noble Arahant-Path wholesome kamma). Nó có đặc tính của vô gián quả và được đề cập đến như sát-na quả định (khaika phala samāpatti). Ba sát-na tâm quả sanh liền sau A-la-hán Thánh đạo tâm của đức Phật thuộc về loại này.

2. A-la-hán Thánh Quả Định vãng lai (valañjana phala samāpatti). Đây là A-la-hán Thánh Quả Định kéo dài mà một vị A-la-hán có thể nhập vào lúc nào cũng được. Thiền quả này được xem là sự thọ hưởng an lạc tịch tịnh của Niết-bàn và cũng đề cập đến như một loại sát-na quả định. Đức Phật thường xuyên nhập vào định chứng này, ngay cả trong lúc Ngài đang thuyết pháp, khi mà thính chúng đang hoan hỷ nói lên lời “sādhu, sādhu” (lành thay, lành thay). Ở đây phải hiểu là, chỉ cần một thời khắc ngắn ngủi giữa thời pháp, lúc mọi người đang hoan hỷ nói lời “sādhu“, đức Phật đã nhập vào định chứng này, rồi xuất liền để tiếp tục thuyết pháp.

3. A-la-hán Thánh Quả Định duy trì thọ mạng (āyusankhāra phala samāpatti)[10]. Thánh quả này luôn luôn theo sau vipassanā (minh sát) với bảy cách quán sắc và bảy cách quán danh. Các pháp này được đức Bồ tát thực hành ở ngưỡng Giác Ngộ dưới cội bồ đề và hàng ngày từ khi chứng đau lưng của Ngài xuất hiện ở ngôi làng Veluna cho đến ngày Bát Niết-bàn của Ngài. Lúc sắp hoàn tất công việc minh sát và nhập A-la-hán Thánh Quả Định, đức Phật quyết định: “Kể từ hôm nay cho đến ngày Bát Niết-bàn, thọ khổ này sẽ không khởi lên”. Rồi Ngài tiếp tục hành vipassanā trở lại để sau đó nhập A-la-hán Thánh Quả Định.

Cái khác giữa sát-na Thánh quả định và Thánh quả định duy trì thọ mạng là ở chỗ minh sát đi trước. Sát-na A-la-hán Thánh Quả Định chỉ là sự thọ hưởng an lạc tịch tịnh của Niết-bàn được đi trước bởi một phương thức nhập vào minh sát bình thường. Trong khi đó A-la-hán Thánh Quả Định duy trì thọ mạng lại được đi trước bởi một phương thức hành minh sát cao hơn đòi hỏi phải có nỗ lực lớn, đó là thực hành theo bảy cách quán sắc (rūpusattaka) và bảy cách quán danh (arūpusattaka). Cái khác trên phương diện kết quả là sát-na A-la-hán Thánh Quả Định chỉ đè nén được một thọ khổ trong thời gian nhập định chứng ấy, như một viên đá rơi vào nước chỉ xuyên qua nước bao lâu còn tác động của nó, sau đó đám bèo lại phủ lại. Còn A-la-hán Thánh Quả Định duy trì thọ mạng có thể đè nén cơn đau trong một thời hạn đã định (như ở đây đức Phật quyết định 10 tháng), tựa như một người khỏe mạnh lao vào hồ nước và vẹt sạch đám bèo ấy, nhờ vậy đám bèo sẽ không phủ lại trong một thời gian đáng kể.

-ooOoo-

[1] Thọ hành (āusankhārā) theo Chú Giải biểu thị cho chính tuổi thọ (āyu), một từ được xác nhận là đồng nghĩa với mạng căn (jīvitindriya), có chức năng duy trì sự sống. Xem N.444/MN

[2] DA.II.3 “Mahāparinibbāna Sutta” (Đại Niết-bàn Kinh).

[3] D.II.3 “Đại Bát Niết-bàn Kinh”.

[4] MA. II. iv.i (Ghaīkāra Sutta)

[5] D.II.3 (Mahā parinibbāna Sutta – Đại Niết-bàn Kinh)

[6] Có bốn niệm xứ là thân, thọ, tâm, pháp. Pháp là những thành phần còn lại của danh thân. Đức Phật giải thích Pháp cũng như năm uẩn, mười hai xứ, năm triền cái, thất giác chi và Tứ Thánh Đế. Thực ra khó có thể tách các phương diện của pháp này ra được, vì mỗi pháp bao gồm các pháp khác. Chẳng hạn, tuệ tri Tứ Thánh Đế là để tuệ tri Bát Chánh Đạo. Tuệ tri Bát Chánh Đạo cũng là tuệ tri Thất Giác Chi. Và đó cũng là để tuệ tri danh-sắc, năm uẩn và mười hai xứ v.v… Vì vậy, tất cả Ba Mươi Bảy Pháp Trợ Giác Ngộ cần phải được tuệ tri để sự giác ngộ xảy ra.

[7] Thiền sư Pa-Auk đã bàn về minh sát qua việc chỉ phân biệt các cảm thọ trong câu trả lời 4.6 ở trên.

[8] Đây là A-la-hán Thánh quả định với Vô Tướng Giới có Niết-bàn làm đối tượng.

[9] Đây là A-la-hán Thánh quả định với Vô Tướng Giới có Niết-bàn làm đối tượng.

[10] Còn gọi là A-la-hán Thánh Quả Định bảo hộ thọ mạng (āyupālaka phala samāpatti) hoặc A-la-hán Thánh Quả Định duy trì mạng căn (jivītasankhāra phala samāpatti).

-ooOoo-

BÀI PHÁP THOẠI 9

Loại cúng dường cao thượng nhất

(Tùy hỷ pháp đến các Thí Chủ, Ban Tổ Chức và những Người Trợ Giúp) [1]

Có hai loại cúng dường:

- Cúng dường cho quả sung mãn
- Cúng dường không cho quả.

Quý vị thích loại cúng dường nào? Xin vui lòng trả lời câu hỏi này của chúng tôi.

Chúng ta hãy nhìn lại những ước nguyện của đức Phật dành cho hàng đệ tử (sāvaka) của Ngài vì nó liên quan dến sự cúng dường trong giáo pháp này. Ứớc nguyện của quý vị và ước nguyện của đức Phật giống nhau hay khác – điều này chúng ta sẽ tìm hiểu trong Kinh Phân Biệt Cúng Dường (Dakkhināvibhanga Sutta)[2].

Một thời đức Phật đang trú ngụ trong vương quốc của dòng tộc Thích Ca (Sakyan) nơi khu vườn Nigrodha tại Ca-tỳ-la-vệ. Lúc bấy giờ, bà Mahāpajāpatigotamī đi đến đức Phật mang theo một cặp y mới mà bà đã nhờ những người thợ dệt khéo léo nhất làm nên. Sau khi đảnh lễ đức Phật, bà ngồi xuống một bên và nói với đức Phật:

- Bạch Ngài (Bhante), cặp y mới này do tay tôi quay tơ, nhờ người dệt để dành riêng cho đức Phật, xin đức Phật vì lòng bi mẫn mà nhận nó.

Đức Phật nói:

- Này Gotamī, hãy cúng dường đến Tăng chúng (Sangha). Khi bà cúng dường y này đến Tăng chúng thì sự cúng dường ấy sẽ giống như vừa làm đến ta, vừa làm đến Tăng chúng vậy.

Bà thỉnh cầu đức Phật đến ba lần và đức Phật cũng trả lời như vậy đến ba lần. Lúc ấy, Tôn giả Ānanda bèn thưa với đức Phật:

“Bạch Ngài, xin Ngài hãy hoan hỷ nhận lãnh cặp y mới này cho bà Mahāpajāpatigotamī. Bà đã từng giúp đỡ Ngài rất nhiều. Bà là di mẫu, là vú nuôi của Ngài, là người đã cho Ngài sữa. Bà đã cho Ngài bú mớm khi Mẫu hậu qua đời.

Đức Phật cũng đã đem lại cho bà rất nhiều lợi ích. Chính nhờ đức Phật mà bà đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Chính nhờ đức Phật mà bà đã giữ giới không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh trong các dục, không nói dối, không uống rượu và các chất say – là nhân sanh dễ duôi. Chính nhờ đức Phật mà bà có niềm tin tuyệt đối nơi Tam bảo và có giới hạnh mà các bậc thánh (ariya) yêu mến. Chính nhờ đức Phật mà bà dứt khỏi hoài nghi về Khổ Thánh Đế (dukkhasacca), về Tập Thánh Đế (samudayasacca), về Diệt Thánh Đế (nodrodhasacca) và về Đạo Thánh Đế (maggasacca). Như vậy đức Phật đã giúp ích cho bà Mahāpajāpatigotamī rất nhiều.”

Đức Phật trả lời như sau:

“Thực sự là vậy, này Ānanda, thực sự là vậy! Khi một người đệ tử, nhờ bậc đạo sư, mà biết quy y Tam Bảo, ta nói rằng không dễ gì cho người đệ tử ấy đền đáp bậc đạo sư bằng cách tỏ lòng cung kính, đứng dậy tiếp nước, phục vụ và dâng cúng những nhu cầu cần thiết đâu.

Khi một người đệ tử, nhờ bậc đạo sư, biết giữ giới không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh trong các dục, không nói dối, không uống rượu và các chất say, là nhân sanh dễ duôi. Ta nói rằng không dễ gì cho người đệ tử ấy đền đáp bậc đạo sư bằng cách tỏ lòng cung kính, đứng dậy tiếp nước, phục vụ và dâng cúng những nhu cầu cần thiết đâu.

Khi một người đệ tử, nhờ bậc đạo sư mà có niềm tin tuyệt đối nơi đức Phật, Giáo pháp, chư Tăng và có giới được các bậc Thánh yêu mến. Ta nói rằng không dễ gì cho người đệ tử ấy đền đáp bậc đạo sư bằng cách tỏ lòng cung kính, đứng dậy tiếp nước, phục vụ và dâng cúng những nhu cầu cần thiết đâu.

Khi một người đệ tử, nhờ bậc đạo sư mà dứt hoài nghi về Khổ Thánh Đế, về Tập Thánh Đế, về Diệt Thánh Đế, về Đạo Thánh Đế. Ta nói rằng không dễ gì cho người đệ tử ấy đền đáp bậc đạo sư bằng cách tỏ lòng cung kính, đứng dậy tiếp nước, phục vụ và dâng cúng những nhu cầu cần thiết đâu.”

Ngang đây, chúng ta thử bàn luận ý nghĩa đức Phật muốn nói.

Nếu một người đệ tử tuệ tri Tứ Thánh Đế qua sự hướng dẫn của một bậc đạo sư thì minh sát trí về Tứ Thánh Đế của vị ấy có lợi nhiều hơn so với những hành động tôn kính, cúng dường tứ vật dụng đến bậc đạo sư. Nếu người ấy tuệ tri Tứ Thánh Đế qua Nhập Lưu Thánh đạo tuệ và Nhập Lưu Thánh quả tuệ (Sotāpatti magga phalañāa) thì minh sát trí này sẽ giúp họ thoát khỏi bốn ác đạo (apāya: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la). Kết quả này thực là kỳ diệu. Những người dễ duôi trong việc thực hiện những thiện nghiệp thường phải lang thang trong bốn cõi ác. Bốn đọa xứ ấy giống như căn nhà của họ (pamattassa ca nāma cattāro apāyā sakagehasadisā)[3]. Chỉ thỉnh thoảng họ mới viếng thăm các cõi lành. Như vậy, thoát khỏi bốn đọa xứ quả thực là cơ hội quý giá, không thể nào đem so sánh với những việc tôn kính, cúng dường tứ vật dụng cho bậc đạo sư của người đệ tử.

Lại nữa, nếu một người đệ tử tuệ tri Tứ Thánh Đế qua Nhất Lai Thánh đạo tuệ và Nhất Lai Thánh quả tuệ (Sakadāgāmi magga phalañāa), người ấy sẽ trở lại cõi người này chỉ một lần nữa. Còn nếu vị ấy tuệ tri Tứ Thánh Đế qua Bất Lai Thánh đạo tuệ và Bất Lai Thánh quả tuệ (Anāgāmi magga phalañāa), minh sát trí này sẽ giúp vị ấy thoát khỏi mười một cõi dục. Vị ấy nhất định sẽ tái sanh vào một Phạm Thiên giới nào đó và không bao giờ trở lại cõi dục này. Lạc của Phạm Thiên giới thù thắng hơn dục lạc rất nhiều. Trong cõi Phạm Thiên không có đàn ông, không có đàn bà, không có gia đình, v.v… Ở đó không có đánh nhau, cãi nhau, chẳng cần phải ăn uống. Thọ mạng của họ rất dài. Không ai có thể phá hoại hạnh phúc của họ. Họ thoát khỏi mọi hiểm nguy, nhưng vẫn phải chịu tiêu hoại, phải chịu tái sanh trở lại, nếu họ không đắc A-la-hán.

Hơn nữa, nếu một người đệ tử tuệ tri Tứ Thánh Đế qua A-la-hán Thánh đạo và A-la-hán Thánh quả (Arahatta magga-phalañāa), minh sát trí này sẽ dẫn đến sự giải thoát khỏi vòng luân hồi của vị ấy. Sau khi Bát Niết-bàn nhất định vị ấy sẽ không còn khổ, không còn sinh, hoại, bệnh, tử, v.v… nữa. Vì thế, những lợi ích này có giá trị hơn những hành động cung kính và dâng cúng tứ vật dụng đến bậc đạo sư của người đệ tử. Dù cho họ có cúng dường tứ vật dụng cao như núi Tu Di, sự cúng dường ấy cũng không đủ để trả món nợ của họ, bởi vì thoát khỏi luân hồi, hay thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử giá trị hơn rất nhiều.

Thế nào là Tứ Thánh Đế mà người đệ tử đã tuệ tri?

1. Khổ Thánh Đế (dukkhasacca) ở đây là năm uẩn. Nếu một người đệ tử nương vào vị đạo sư tuệ tri Khổ Thánh Đế, minh sát trí này có giá trị hơn hành động tôn kính, cúng dường tứ vật dụng đến bậc đạo sư.

2. Tập Thánh Đế (samudayasacca) ở đây là duyên khởi. Nếu một người đệ tử nương vào vị đạo sư tuệ tri Tập Thánh Đế hay duyên khởi, minh sát trí này có giá trị hơn những hành động tôn trọng, cúng dường tứ vật dụng đến bậc đạo sư.

3. Diệt Thánh Đế (nidrodha sacca) ở đây là Niết-bàn. Nếu một đệ tử nương vào bậc đạo sư tuệ tri Niết-bàn, minh sát trí này giá trị hơn những hành động tôn trọng, cúng dường tứ vật dụng đến bậc đạo sư.

4. Đạo Thánh Đế (magga sacca) ở đây là Bát Thánh Đạo. Nói cách khác, đây là minh sát trí (vipassanā ñāa) và đạo trí (magga ñāa). Nếu một người đệ tử có minh sát trí và đạo trí do nương một vị đạo sư, những minh sát trí này có giá trị hơn những hành động tôn trọng, cúng dường tứ vật dụng đến bậc đạo sư vì những minh sát trí này đưa đến sự giải thoát khỏi vòng luân hồi, trong khi những hành động tôn trọng và cúng dường tứ sự không thể là nhân trực tiếp đưa đến sự giải thoát khỏi luân hồi. Tuy nhiên cúng dường tứ sự có thể là một nhân gián tiếp hỗ trợ cho người đang hành Chỉ-Quán đạt đến Niết-bàn được.

Những Cơ Hội Không Nên Bỏ Lỡ

Ở đây, một lần nữa chúng tôi muốn giải thích thêm năm uẩn là Thánh Đế thứ nhất, tức Khổ Thánh Đế. Trong năm uẩn có sắc uẩn và sắc này sanh khởi như những tổng hợp sắc hay những phần tử rất nhỏ. Khi phân tích, hành giả thường thấy rằng chúng có hai mươi tám loại sắc. Ngoài Giáo pháp của đức Phật, không có bậc đạo sư nào có thể nói về những loại sắc này và làm thế nào để phân loại chúng. Chỉ có đức Phật và các vị đệ tử của Ngài mới có thể làm được điều đó. Hơn nữa, trong năm uẩn còn có bốn danh uẩn. Ngoài kiết sanh thức (tâm tục sinh), tâm hữu phần và tâm tử ra, các hành thuộc về danh hay tâm hành này khởi lên đều phải theo tiến trình tâm. Đức Phật dạy đích xác có bao nhiêu tâm sở phối hợp với một tâm trong một sát-na tâm và Ngài còn dạy cách làm thế nào để phân biệt và phân loại chúng nữa. Không có một bậc đạo sư nào ngoài đức Phật có thể chỉ rõ những tâm hành này được bởi vì các ngoại đạo sư ấy không thực sự liễu tri. Song nếu một người đệ tử của đức Phật thực hành chuyên cần và có hệ thống theo những chỉ dẫn của đức Phật, họ có thể phân biệt được các tâm hành ấy một cách rõ ràng. Đây là một cơ hội không gì sánh được cho hàng đệ tử. Quý vị không nên để lỡ cơ hội này.

Thêm nữa, duyên khởi là Thánh Đế thứ hai hay Tập Thánh Đế – Thánh Đế về nguồn gốc của khổ. Đức Phật cũng dạy cho hàng đệ tử của Ngài biết cách làm thế nào để phân biệt duyên khởi. Khi một người đệ tử của đức Phật phân biệt được duyên khởi đúng theo những chỉ dẫn của Ngài, họ sẽ tuệ tri mối tương quan giữa nhân và quả. Họ sẽ có được minh sát trí biết rõ rằng nhân quá khứ tạo ra quả hiện tại và nhân hiện tại tạo ra quả vị lai. Vị ấy tuệ tri được rằng trong ba giai đoạn quá khứ, hiện tại và vị lai, hoàn toàn không có một sáng tạo chủ nào tạo ra quả và cũng không có gì khởi lên mà không có nhân. Trí này cũng chỉ có được trong Giáo pháp của đức Phật. Vì thế quý vị không nên bỏ lỡ cơ hội này.

Vả lại, khi một người đệ tử phân biệt duyên khởi, vị ấy thấy được các kiếp quá khứ và các kiếp vị lai. Nếu phân biệt vào nhiều kiếp quá khứ, hành giả có được minh sát trí biết rõ loại bất thiện nghiệp nào dẫn đến tái sanh trong các khổ cảnh và loại thiện nghiệp nào dẫn đến tái sanh trong các cõi lành.

Trí hiểu biết về ba mươi mốt cõi và quy luật của nghiệp chỉ có thể tìm thấy trong Giáo pháp của đức Phật. Ngoài Giáo pháp của một vị Phật, không ai có thể biết được ba mươi mốt cõi và quy luật nghiệp báo vốn tạo ra tái sanh trong mỗi cõi ấy. Như vậy quý vị cũng không nên bỏ lỡ cơ hội này.

Còn nữa, nếu một người đệ tử phân biệt nhân quả trong các kiếp vị lai, vị ấy cũng thấy được sự diệt của danh-sắc. Vị ấy tuệ tri khi nào thì danh-sắc của mình sẽ diệt. Đây là Thánh Đế thứ ba – Diệt Thánh Đế. Trí này chỉ có thể có được trong Giáo pháp của đức Phật. Vì thế hành giả không nên bỏ lỡ cơ hội này.

Đức Phật cũng dạy con đường đi đến trạng thái diệt đó, tức Thánh Đế thứ tư hay Chỉ-Quán (samatha-vipassanā). Chỉ-Quán có nghĩa là Bát Thánh Đạo. Trí Phân Tích Danh-sắc và Trí Phân Biệt Nhân Duyên là chánh kiến. Trí (biết) về sự diệt của danh-sắc cũng là chánh kiến. Sự chú tâm vào Tứ Thánh Đế là chánh tư duy. Chánh kiến và chánh tư duy ở đây là minh sát (vipassanā). Muốn hành minh sát chúng ta phải có định của thiền chỉ (samatha), tức là chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Khi chúng ta trau dồi chỉ quán, chúng ta phải có thanh tịnh giới – chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng. Trau dồi chỉ quán dựa trên giới, tức là trau dồi Bát Chánh Đạo và Bát Chánh Đạo này chỉ có thể tìm thấy trong Giáo pháp của một vị Phật. Do đó, quý vị cũng không nên bỏ lỡ cơ hội này. Vì sao? Minh sát trí về Tứ Thánh Đế đưa đến sự giải thoát khỏi vòng tử sanh luân hồi của người đệ tử vậy.

Mười bốn loại cúng dường theo cá nhân

Như đã đề cập, sự giải thoát này vẫn có thể được hỗ trợ bởi những hành động bố thí hay cúng dường của người đệ tử. Trong Kinh Phân Biệt Cúng Dường mà ở đầu bài giảng này có đề cập đến, đức Phật giải thích 14 loại cúng dường theo cá nhân hay đối nhân thí (pātipuggalikadakkhia) như sau:

“Này Ānanda, có 14 loại đối nhân thí:

- Cúng dường đến một vị Phật. Đây là đối nhân thí thứ nhất.
- Cúng dường đến một vị Độc Giác Phật (Paccekabuddha). Đây là đối nhân thí thứ hai.
- Cúng dường đến một vị A-la-hán. Đây là đối nhân thí thứ ba.
- Cúng dường đến một vị đã nhập vào đạo lộ dưa đến sự chứng đắc A-la-hán Thánh quả. Đây là đối nhân thí thứ tư.
- Cúng dường đến một vị Bất Lai. Đây là đối nhân thí thứ năm.
- Cúng dường đến một vị đã nhập vào đạo lộ đưa đến sự chứng đắc Bất Lai Thánh quả. Đây là đối nhân thí thứ sáu.
- Cúng dường đến một vị Nhất Lai. Đây là đối nhân thí thứ bảy.
- Cúng dường đến một vị đã nhập vào đạo lộ đưa đến sự chứng đắc Nhất Lai Thánh quả. Đây là đối nhân thí thứ tám.
- Cúng dường đến một vị Nhập Lưu. Đây là đối nhân thí thứ chín.
- Cúng dường đến một vị đã nhập vào đạo lộ đưa đến sự chứng đắc Nhập Lưu Thánh quả. Đây là đối nhân thí thứ mười.
- Cúng dường đến một vị ngoài giáo pháp (đức Phật) đã ly tham đối với các dục do chứng thiền. Đây là đối nhân thí thứ mười một.
- Cúng dường đến một phàm nhân có giới đức. Đây là đối nhân thí thứ mười hai.
- Cúng dường đến một phàm nhân không giới đức. Đây là đối nhân thí thứ mười ba.
- Bố thí đến một con vật. Đây là đối nhân thí thứ mười bốn.”

Sau đó, đức Phật giải thích những lợi ích của mười bốn loại cúng dường này.

Do bố thí đến một con vật, với tâm trong sạch, sự bố thí này có thể được đáp trả lại gấp một trăm lần.

Điều đó có nghĩa là việc làm ấy có thể tạo ra kết quả trong một trăm kiếp. Ở đây, “tâm trong sạch” tức là bố thí không mong đợi đáp trả như mong sự giúp đỡ từ người thọ nhận chẳng hạn. Người làm phước chỉ để tích tạo thiện nghiệp, với đức tin đủ mạnh nơi quy luật của nghiệp. Giả sử một người cho chó ăn với ý nghĩ: “vì đây là con chó của ta” – đó không phải là một trạng thái tâm trong sạch. Nhưng nếu một người bố thí thức ăn cho chim chóc thì sự bố thí ấy là trong sạch vì họ không mong đợi điều gì nơi những con chim đó cả.điều này cũng áp dụng cho những trường hợp khác đã đề cập. Chẳng hạn, nếu một người cúng dường tứ vật dụng tới vị tỳ khưu với ý nghĩ rằng sự cúng dường này sẽ đem lại may mắn trong công việc làm ăn của mình thì đó không phải là cúng dường với tâm trong sạch. Loại cúng dường như vậy không tạo ra những lợi ích thù thắng.

Rồi đức Phật giải thích thêm:

Do bố thí với tâm trong sạch đến một phàm nhân không giới đức, sự bố thí này có thể được đáp trả lại gấp một ngàn lần.

Do cúng dường với tâm trong sạch đến môt phàm nhân giới đức, sự cúng dường ấy có thể được đáp trả lại một trăm ngàn lần.

Do cúng dường đến một người ngoài giáo pháp đã ly tham đối với các dục nhờ chứng thiền, sự cúng dường ấy có thể được đáp trả một ngàn vạn lần.

Do cúng dường đến một vị đã nhập vào đạo lộ dẫn đến sự chứng đắc Nhập Lưu Thánh quả, kết quả của sự cúng dường ấy không thể tính kể, không thể đo lường được.

Như vậy, còn nói gì đến việc cúng dường đến một vị Nhập Lưu; hoặc đến một vị đã nhập vào đạo lộ dẫn đến sự chứng đắc Nhất Lai Thánh quả, hay đến một vị Nhất Lai; hoặc đến một vị đã nhập vào đạo lộ dẫn đến Bất Lai Thánh quả, hay đến một vị Bất Lai; hoặc đến một vị đã nhập vào đạo lộ dẫn đến A-la-hán Thánh quả, hay một vị A-la-hán; hoặc đến một vị Độc Giác Phật; hoặc đến một vị Toàn Giác Phật?

Ở đây, một sự cúng dường nghĩa là người ấy cúng dường, ví dụ thức ăn, chỉ đủ cho một bữa. Nếu người ấy cúng dường nhiều lần, như làm trong nhiều ngày, hoặc nhiều tháng thì không có ngôn từ nào có thể diễn tả hết lợi ích của sự cúng dường đó.

Bảy Loại Cúng Dường Đến Tăng Chúng

Sau đó đức Phật giải thích cho tôn giả Ānanda về các loại cúng dường khác.

Có bảy loại cúng dường đến Tăng chúng (Sangha dāna).

- Cúng dường đến cả hai chúng tỳ khưu Tăng và tỳ khưu Ni có đức Phật là tọa chủ. Đây là loại cúng dường thứ nhất đến Tăng chúng.
- Cúng dường đến cả hai chúng tỳ khưu Tăng và tỳ khưu Ni sau khi đức Phật đã Bát Niết-bàn. Đây là loại cúng dường thứ hai đến Tăng chúng.
- Cúng dường đến Tăng chúng tỳ khưu. Đây là loại cúng dường thứ ba đến Tăng chúng.
- Cúng dường đến chúng tỳ khưu Ni. Đây là loại cúng dường thứ tư đến Tăng chúng.
- Cúng dường bằng cách nói: “Xin tăng chúng hãy chỉ định chừng này vị tỳ khưu và tỳ khưu ni đến con.” Đây là loại cúng dường thứ năm đến Tăng chúng.
- Cúng dường bằng cách nói: “Xin Tăng chúng hãy chỉ định chừng này vị tỳ khưu đến con”. Đây là loại cúng dường thứ sáu đến Tăng chúng.
- Cúng dường bằng cách nói: “Xin Tăng chúng hãy chỉ định chừng này vị tỳ khưu Ni đến con”. Đây là loại cúng dường thứ bảy đến Tăng chúng.

Trên đây là bảy loại cúng dường đến Tăng chúng. Đức Phật sau đó đã so sánh những sự cúng dường đến cá nhân (đối nhân thí) với sự cúng dường đến Tăng chúng.

Trong thời vị lai sẽ có những người chỉ là tỳ khưu trên danh nghĩa, chỉ còn “mảnh vải vàng quanh cổ”, ác tánh, không đạo đức. Người ta sẽ cúng dường đến những người không đạo đức thay mặt cho Tăng chúng ấy. Ngay cả như vậy, một sự cúng dường đến Tăng chúng cũng đem lại phước báu không thể tính kể, không thể đo lường được.

Điều này có nghĩa, sự cúng dường đến Tăng chúng (Sangha dāna) lợi ích hơn rất nhiều so với sự cúng dường đến cá nhân (ipuggalika dakkhina). Nếu bà Mahāpajāpatigotamī cúng dường cặp y ấy đến Tăng chúng có đức Phật tọa chủ thì lợi ích sẽ thù thắng hơn, kết quả không thể tính kể và không thể đo lường được. Vì thế mà đức Phật khuyên bà nên cúng dường đến Tăng chúng.

Trong bài Kinh, đức Phật cũng giải thích bốn loại thanh tịnh cúng dường.

Bốn Loại Thanh Tịnh Cúng Dường

Đó là:

- Cúng dường được thanh tịnh bởi thí chủ chứ không bởi người thọ nhận. Ở đây, thí chủ là người giới đức, thiện tánh và người thọ nhận là người không đạo đức, ác tánh. Như vậy, sự cúng dường ấy được thanh tịnh bởi thí chủ chứ không bởi người thọ nhận.

- Cúng dường được thanh tịnh bởi người thọ nhận chứ không do thí chủ. Ở đây, thí chủ là người không đạo đức, ác tánh và người thọ nhận là người giới đức, thiện tánh. Như vậy, sự cúng dường ấy được thanh tịnh bởi người thọ nhận chứ không bởi thí chủ.

- Cúng dường không được thanh tịnh bởi cả thí chủ lẫn người thọ nhận. Ở đây, thí chủ và người thọ nhận đều là người không giới đức, ác tánh. Như vậy, sự cúng dường ấy không được thanh tịnh bởi cả thí chủ lẫn người thọ nhận.

- Cúng dường được thanh tịnh bởi cả thí chủ lẫn người thọ nhận. Ở đây, thí chủ và người thọ nhận đều là người giới đức, thiện tánh. Như vậy, sự cúng dường ấy được thanh tịnh bởi cả thí chủ lẫn người thọ nhận.

Đức Phật giải thích thêm:

“Khi một người giới đức bố thí đến một người không đạo đức,
Với tâm trong sạch không cấu nhiễm[4],
Vật thí có được một cách chân chánh,
Đặt niềm tin lớn vào quả của nghiệp,
Giới đức người bố thí đã làm thanh tịnh cúng dường.”

Để có được những lợi ích cao thượng, người bố thí phải hoàn tất bốn điều kiện kể trên, vì lúc ấy, mặc dù người thọ nhận là một người không đạo đức, việc cúng dường vẫn được thanh tịnh bởi thí chủ.

Chú giải có đề cập đến trường hợp của Vessantara[5]. Đức Bồ tát của chúng ta trong một kiếp quá khứ có tên là Vessantara đã bố thí người con trai và con gái của mình (sau này là Rahula Uppalavaṇṇa) cho Bà-la-môn Jūjaka, một người ác tánh và vô đạo đức. Cuộc bố thí ấy là cuộc bố thí cuối cùng vì các ba-la-mật về bố thí của Bồ tát Vessantara đã được đầy đủ. Sau khi hoàn tất ba-la-mật cuối cùng này, Ngài đã sẵn sàng để đạt đến sự giác ngộ, một sự kiện mà Ngài chỉ chờ thời gian để chín mùi mà thôi. Nhờ ba-la-mật bố thí này và các ba-la-mật khác trước đó, giờ đây Ngài chắc chắn sẽ đắc Nhất Thiết Trí (Sabbaññutā ñāa). Vì thế, chúng ta có thể nói rằng bố thí là một trợ duyên cho sự chứng ngộ của Ngài. Nó đã được thanh tịnh bởi Bồ tát Vessantara. Vào lúc đó, Vessantara là một người giới đức, thiện tánh. Sự bố thí của Ngài có được một cách chân chánh. Tâm Ngài trong sạch và không cấu nhiễm vì Ngài chỉ có một ước nguyện là đạt đến giác ngộ. Ngài có đức tin đủ mạnh nơi Quy luật nghiệp báo. Vì thế, sự cúng dường ấy được thanh tịnh bởi người cho hay thí chủ.

Loại cúng dường được thanh tịnh bởi người thọ nhận là khi một người không đạo đức, tâm không trong sạch, đầy những tham đắm và sân hận v.v…, không có đức tin nơi Quy luật nghiệp báo, cúng dường vật có được một cách bất chánh cho một người giới đức. Chú giải đề cập đến một người đánh cá. Người đánh cá này sống gần cửa sông Kalyani ở Sri Lanka (Tích Lan) đã ba lần cúng dường thức ăn đến một vị Trưởng lão là bậc A-la-hán. Vào lúc sắp chết, người đánh cá ấy nhớ tới những lần cúng dường của mình đến vị Trưởng lão. Do vậy, những tướng tốt về một Thiên giới đã xuất hiện trong tâm ông. Vì thế, trước khi chết ông nói với thân quyến của mình “Trưởng lão ấy đã cứu tôi”. Sau đó, ông được tái sanh vào cõi chư Thiên. Trong trường hợp này, người đánh cá là người không đạo đức và ác tánh, nhưng người thọ nhận là một bậc giới đức. Vì thế, sự cúng dường này được gọi là thanh tịnh nhờ người thọ nhận.

Loại cúng dường không được thanh tịnh bởi cả thí chủ lẫn người thọ nhận là khi một người không đạo đức, tâm không trong sạch, đầy những tham đắm và sân hận, không có đức tin nơi Quy luật nghiệp báo, cúng dường vật có được một cách bất chính cho một người không đạo đức. Chú giải đề cập đến trường hợp một người thợ săn. Khi ông ta chết, ông sanh vào cảnh giới ngạ quỷ. Lúc vợ ông cúng dường vật thực cho một vị tỳ khưu không giới đức để hồi hướng phước cho ông, ngạ quỷ này không thể nói lên lời “Sādhu” (lành thay – tỏ ý hoan hỷ) được. Tại sao? Thí chủ là một người không đạo đức, không có giới. Vì là vợ của một người thợ săn, bà ta thường phụ với chồng khi ông giết thú. Hơn nữa, vật cúng dường của bà lại có được một cách bất chánh do giết thú mà ra. Tâm bà không trong sạch vì nếu trong sạch và có hiểu biết hẳn bà đã không đi săn cùng với chồng. Bà không có đức tin nơi nghiệp và quả của nghiệp, vì nếu có bà đã không làm việc sát sanh. Trong khi đó người thọ nhận cũng là người không đạo đức, ác tánh nên sự cúng dường ấy không được thanh tịnh bởi cả thí chủ lẫn người thọ nhận. Bà ta cúng dường vật thực như vậy ba lần và cả ba lần đều không có kết quả. Vì thế mà ngạ quỷ (chồng bà) la lên: “Một kẻ vô đạo đức đã ba lần ăn cắp tài sản của tôi”. Sau đó, bà cúng dường vật thực đến một vị tỳ khưu giới đức, vị này đã làm cho sự cúng dường được thanh tịnh. Ngay lúc ấy, ngạ quỷ thốt lên lời “Sādhu” và thoát khỏi cảnh khổ.

(Ở đây, chúng tôi xin nhắc lại, nếu quý vị muốn có được những kết quả tốt đẹp từ việc cúng dường thì nên hoàn tất bốn điều kiện sau:

- Là người có giới đức.
- Vật cúng dường có được một cách chân chánh.
- Tâm trong sạch, không cấu nhiễm.
- Có đức tin đủ mạnh nơi nghiệp và quả của nghiệp.

Thêm nữa, nếu là người thọ nhận, tâm từ bi của quý vị đối với thí chủ phải đủ mạnh. Ngoài ra, quý vị còn phải là người có giới đức. Nếu giới của quý vị được kèm theo bởi thiền và các tuệ minh sát thì điều đó càng tốt hơn nữa. Vì sao? Loại cúng dường này có thể cho thí chủ những kết quả to lớn hơn.)

Bây giờ chúng ta sẽ xét đến loại cúng dường kế tiếp, loại cúng dường được thanh tịnh bởi thí chủ lẫn người thọ nhận. Khi thí chủ hoàn tất bốn điều kiện kể trên và người thọ nhận cũng phải là người giới đức thì theo lời đức Phật:

“Này Ānanda, ta nói loại cúng dường này sẽ đưa đến quả sung mãn.”

Có nghĩa là, cúng dường này có thể tạo ra những kết quả không thể tính lường được. Nếu giới của người thọ nhận được kèm theo bởi thiền hoặc minh sát trí, hoặc các Đạo – Quả trí thì hiệu lực của sự cúng dường ấy còn thù thắng nhiều hơn nữa.

Sáu Pháp Của Một Sự Cúng Dường Bất Khả Tính Lường

Ở đây, chúng ta sẽ đọc một bài Kinh khác – Chalangadāna Sutta - trong Tăng Chi bộ Kinh. Một lần, đức Phật ngụ tại Kỳ Viên tịnh xá (Jetavana) trong khu vườn của ông Cấp Cô Độc gần thành Xá-vệ. Lúc ấy mẹ của Nanda, một đệ tử tại gia của đức Phật sống ở Velukandaka, đã cúng dường thức ăn đến Tăng chúng. Buổi cúng dường của bà có đầy đủ sáu pháp và người thọ nhận là chư tỳ khưu Tăng do Tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đứng đầu. Đức Phật với thiên nhãn thấy được sự cúng dường này bèn nói với chư Tăng:

“Này chư tỳ khưu, nữ cư sĩ ở Velukandara đã sửa soạn một lễ cúng dường có đầy đủ sáu pháp đến chư Tăng do Xá Lợi Phất và Mục Kiền liên đứng đầu. Thế nào là sự cúng dường có đầy đủ sáu pháp?

Này chư tỳ khưu, thí chủ phải có đầy đủ ba pháp và người thọ nhận cũng phải có đầy đủ ba pháp.

Thế nào là ba pháp của thí chủ?

- Trước khi cúng dường thí chủ có tâm hoan hỷ.
- Trong khi cúng dường tâm của thí chủ thỏa mãn.
- Sau khi cúng dường thí chủ cũng hoan hỷ.

Đây là ba pháp của thí chủ.

Này chư tỳ khưu, thế nào là ba pháp của người thọ nhận?

- Người thọ nhận đã diệt tham hay đang cố gắng diệt tham.
- Người thọ nhận đã diệt sân hay đang cố gắng diệt sân.
- Người thọ nhận đã diệt si hay đang cố gắng diệt si.

Đây là ba pháp của người thọ nhận.

Tất cả có sáu pháp. Nếu sự cúng dường có đầy đủ sáu pháp này thì sẽ tạo ra những kết quả cao quý và bất khả tính lường”.

Sau đó đức Phật giải thích thêm:

“Này các tỳ khưu, thật không dễ gì hiểu thấu được hạn lượng công đức của một sự bố thí như thế này bằng cách nói: “sẽ đem lại nhiều chừng này công đức, chừng này là sự tốt đẹp, đã tích tạo nhiều thiện nghiệp cho đời sau, sẽ cho quả báo lạc dẫn đến cõi trời, dẫn đến hạnh phúc, được yêu mến.” Quả thực khối công đức lớn này, thiện nghiệp lớn này chỉ được liệt vào bất khả tính kể, bất khả tính lường.

Này chư tỳ khưu, ví như không dễ gì hiểu thấu được hạn lượng của nước trong đại dương để nói: “Có nhiều chừng này xô nước, nhiều trăm xô nước, nhiều ngàn xô nước”, vì khối nước lớn ấy được liệt vào bất khả tính kể, bất khả tính lường. Cũng vậy, này chư tỳ khưu, thật không dễ gì hiểu thấu được hạn lượng công đức của sự cúng dường có đầy đủ sáu pháp này. Quả thực vậy, khối công đức này được liệt vào bất khả tính kể, bất khả tính lường.”

Tại sao? Vì thí chủ này có đầy đủ bốn pháp mà trong Kinh Phân Biệt Cúng Dường đã đề cập:

- Là người có giới.
- Vật cúng dường có được một cách chân chánh.
- Tâm trong sạch, không cấu nhiễm.
- Có đức tin đủ mạnh nơi nghiệp và quả của nghiệp.

Và ba pháp của thí chủ, trong Kinh Sáu Pháp Cúng Dường đề cập cũng đã đầy đủ:

- Trước khi bố thí có tâm hoan hỷ.
- Trong khi bố thí tâm thỏa mãn.
- Sau khi bố thí tâm cũng hoan hỷ.

Dù nam hay nữ, những điều kiện này có mặt trong người cúng dường (thí chủ) là điều rất quan trọng. Nếu người nam hay nữ nào mong đợi những thiện quả không thể tính, không thể lường này, họ phải cố gắng hoàn thiện những điều kiện ấy. Dĩ nhiên, theo Kinh Phân Biệt Cúng Dường thì đó phải là một vị tỳ khưu hay tỳ khưu ni đã hành Chỉ-Quán đến A-la-hán Thánh quả, hoặc là người đang trau dồi Chỉ-Quán để tiêu diệt tham (lobha), sân (dosa) và si (moha).

Cúng Dường Trong Tháng Tịnh Cư

Hiện nay, trong ngôi chùa Yi – tung[6] này có nhiều vị tỳ khưu và tỳ khưu ni đang hành thiền chỉ và thiền quán để đoạn diệt tham, sân, si. Họ cũng là những người có giới đức. Vì thế, chúng ta có thể nói:

- Có những người thọ nhận xứng đáng ở đây.
- Thí chủ cũng là những người có giới đức.
- Tâm của họ có thể trong sạch, không cấu nhiễm.
- Những gì họ cúng dường có được một cách chân chánh.
- Họ có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, nghiệp và quả của nghiệp.

Và:

- Họ đã hoan hỷ trước khi cúng dường.
- Thỏa mãn trong khi cúng dường.
- Hoan hỷ sau khi cúng dường.

Như vậy, chúng ta có thể nói rằng sự cúng dường trong hai tháng này là hợp theo những ước nguyện của đức Phật. Đó là sự cúng dường cao quý.

Những Ước Nguyện Của Thí Chủ

Nếu những thí chủ mong đợi quả báo tốt lành trong ngày vị lai, chắc chắn thiện nghiệp này sẽ đáp ứng lòng mong muốn của họ. Vì sao? Trong Kinh Dānūpapatti, đức Phật có nói:

Ijjhati bhikkhave sīlavato cetopaidhi visuddhattā
(Này chư tỳ khưu, ước nguyện của một người có giới chắc chắn sẽ được thành tựu nhờ giới hạnh trong sạch.)

Như vậy, thiện nghiệp của một người có giới đức có thể làm cho ước nguyện của người ấy trở thành hiện thực.

- Nếu muốn trở thành một vị Phật, người ấy có thể trở thành một vị Phật.
- Nếu muốn trở thành một vị Độc Giác Phật, người có thể trở thành một vị Độc Giác Phật.
- Nếu muốn trở thành một vị Thượng Thủ Thanh Văn (Aggasāvaka), người ấy có thể trở thành một vị Thượng Thủ Thanh Văn.
- Nếu muốn trở thành một vị Đại Thanh Văn (Mahāsāvaka), người ấy có thể trở thành vị Đại Thanh Văn.
- Nếu muốn trở thành một vị Thanh Văn thường (Pakatisāvaka), người ấy có thể trở thành một vị Thanh Văn thường.

Nhưng điều này chỉ xảy ra khi các ba-la-mật của người ấy đã chín mùi. Ước nguyện thôi thì chưa đủ để đạt đến những loại giác ngộ ấy được.

Lại nữa:

- Nếu muốn hạnh phúc nhân loại trong kiếp sau, người ấy có thể đạt được hạnh phúc ấy trong cõi người.
- Nếu muốn đi đến cõi chư Thiên, người ấy có thể đi đến cõi chư Thiên.
- Nếu muốn đi đến cõi Phạm Thiên sau khi chết, thiện nghiệp này có thể là một trợ duyên cho người ấy đi đến cõi chư Thiên.

Bằng cách nào? Nếu sự cúng dường của người ấy hội đủ những điều kiện đã đề cập ở trước, nghĩa là, trước, trong và sau khi cúng dường, tâm vị ấy tràn đầy hoan hỷ, trong sạch, không cấu nhiễm, đồng thời xem vật cúng dường và người thọ nhận như những đối tượng. Ở đây, người thọ nhận trở thành đối tượng để hành thiền tâm từ. Tâm từ của người ấy đối với người thọ nhận rất mạnh. Nếu vào lúc đó vị ấy hành thiền tâm từ (mettā bhāvanā) thì thiền đó sẽ đưa vị ấy đến cõi Phạm Thiên sau khi chết. Như vậy, sự cúng dường này là một trợ duyên cho vị ấy đi đến cõi Phạm Thiên. Do đó, nếu người thí chủ muốn đi đến Phạm Thiên giới sau khi chết, họ phải hành thiền tâm từ cho đến khi đắc thiền (jhāna). Còn nếu họ đã hành và đắc thiền tâm từ, lại hoan hỷ cúng dường vật thực thì thiện nghiệp ấy sẽ là một trợ duyên thù thắng và mạnh mẽ cho họ đi đến cõi Phạm Thiên. Cho nên, muốn có được những thiện quả trong tương lai, quý vị nên hành thiền tâm từ. Trong số ba loại lạc: nhân lạc, Thiên lạc và Phạm Thiên lạc thì Phạm Thiên lạc là tối thượng. Không có lạc nào trong tam giới cao thượng hơn lạc của cõi Phạm Thiên. Đó là lạc thù thắng nhất trong 31 cõi.

Thù Thắng Nhất Trong Các Cúng Dường Thế Gian

Đó là loại cúng dường thứ hai đã được đề cập ở đầu bài giảng này – loại cúng dường không cho quả. Quý vị có thích loại cúng dường này không? Nếu thích, xin quý vị hãy lắng nghe bài kệ sau đây trong Kinh Phân Biệt Cúng Dường (Dakkhināvibhanga Sutta).

Yo vītarāgo vītarāgasu dadāti dāna
Dhammena laddha
supasannacitto
Abhisaddaha
kammaphala uhāra
Ta
ve dāna āmasadānānamagganti.

(Này chư tỳ khưu, ta nói rằng, một vị A-la-hán với tâm trong sạch, không cấu nhiễm, tin vào quả của nghiệp, cúng dường đến một vị A-la-hán vật (mà họ) có được một cách chân chánh thì sự cúng dường ấy thực sự là tối thắng nhất trong các loại cúng dường thế gian.)

Trong trường hợp này, chúng ta thấy có bốn pháp hiện diện nơi người thí chủ:

- Thí chủ là bậc A-la-hán.
- Vật cúng dường có được một cách chân chánh.
- Tâm thí chủ trong sạch, không cấu nhiễm.
- Có đức tin đầy đủ nơi nghiệp và quả của nghiệp.

Nhưng ở đây, pháp thứ năm cần thiết đó là:

- Người thọ nhận cũng là một bậc A-la-hán.

Đức Phật dạy loại cúng dường này, tức một vị A-la-hán cúng dường đến môt vị A-la-hán, là loại cúng dường thế gian cao thượng nhất. Vì sao? Vì sự cúng dường này không có quả. Nghĩa là sao? Thí chủ là người đã đoạn tận si mê và mọi tham ái đối với cuộc sống. Vô minh (avijjā) và tham ái (ta) là những nhân chính tạo nghiệp (kamma), tức các hành (sakhāra). Trong trường hợp này, các hành nghĩa là những hành động thiện như làm phước cúng dường. Tuy nhiên, nghiệp này không cho quả vì không có những nhân hỗ trợ, tức là không có vô minh và tham ái. Chúng ta biết, nếu rễ của một cái cây bị cắt đứt hoàn toàn thì cây ấy không thể trổ quả được nữa. Cũng vậy, sự cúng dường của một vị A-la-hán không thể tạo quả vì các nhân vô minh và tham ái đã bị diệt hoàn toàn. Vị ấy không mong chờ một kiếp sống tương lai. Trong Kinh Châu Báu (Ratana Sutta), đức Phật dạy:

Khīna purāna nava natthi sambhava
Virattacittā”yatike bhavasmi

Te khī
abījā avirūlhichandā
Nibbanti dhīrā yathāya
padīpo
Idampi sanghe ratana
panīta
Etena saccena suvatthi hotu.

(Nghiệp cũ đã tiêu mòn
Nghiệp mới không sanh khởi
Nhàm chán kiếp lai sinh
Chủng tử dục đoạn tận.
[7]
Bậc trí chứng Niết-bàn
Ví như ngọn đèn tắt.
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu.
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc.
( — Tỳ khưu Viên Minh dịch)

Nghĩa là các bậc A-la-hán đã cạn hết mọi thiện nghiệp và bất thiện nghiệp cũ. Các thiện nghiệp và bất thiện mới cũng không khởi lên nơi họ. Các Ngài đã đoạn diệt hết những hạt giống tái sanh, không mong chờ một kiếp sống tương lai. Danh-sắc của các Ngài sẽ chấm dứt, tựa như ngọn đèn khi dầu cạn và tim lụn vậy.

Do lời chân thật này, cầu mong tất cả chúng sinh được an vui và thoát khỏi mọi hiểm nguy.

Đây là một lời xác nhận sự thật. Do lời xác nhận sự thật này mà tất cả người dân ở Vesāli (Tỳ-xá-ly) được thoát khỏi mọi hiểm nguy[8].

Cúng dường của một vị A-la-hán là cúng dường cao thượng nhất vì nó không có kết quả trong tương lai. Nếu không có đời sống tương lai, sẽ không còn sanh, lão, bệnh và tử. Đây là loại cúng dường cao thượng nhất – cúng dường không cho quả hay không có kết quả.

Trong trường hợp của loại cúng dường thứ nhất – cúng dường có kết quả, như hạnh phúc trong nhân giới, trong Thiên giới hoặc trong Phạm Thiên giới, vẫn còn khổ. Ít nhất thì người bố thí vẫn phải chịu sự chi phối của sanh, già, bệnh, chết. Nếu thí chủ vẫn còn tham đắm các dục trần, dù hữu tình hay vô tình thì khi các đối tượng ấy hoại diệt hay mất đi, vị ấy cũng còn cảm giác sầu, bi, khổ, ưu và não như thường.

Quý vị thử suy xét về vấn đề này xem, chúng ta có thể nói rằng, một sự cúng dường là cao thượng khi nó tạo ra sanh, lão, bệnh, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não hay không? Và cũng suy xét thêm, chúng ta có thể nói rằng, một sự cúng dường là cao thượng khi nó không cho quả – không còn sanh, lão, bệnh, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não không? Đây là lý do vì sao đức Phật tán dương loại cúng dường thứ hai là cao thượng nhất. Đến đây chắc quý vị đã hiểu ý nghĩa của bài Pháp này. Lúc bắt đầu bài Pháp, chúng ta đã đề cập có hai loại cúng dường. Đó là, cúng dường cho quả sung mãn và cúng dường không cho quả. Quý vị thích loại cúng dường nào? Bây giờ chắc quý vị đã có được câu trả lời.

Quý Vị Thực Hiện Việc Cúng Dường Cao Thượng Nhất Như Thế Nào?

Nếu thí chủ không phải là bậc A-la-hán, làm sao có thể thực hiện được loại cúng dường thứ hai? Trong Kinh Sáu Pháp Cúng Dường (Chaangadāna sutta) đã nói ở trước, đức Phật dạy rằng có hai cách người ấy có thể làm, đó là, khi người thọ nhận hoặc đã đoạn trừ tham, sân, si; hoặc đang cố gắng đoạn trừ tham, sân, si. Chúng ta có thể nói rằng cúng dường ấy là cao thượng nhất, nếu thí chủ cũng là người đang cố gắng đoạn trừ tham, sân, si, tức là vào lúc cúng dường, vị ấy thực hành Vipassanā.[9]

- Phân biệt danh-sắc của chính mình và tính chất vô thường, khổ và vô ngã của danh-sắc ấy.
- Phân biệt tính chất vô thường, khổ và vô ngã của danh-sắc bên ngoài, đặc biệt danh-sắc của người thọ nhận.
- Phân biệt tính chất vô thường, khổ và vô ngã của sắc chân đế trong các vật cúng dường.
- Phân biệt tính chất vô thường, khổ và vô ngã của danh pháp thiện khởi lên nơi tự thân trong lúc cúng dường.

Khi hành giả nhìn vào tứ đại trong những vật cúng dường, hành giả rất dễ thấy các tổng hợp sắc. Khi phân tích các tổng hợp sắc, hành giả phân biệt được tám sắc chất: đất, nước, lửa, gió, màu, mùi, vị và dưỡng chất. Các tổng hợp sắc là những thế hệ sắc do thời tiết sanh (utujarūpa), được tạo ra bởi hỏa đại trong mỗi tổng hợp sắc. Kế tiếp, hành giả phân biệt tính chất vô thường, khổ và vô ngã của chúng. Nếu có thể thực hiện được loại minh sát này trong lúc cúng dường thì tham, sân, si của thí chủ bị đè nén ngay lúc đó và sự cúng dường ấy cũng thường không cho quả. Theo cách đó, chúng ta cũng có thể nói rằng loại cúng dường này là cao thượng nhất.

Thí chủ có thể thực hiện loại minh sát này trước, sau hoặc trong lúc đang cúng dường. Nhưng minh sát của họ phải thật kiên trì và mạnh mẽ. Ít nhất, họ cũng phải hành (minh sát) cho đến giai đoạn Tuệ (quán) Sự Hoại Diệt (Bhanga ñāa). Chỉ khi ấy hành giả mới có thể hành loại minh sát đó. Như vậy, chúng ta cũng không nên bỏ lỡ cơ hội này. Cơ hội này chỉ có trong thời kỳ giáo pháp của đức Phật. Ở đây, quý vị có thể hỏi, làm thế nào chúng tôi có thể thực hiện loại cúng dường này nếu chúng tôi không có minh sát trí? Trong trường hợp như vậy, tôi đề nghị quý vị nên thực hiện việc cúng dường của mình với ý nghĩ: “Cầu mong cúng dường này sẽ là một trợ duyên đạt đến Niết-bàn”. Bởi vì đức Phật đã nhiều lần dạy là nên thực hiện việc cúng dường với ước mong chứng đắc Niết-bàn như vậy.

Để kết thúc bài Pháp, chúng tôi xin nhắc lại bài kệ từ Kinh Châu Báu (Ratana Sutta).

Khīna purāna nava natthi sambhava
Virattacittā”yatike bhavasmi

Te khī
abījā avirūlhichandā
Nibbanti dhīrā yathāya
padīpo
Idampi sanghe ratana
panīta
Etena saccena suvatthi hotu.

(Nghiệp cũ đã tiêu mòn
Nghiệp mới không sanh khởi
Nhàm chán kiếp lai sinh
Chủng tử dục đoạn tận.
[10]
Bậc trí chứng Niết-bàn
Ví như ngọn đèn tắt.
Như vậy chính Tăng Bảo
Là châu báu thù diệu.
Mong với sự thật này,
Được sống chơn hạnh phúc.)
( — Tỳ khưu Viên Minh dịch)

Cầu mong tất cả chúng sinh được an vui và hạnh phúc.

-ooOoo-

[1] Một bài pháp được thuyết sau khi thí chủ cúng dường, như trong trường hợp này, gọi theo iAnumodana pháp. “Anu” có nghĩa nhắc đi nhắc lại nhiều lần, “modana” nghĩa là hoan hỷ. Như vậy một bài giảng Anumodana là một Tùy Hỷ Pháp nhằm nâng cao tâm của những thí chủ, làm tăng thêm thiện nghiệp và phước báu cho việc làm của họ và khắc ghi điều đó trong tâm trí họ.

[2] MIII.iv.12

[3] Dh.A.I.i.I “Cakkhupalatthera” (Câu chuyện Trưởng lão Cakkhupala).

[4] Với tâm không mong đợi, tham đắm, sân hận,…

[5] MA.III.iv.12 “Dakkhiāvibhanga Sutta“.

[6] Yi-tung là ngôi chùa ở Đài Loan, nơi thiền sư Pa-Auk Sadadaw được mời đến dạy thiền cho Tăng ni và Phật tử ở đây.

[7] Hạt giống tái sanh (chủng tử) ở đây là vô minh, tham ái và nghiệp lực.

[8] Vesāli là một thành phố lúc này đang bị nạn đói, hạn hán, dạ xoa ác và những bệnh dịch nguy hiểm. Người dân ở đây đã thỉnh cầu đức Phật giúp họ và Ngài đã dạy cho họ bài Kinh Ratana này.

[9] Paṭṭhāna (Duyên Hệ) – Bộ thứ năm của Tạng Diệu Pháp, phần Kusalattika (các nhóm Ba Thiện Pháp).

[10] Hạt giống tái sanh (chủng tử) ở đây là vô minh, tham ái và nghiệp lực.

-ooOoo-


BIẾT và THẤY – phần I

Thiền sư Pa Auk Tawya Sayadaw

Biết và Thấy
Knowing and Seeing

Thiền sư Pa-Auk Tawya Sayadaw (U Acinna)
Tỳ khưu Pháp Thông dịch

.

Biên tập từ các bài pháp thoại trong khóa thiền hai tháng tại
Tu viện Yi-Tung, Thành phố Sing-Choo, Đài Loan

“Bhikkhus, I say that the destruction of the taints is for one who knows and sees, not for one who does not know and see.”

(Này các Tỳ khưu, Ta nói có sự đoạn trừ các lậu hoặc cho người biết và thấy, chứ không cho người không biết, không thấy.)

MỤC LỤC

Giới thiệu

Bài pháp thoại 1: Làm thế nào để tu tập niệm hơi thở đạt đến An chỉ định
Bài pháp thoại 2: Hành giả tu tâp an chỉ định trên các đề mục Thiền khác như thế nào
Bài pháp thoại 3: Tu tập bốn Phạm Trú và bốn Thiền Bảo Hộ
Bài pháp thoại 4: Làm thế nào để phân biệt Sắc
Bài pháp thoại 5: Phân biệt Danh
Bài pháp thoại 6: Làm thế nào để thấy những mắc xích của Duyên Khởi
Bài pháp thoại 7: Tu tập các Tuệ Minh Sát như thế nào để thấy Niết-bàn
Bài pháp thoại 8: Những ước nguyện của Đức Phật cho các hàng đệ tử và giáo pháp của Ngài
Bài pháp thoại 9: Loại cúng dường cao thượng nhất

-ooOoo-

GIỚI THIỆU

Giáo pháp của Đức Phật

Một lần nọ, đức Thế Tôn đang trú giữa những người dân xứ Vajji (Bạt-Kỳ), tại Kotigāma. Ở đó, đức Thế Tôn nói với các vị Tỳ khưu như sau[1]:

Này các Tỳ khưu chính do không liễu ngộ (ananubodhā), không thể nhập (appativedhā) bốn Thánh Đế mà các người và Ta đã lang thang, lưu chuyển lâu đời trong vòng luân hồi này.

Thế nào là bốn?

1. Này các Tỳ khưu, do không liễu ngộ, không thể nhập Thánh Đế về Khổ (Dukkhassa Ariyasaccassa) mà các người và Ta phải lưu chuyển lâu đời trong luân hồi.

2. Này các Tỳ khưu, do không liễu ngộ, không thể nhập Thánh Đế về Nguồn gốc của Khổ (Dukkhasamudayassa ariyasaccassa) mà các người và Ta phải lưu chuyển lâu đời trong luân hồi.

3. Này các Tỳ khưu, do không liễu ngộ, không thể nhập Thánh Đế về sự Diệt Khổ (Dukkanirodhassa ariyasaccassa) mà các người và Ta phải lưu chuyển lâu đời trong luân hồi.

4. Này các Tỳ khưu, do không liễu ngộ, không thể nhập Thánh Đế về Con đường đưa đến sự Diệt khổ mà các người và ta phải lưu chuyển lâu đời trong luân hồi.

Như vậy Bốn Thánh Đế là những nền tảng cho Lời dạy của đức Phật, cho Giáo pháp của Ngài. Rồi Ngài giải thích:

1.- Này các Tỳ khưu, Thánh Đế về Khổ đã được liễu ngộ, đã được thể nhập.
2.- Này các Tỳ khưu, Thánh Đế về Nguồn gốc của khổ đã đựơc liễu ngộ, đã được thể nhập.
3.- Này các Tỳ khưu, Thánh Đế về sự Diệt Khổ đã được liễu ngộ, đã đựơc thể nhập.
4.- Này các Tỳ khưu, Thánh Đế về Con đường đưa đến sự Diệt Khổ đã được liễu ngộ, đã đựơc thể nhập.

Khát ái đối với hiện hữu (hữu ái) đã được cắt đứt; khuynh hướng thiên về hiện hữu (Bhava – netti) đã được đoạn tận; nay không còn tái sanh nữa.

Cái gì cần phải được chứng đắc?

Đức Phật dạy Bốn Thánh Đế này cho chúng ta để đắc chứng Niết-bàn, Thánh Đế Thứ Ba, chấm dứt hoàn toàn tái sanh và do đó cũng chấm dứt luôn Khổ. Nhưng điều đó sẽ không thể xảy ra nếu không có những điều kiện chính đáng. Trong “āgāra Sutta” (Ngôi nhà có nóc nhọn), trước tiên đức Phật giải thích những điều kiện cần thiết để làm cho việc đoạn tận khổ có thể xảy ra[2]:

Thực vậy, này các Tỳ khưu, nếu ai nói như sau: “Không xây dựng phần dưới của ngôi nhà nóc nhọn, Ta sẽ dựng lên một mái che”; sự việc này không thể xảy ra.

Cũng vậy, nếu ai nói:

1. “Không liễu ngộ như thực Thánh Đế về Khổ (dukkham” ariyasaccam” yathābhūtam” anabhisamecca);
2. “Không liễu ngộ như thực Thánh Đế về Nguồn gốc của Khổ;
3. “Không liễu ngộ như thực Thánh Đế về sự Diệt Khổ;
4. “Không liễu ngộ như thực Thánh Đế về Con đường đưa đến sự Diệt Khổ;

Ta sẽ làm cho chấm dứt hoàn toàn Khổ, sự việc này không thể xảy ra.”

Điều này có nghĩa là chúng ta không thể nào đoạn tận khổ (tức chúng ta không thể nào đạt đến Niết-bàn, Thánh Đế Thứ Ba) nếu trước đó chúng ta không liễu ngộ Thánh Đế Thứ Nhất (Khổ: Dukkha), và Thánh Đế Thứ Hai (Nguồn gốc của Khổ: Samudaya). Chỉ khi liễu ngộ hai Đế này rồi chúng ta mới có thể liễu ngộ Thánh Đế Thứ Tư thuộc Siêu thế, hay Bát Thánh Đạo Siêu thế.

Con đường duy nhất để đạt đến những sự liễu ngộ này trên hết vẫn phải là thực hành Thánh Đế Thứ Tư hay Đạo Đế Hiệp thế (Lokiya maggasacca), còn gọi là Bát Thánh đạo Hiệp thế hay Tam Học:

- Giới học (Sīla)
- Định học (Samādhi)
- Tuệ học (Paññā)[3]

Đối với các vị Tỳ khưu, giới là chế ngự theo giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa (Pātimokkha), còn đối với hàng cư sĩ thì đó là bát giới hay ngũ giới. Khi chúng ta đã an trú trong giới, chúng ta có thể tu tập cận định (upacāra samādhi) và an chỉ định (jhāna), từ nền tảng đó chúng ta sẽ tiến hành phát triển tuệ giác, tức là Thiền Minh Sát (Vipassanā). Thiền Minh Sát không nhằm vào một mục đích gì khác ngoài chứng ngộ bản chất vô thường, khổ và vô ngã của Khổ Thánh Đế và Tập Thánh Đế. Chỉ khi chúng ta hành Vipassanā (Minh Sát) một cách triệt để và chứng ngộ được hai Thánh Đế này, chúng ta mới có thể chứng ngộ Thánh Đế Thứ Tư thuộc Siêu thế, tức Bát Thánh Đạo kết hợp với Đạo Đế Siêu thế (Lokuttara Maggasacca) gồm: Nhập lưu Thánh đạo (Sotāpatti), Nhất lai Thánh đạo (Sakadāgāmi), Bất lai Thánh đạo (Anāgāmi), và A-la-hán thánh đạo.

Tóm lại, mục đích của Thánh Đế Thứ Tư (Bát Thánh Đạo) là để chứng ngộ Niết-bàn. Thánh Đế Thứ Ba, vốn chỉ được thành tựu bằng việc liễu ngộ Thánh Đế Thứ Nhất và Thứ Hai (Khổ Đế và Tập Đế).

Thánh Đế Thứ Nhất và Thứ Hai

Nhưng, thế nào là Thánh Đế Thứ Nhất, hay thế nào là Khổ Thánh Đế? Trong “Kinh Chuyển Pháp Luân” (Dhammacakkappavattana Suttam), đức Phật giải thích[4]:

Này các Tỳ khưu, đây là Thánh Đế về Khổ: Sanh là khổ; Già là khổ; Bệnh là khổ; Chết là khổ; gần vật không ưa là khổ; xa vật đáng mến là khổ; không được điều mình muốn là khổ; tóm lại năm thủ uẩn (pañcupādānakkhandhā) là khổ.

Khi đức Phật dạy về Khổ thánh Đế; Ngài nói đến năm uẩn; Ngài muốn cho chúng ta biết và thấy năm uẩn. Thế giới loài người của chúng ta là sự hiện hữu của năm uẩn[5] (pañca vokāra bhava) và trừ phi chúng ta biết và thấy được năm uẩn này, bằng không chúng ta không thể hiểu rõ lời dạy của đức Phật. Điều này đựơc đức Phật giải thích trong “Puppha Sutta” (Kinh Hoa: Flower Sutta)[6] như sau:

“Và, thế nào là thực tại tối hậu của thế gian (Loke lokadhammo: thế gian của các hành)[7] mà Như Lai đã chứng ngộ với toàn diện trí?

1. Sắc (rūpa)
2. Thọ (vedanā)
3. Tưởng (saññā)
4. Hành (sakhārā)
5. Thức (viññāa)

Đây thực tại tối hậu của thế gian (the ultimate reality of the world) mà Như Lai đã chứng ngộ với toàn diện trí.

Sau khi chứng ngộ, Như Lai giải thích, giảng dạy, tuyên thuyết, chứng minh, khai mở, làm sáng tỏ thực tại tối hậu ấy.

Khi những thực tại ấy đã được Như Lai giải thích, giảng dạy, tuyên thuyết, chứng minh, khai mở, làm cho sáng tỏ như vậy, nếu có ai vẫn không biết và không thấy, thời Như Lai còn có thể làm được điều gì với con người ngu si, phàm phu, mù lòa, không thấy đường, không biết và không thấy ấy?”

Những thực tại của thế gian mà đức Phật giải thích ở đây chính là năm uẩn, tức Thánh Đế về Khổ và Thánh Đế về Nguồn gốc của Khổ. Trong kinh Đại Niệm Xứ (Mahā Satipaṭṭhāna) Ngài giải thích:

“Tóm lại, này các Tỳ khưu, năm thủ uẩn (Pañcupādanakkhandhā) là khổ như thế nào?

1. Sắc thủ uẩn (rūpapādānakkhandho);
2. Thọ thủ uẩn (vedanpādānakkhandho);
3. Tưởng thủ uẩn (sañnupādānakkhandho);
4. Hành thủ uẩn (sakhārupādānakkhandho);
5. Thức thủ uẩn (viññāupādānakhhhandho).

Chẳng hạn, trong “Khandha Sutta” (Uẩn Kinh)[8] đức Phật giải thích và phân tích năm thủ uẩn thêm nữa thành ra mười một loại:

“Và, thế nào này các Tỳ khưu, là năm thủ uẩn? Bất cứ sắc nào, hoặc

[1-3] quá khứ, vị lai hay hiện tại (atītā nāgata paccuppanna);
[4-5] bên trong hay bên ngoài (ajjhatta vā bahiddhāvā);
[6-7] thô hay tế (oārika vā sukkuma);
[8-9] cao thương hay hạ liệt (lāna vā paīta);
[10-11] xa hay gần (yam” dūre santike vā); có lậu hoặc, đựơc chấp thủ, thì được gọi là sắc thủ uẩn.

Bất cứ loại thọ nào… tưởng… hành… thức nào dù quá khứ, vị lai, hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, xa hay gần, cao thượng hay hạ liệt, có lậu hoặc (sāsava), được chấp thủ (upādāniya), đây gọi là thức thủ uẩn.

Này các Tỳ khưu, như vậy được gọi là năm thủ uẩn.

Năm thủ uẩn này là Thánh Đế về Khổ và như đức Phật giải thích, mỗi uẩn gồm mười một loại. Như thế có nghĩa rằng muốn biết và thấy năm uẩn thì phải biết và thấy được mười một loại của mỗi uẩn này.

Uẩn đầu tiên của năm thủ uẩn cũng còn gọi là Sắc (rūpa), và bốn thủ uẩn còn lại (Thọ, Tưởng, Hành và Thức) gọi chung là Danh (nāma). Như vậy năm thủ uẩn cũng còn gọi là Danh-Sắc (nāma-rūpa)[9].

Muốn biết và thấy danh-sắc như chúng thực sự là, ta cũng cần phải biết và thấy chúng có quan hệ với nhau như thế nào, nghĩa là chúng ta cần phải biết và thấy rằng trong thế gian của năm uẩn (pañcavokārabhava), danh dựa vào sắc. Thế gian của năm uẩn này đã được đức Phật giải thích trong “Loka sutta” (Kinh thế gian). Trong bài kinh, đức Phật giải thích Danh-Sắc dưới dạng mười tám giới (dhātu): sáu căn, sáu trần và sáu loại thức. Ngài nói: Và, này các Tỳ khưu, thế nào là nguồn gốc hay tập khởi của thế gian?

Do duyên mắt và các sắc, nhãn thức khởi sanh (cakkhuñca paicca rūpe ca uppajjati cakkhu viññāna).
Với sự tụ họp của ba: mắt, sắc, nhãn thức có xúc (phasso).
Do duyên xúc, có thọ (vedanā);
Do duyên thọ, có ái (tahā);
Do duyên ái, có thủ (upaadāna);
Do duyên thủ, có hữu (bhava);
Do duyên hữu, có sanh (jāti);
Do duyên sanh, có già chết (jarā, marana);
Sầu, bi (soke, parideva);
Khổ, ưu, não (dukkha, domanassa, upāyāsa) có mặṭ
Do duyên tai và các tiếng, nhĩ thứ khởi sanh …
Do duyên mũi và các mùi, tỷ thức khởi sanh …
Do duyên lưỡi va các vị, thiệt thức khởi sanh …
Do duyên thân và các xúc, thân thức khởi sanh… (kāyañca paicca phoṭṭhabbe ca uppajjati kāya viññāna)
Do duyên ý và các pháp[10], ý thức khởi sanh (manañca paicca dhamme ca uppjjati mano viññāna)

Muốn biết danh và sắc chúng ta cần biết và thấy như sau:

1. Các căn môn
2. Các đối tượng đập vào các căn môn
3. Các thức (tâm cùng với các tâm sở) khởi lên do sự tiếp chạm ấy .

Như đã được đức Phật giải thích là có sáu căn môn.

1. Nhãn môn – (cakkhu dvāra)
2. Nhĩ môn – (sota dvāra)
3. Tỷ môn – (ghāna dvāra)
4. Thiệt môn – (jivhā dvāra)
5. Thân môn – (kāya dvāra)
6. Ý môn (bhavaga) – (mano dvāra)

Năm môn đầu là Sắc (rūpa), và do đó cũng giống như năm trú căn (vatthu = vật hay sở y), riêng môn thứ sáu, ý môn hữu phần (bhavaga) là danh (nāma). Ý nương vào loại sắc đươc gọi là sắc ý vật hay tâm cơ (hadaya-vatthu).

Năm môn đầu chỉ bắt lấy những đối tượng thuộc về sắc tương ứng của chúng, trong khi đó ý môn thuộc về danh bắt cả năm đối tượng ấy và những đối tượng riêng của nó. Điều này được đức Phật giải thích trong “Uṇṇābhabrahmaa sutta“, mặc dù từ ngữ Ngài sử dụng ở đây là căn (indriya)[11].

Này Bà-la-môn, năm căn này mỗi căn có một cảnh giới khác nhau (visaya), một lãnh vực khác nhau (gocara), và không kinh nghiệm cảnh giới và lãnh vực của nhau.

Thế nào là năm?

1. Nhãn căn (cakkhundriya); 2. Nhĩ căn (sotindriya); 3. Tỷ căn (ghānindriya); Thiệt căn (hivhindriya); 5. Thân căn (kāyindriya)

Này Bà-la-môn, năm căn này có những cảnh giới khác nhau, những lãnh vực khác nhau, không kinh nghiệm cảnh giới và lãnh vực của nhau, có ý (mano), là chỗ y tựa (paisaraa), và ý nhận thức các lãnh vực và cảnh giới của chúng.

Khi các đối tượng thuộc vật chất đập vào căn môn của chúng, thì đồng thời chúng cũng đập vào Ý môn[12]; các đối tượng khác (không thuộc vật chất) chỉ đập vào ý môn mà thôi. Các đối tượng nào chỉ đập vào Ý môn cũng được kể là những đối tượng không phải Danh-Sắc, do đó không phải thế gian. Như vậy, chúng ta có sáu loại đối tượng (cảnh):

1. Các cảnh sắc (rūpārammaa)
2. Các cảnh thinh (saddārammaa)
3. Các cảnh hương (gandhārammaa)
4. Các cảnh vị (rasārammmaa)
5. Các cảnh xúc (phoṭṭhabbārammaa)
6. Các cảnh pháp (dhammārammaa)

Cảnh pháp là tất cả những đối tượng hay cảnh ngoài năm loại cảnh thuộc vật chất đã nói trước, nói chung đó là tất cả những cảnh khác trong thế gian. Gồm sáu loại:

1. Năm loại tịnh sắc thô (pasāda rūpa) tức năm căn môn
2. 16 loại sắc tế (sukhuma rūpa)
3. 6 loại thức giới (viññāna dhātu)
4. 52 tâm sở (cetasika)
5. Niết-bàn giới, vô vi giới (asakhata dhātu)
6. Các khái niệm hay chế định (paññatti)

(Đó là khái niệm về hơi thở, đối tượng Kasia, và tên gọi các thực tại tuyệt đối (pháp chân đế), không có những tên gọi này chúng ta không thể truyền đạt được.)

Như đức Phật đã giải thích, khi một trong sáu căn môn tương giao với đối tượng thích hợp của nó, thức sẽ khởi lên. Như vậy chúng ta có sáu loại thức:

1. Nhãn thức (cakkhu-viññāa)
2. Nhĩ thức (sota-viññāa)
3. Tỷ thức (ghāna-viññāa)
4. Thiệt thức (jivhā-viññāa)
5. Thân thức (kāya-viññāa)
6. Ý thức (mano-viññāa)

Trong bài kinh trên, đức Phật cũng giải thích cho vị Bà-la-môn Uṇṇābha biết rằng, khi một đối tượng đập vào một trong năm căn môn, nó cũng đập vào ý môn. Khi hành giả phát triển được định tâm mạnh mẽ, hành giả sẽ thấy rằng đối tượng được phản chiếu trong Ý môn như trong một tấm gương.

Lúc đó hành giả cũng sẽ thấy ra rằng thức khởi lên nơi một trong những căn môn (vật chất) này rất yếu. Chúng chỉ “đón lấy” đối tượng (abhinipātamattā = pick up). Việc biết đối tượng thực sự được thực hiện bởi một chuỗi các ý thức tâm (mano-viññāa) khởi lên sau đó[13].

Tỷ dụ như, khi một đối tượng vật chất như mầu sắc đập vào nhãn môn, và đồng thời cũng đập vào Ý môn (abhavaga = hữu phần), thì một tâm Ý thức (mano-viññāa) khởi lên theo sau bởi một nhãn thức tâm, nhãn thức này không “biết” đối tượng; tức là chúng không biết rằng đó là màu sắc. Đối tượng chỉ được biết bằng Ý thức tâm khởi lên sau đó mà thôi.

Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng để biết danh-sắc chúng ta cần phải biết mỗi loại danh, mỗi loại sắc, và cách chúng tác động với nhau ra sao. Tức là chúng ta cần phải biết:

1. Sắc của căn môn.
2. Sắc của đối tượng.
3. Danh khởi lên nơi môn vật chất (ngũ môn) và nơi ý môn. Nói chung, chúng ta cần phải biết và thấy nhãn môn, đối tượng của nhãn môn (mầu sắc), ý thức và nhãn thức khởi lên khi mầu sắc đập vào nhãn môn. Chúng ta cũng cần phải biết và thấy rằng không có sắc (vật chất) của nhãn môn, thì không có nhãn thức khởi lên, không có sắc của ý căn (sắc trái tim) thì cũng không có ý thực khởi lên, và không có sắc của đối tượng (màu sắc), thì nhãn thức hay ý thức cũng không khởi lên. Đối với tai, mũi, lưỡi và thân, chúng ta cũng biết và thấy như vậy. Chúng ta cũng cần phải biết và thấy rằng có những đối tượng chỉ do ý thức biết mà thôi, ý thức này khởi lên nương theo sắc ý vật (tâm cơ).

Tuy nhiên những thực tại này không chỉ để biết theo khái niệm (chế định), vì cái biết ấy chỉ là biết và thấy sự vật như chúng có vẻ là, mà điều này có nghĩa chúng ta vẫn là hạng phàm phu ngu si, mù lòa không mắt, hạng người không biết và thấy, như đức Phật gọi thôi.

Muốn biết và thấy các pháp như chúng thực sự là chúng ta cần thể nhập vào thực tại cùng tột (hay chân đế – paramattha sacca); nghĩa là chúng ta cần phải biết và thấy danh-sắc chân đế (paramattha nāma rūpa).

Biết và thấy Đế Thứ Nhất

Chúng ta cần biết và thấy mỗi và mọi loại danh cũng như cần phải thấy rằng ở năm căn khởi lên một trong hai loại thức, còn gọi ngũ song thức (dve pañca viññāa):

1. Thức quả thiện (kusala vipāka viññāa)
2. Thức quả bất thiện (akusala vipāka viññāa)

Như vậy tổng cộng có mười loại thức. Và trong Ý căn (heart base) khởi lên tất cả các loại thức hay tâm khác:

- 12 loại tâm bất thiện (akusala citta)
- 8 loại tâm vô nhân (ahetuka citta) (cùng loại như mười loại “tâm ngũ song thức”)
- 24 tâm tịnh hảo dục giới (kāma sobhana citta)
- 15 loại tâm sắc giới (rūpāvacara citta)
- 12 loại tâm vô sắc giới (arūpāvacara citta)
- 8 loại tâm siêu thế (lokuttarā citta)

Tổng cộng có 89 loại tâm. Và bất luận khi nào ta khởi lên một trong những loại tâm này, thì một số các tâm sở tương ưng cũng khởi lên, trong số cả thảy năm mươi hai tâm sơ[14].

Để biết và thấy được khổ thánh Đế đúng như thực, chúng ta cần phải biết trực tiếp và thấy trực tiếp tất cả các loại tâm và tâm sở tương ưng với nó như vậy. Nhưng, như đức Phật đã giải thích, trong thế gian năm uẩn của chúng ta này, danh khởi lên nương vào sắc, do đó một tâm (thức) khởi lên được là nhờ nương vào căn tương ứng của nó. Điều đó có nghĩa là chúng ta cũng cần trực nhận và trực tri luôn cả sắc.

Muốn biết và thấy sắc như nó thực sự là chúng ta cần phải biết và thấy sắc này bao gồm những phần tử cực nhỏ mà trong Pàli ngữ gọi là rūpa-kalapas[15] (các tổng hợp hay nhóm sắc) như thế nào. Chúng sanh và diệt rất nhanh, nhưng đó chỉ là “danh chơn chế định” (vijjāmānapaññatti), chứ không phải sắc chân đế (paramattha rūpa). Muốn biết và thấy sắc như thực, chúng ta cần phải thể nhập hay chọc thủng khái niệm về các tổng hợp sắc (rūpa-kalapas) (tức chọc thủng sự mê lầm, ảo tưởng về nguyên khối) và thấy ra các pháp chân đế – paramattha sacca – thực sự chỉ là các yếu tố riêng biệt bao hàm các loại tổng hợp sắc cá biệt mà thôi.

Trong “Mahāgopālaka sutta” (Đại kinh Người Chăn Bò – MNI.33) đức Phật giải thích tri kiến hiểu biết về sắc là điều rất cần cho một vị Tỳ khưu để vững tiến trong Pháp và Luật (Dhamma-Vinaya).

Vị tỳ khưu cần có tri kiến về sắc như thế nào (rūpaññūhoti)?

Ở đây vị Tỳ khưu như thật rõ biết:

“Tất cả sắc thuộc bất cứ loại nào gồm tứ đại và sắc do tứ đại tạo thành (cattāri mahābhūtāni, catunnañca mahābhūtāna upādāyarūpan’ti)”

Đó là cách vị Tỳ khưu có tri kiến về sắc. Và ngài nói rằng nếu không có tri kiến này thì vị Tỳ khưu ấy “Không có khả năng tăng trưởng, lớn mạnh trong Pháp và Luật này.”

Điều này hàm ý là chúng ta cần phải biết và thấy tất cả 28 loại sắc: sắc chính (bhūta), gồm:

- Bốn đại chủng (mahābhūta): đất, nước, lửa, gió (pathavī, āpo, tejo, vāyo-dhātu);

và hai mươi bốn loại sắc phụ thuộc (upādārūpa), như:

- Năm loại sắc thần kinh hay tịnh sắc căn (pasāda rūpa) (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt và thân tịnh sắc – cakkhu-, sota-, ghanā-, jivhā-, kāya-pasāda), là thành phần của năm căn vật lý.

- Bốn loại sắc cảnh giới (gocara rūpa) – màu sắc, âm thanh, mùi và vị (vaṇṇa, saddha, gandha, rasa).

- Dưỡng chất (thực tố – ojā)

- Mạng căn (jīvitindriya)

- Sắc trái tim (ý vật – hadaya rūpa)

(căn cứ vật lý cho ý thức – mano viññāa – và các tâm sở phối hợp của chúng)[16].

Hành giả làm cách nào để thấy và biết Thánh Đế Thứ Nhất và Thứ Hai?

Hành giả phải tu tập định

Để có thể thấy các yếu tố riêng biệt của các tổng hợp sắc đặc thù nào đó tức là phải thấy được sắc chân đế, điều này đòi hỏi phải có năng lực định tâm vững mạnh. Chỉ có định mạnh mới có thể biết và thấy các pháp như chúng thực sự là. Vấn đề này đã được đức Phật giải thích trong “Samādhi sutta” (Định kinh)[17]

“Này các Tỳ khưu, hãy tu tập định. Sau khi đã đắc định, vị Tỳ khưu sẽ tuệ tri các pháp (dhamma) như chúng thực sự là (yathābhūta pajānāti)

Và vị ấy tuệ tri như thực những gì?

(1) Vị ấy tuệ tri như thực: “Đây là Khổ”.
(2) Vị ấy tuệ tri như thực: “Đây là Nguồn gốc của Khổ”.
(3) Vị ấy tuệ tri như thực: “Đây là Sự Diệt Khổ”.
(4) Vị ấy tuệ tri như thực; “Đây là Con đường đưa đến Sự Diệt khổ”.

Như vậy, này các Tỳ khưu, hãy tu tập định. Sau khi đắc định, vị Tỳ khưu sẽ tuệ tri các pháp như chúng thực sự là.”

Đó là lý do vì sao, tại Thiền viện Pa-Auk, trước tiên chúng tôi dạy hành giả tu tập định có năng lực thật mạnh thuộc các bậc thiền (jhānas), tức an chỉ định (appanā samādhi) dùng niệm hơi thở ānāpānasati) và mười kasia chẳng hạn, hoặc cũng có thể dùng thiền tứ đại (catu-dhātuvavatthāna)[18] để đắc cận định (upacāra samādhi)[19].

Phát triển ánh sáng trí tuệ

Định tâm mạnh mẽ sẽ tạo ra ánh sáng mạnh mẽ, và chính nhờ ánh sáng ấy mà hành giả có thể đi sâu hay thể nhập vào chân đế (paramattha sacca). Điều này đã được đức Phật giải thích trong Tăng Chi Kinh, chương nói về Hào quang (ābhāvagga).

- Này các Tỳ khưu, có bốn lại hào quang. Thế nào là bốn? Hào quang của mặt trăng, hào quang của mặt trời, hào quang của lửa và hào quang của trí tuệ (paññābhā).

- Này các Tỳ khưu, có bốn lại ánh sáng rực rỡ. Thế nào là bốn? Ánh sáng rực rỡ của mặt trăng, ánh sáng rực rỡ của mặt trời, ánh sáng rực rỡ của lửa, ánh sáng rực rỡ của trí tuệ (paññā pabhā).

- Này các Tỳ khưu, có bốn loại ánh sáng. Thế nào là bốn? Ánh sáng của mặt trăng, ánh sáng của mặt trời, ánh sáng của lửa, ánh sáng của trí tuệ (paññā-āloko).

- Này các Tỳ khưu, có bốn loại sáng chói. Thế nào là bốn? Sự sáng chói của mặt trời, sự sáng chói của mặt trăng, sự sáng chói của lửa, sự sáng chói của trí tuệ (paññā-obhāso).

- Này các Tỳ khưu, có bốn loại rực rỡ. Thế nào là bốn? Sự rực rỡ của mặt trăng, sự rực rỡ của mặt trời, sự rực rỡ của lửa, sự rực rỡ của trí tuệ (paññā-pajjoto)[20].

Ngay trong bài pháp đầu tiên của Ngài – Dhamma cakkappavattana Sutta (Chuyển Pháp Luân Kinh) đức Phật cũng đề cập đến ánh sáng khi giải thích sự Giác Ngộ của Ngài[21].

“… Như vậy, này các Tỳ khưu, đối với các Pháp (dhamma) trước đây chưa từng nghe, nhãn (cakkhu) đã khởi lên nơi Ta, trí (ñāa) đã khởi lên nơi Ta, tuệ (paññā) đã khởi lên nơi ta, minh (vijjā) đã khởi lên nơi Ta và ánh sáng (āloke) đã khởi lên nơi Ta.”

Tâm thuộc minh sát trí hiệp thế tạo ra “ánh sáng giác ngộ” mạnh mẽ (vipassanobhāso), nhưng tâm thuộc minh sát trí siêu thế tạo ra ánh sáng được xem là cực kỳ mạnh mẽ, chẳng hạn Ánh Sáng Giác Ngộ của Bậc Giác Ngộ tỏa khắp mười ngàn thế giới[22].

Ánh sáng ấy phát sanh như thế nào? Tâm khi lắng sâu trong định được kết hợp với Tuệ (paññā), tâm ấy sẽ tạo ra nhiều thế hệ sắc cực sáng do tâm sanh (cittajarūpa). Dùng ánh sáng ấy, chúng ta có thể thâm nhập vào thực tại cùng tột hay chân đế (paramattha sacca) để thấy các pháp như chúng thực sự là. Điều này cũng giống như khi đi vào một căn phòng tối, chúng ta cần phải có ánh sáng để thấy mọi vật ở đó vậy.

Bảo vệ tâm định

Tuy nhiên, vì muốn thâm nhập vào thực tại cùng tột hay pháp chân đế thâm sâu, vi tế, mà chúng ta phát triển định tâm sâu lắng không thôi vẫn chưa đủ, đây còn là một cơ hội chúng ta không thể để mất. Do đó ở đây chúng tôi cũng dạy thiền sinh cách làm thế nào để tự bảo vệ mình và bảo vệ thiền của mình bằng cách tu tập Bốn Phạm Trú (Brahmavihāra) cho đạt đến một bậc thiền nào đó hoặc cận định. Bốn Phạm Trú này là:

1. Từ (mettā) để vượt qua sân hận.
2. Bi (karuā) để vượt qua ác tâm và não hại.
3. Hỷ (muditā) để vượt qua ganh tỵ.
4. Xả (upekkhā) để vượt qua sự dửng dưng đối với các chúng sanh.

Vì cùng một lý do này mà chúng tôi cũng còn dạy bốn loại Thiền Bảo hộ (caturākkha kammaṭṭhāna) cho đạt đến một bậc thiền (jhāna) hoặc cận định[23]:

1. Tâm từ (mettā) để bảo vệ hành giả khỏi những hiểm nguy do chúng sinh khác gây ra.
2. Tùy niệm Phật (budhānussati) để bảo vệ hành giả khỏi sợ hãi, và những hiểm nguy khác.
3. Quán bất tịnh (asubha bhāvanā) để bảo về hành giả khỏi dục, tham.
4. Niệm sự chết (maraānussati) để bảo vể hành giải khỏi rơi vào sự dễ duôi, biếng nhác khi hành thiền; để phấn khích hành giả bằng ý thức kinh cảm sự chết. (savega).

Với định của bậc thiền hoặc với cận định mà hành giả đã phát triển được, những đề tài thiền này không phải mất nhều thời gian để tu tập, (tức là hành giả sẽ dễ dàng phát triển các đề mục thiền này vậy).

Thâm nhập vào Thực Tại Cùng Tột (Chân đế)

Thâm nhập vào Sắc chân đế

Nếu hành giả là một người theo cỗ xe Tịnh chỉ (samatha yogi), có năng lực định mạnh đã được khéo bảo vệ, đến đây chúng tôi sẽ dạy cách làm thế nào để biết và thấy sắc như chúng thực sự là, dùng thiền tứ đại (catadhātu vavatthāna)[24]. Nhưng nếu hành giả không thích tu tập định trước, mà chỉ muốn phát triển đến cận định thôi, hành giả có thể đi thẳng vào thiền tứ đại.

Có vài lý do khiến chúng tôi dạy phân biệt sắc trước. Một là, việc phân biệt sắc rất vi tế và sâu xa. Tuy nhiên, dù sắc thay đổi hàng tỷ lần trong một giây, nó vẫn không thay đổi nhanh như “danh”. Điều này có nghĩa rằng một khi hành giả đã hoàn tất việc phân biệt sâu xa về sắc rồi, thì việc phân biệt sâu xa hơn về danh sẽ trở nên dễ dàng hơn cho hành giả. Một lý do khác là vì danh nương vào sắc, nên nếu hành giả không thể thấy ra sắc đặc biệt mà một tâm nương vào ấy, thì hành giả hoàn toàn không thể thấy danh. Muốn thấy danh, hành giả cần phải thấy sự khởi sanh của nó[25].

Thiền tứ đại nghĩa là hành giả phân biệt bốn đại có mặt trong sắc, khởi đầu với sắc được xem là thân của chính mình, tức hành giả khởi đầu với sắc được đức Phật gọi là: bên trong (ajjhatta). Đức Phật giải thích thiền tứ đại trong Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna sutta)[26] như sau:

“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu quán xét thân này, dù cho nó được đặt hay sắp xếp dưới dạng các đại (dhātu – element). Trong thân này có:

1. Địa đại (pathavī dhātu)
2. Thủy đại (āpo dhātu)
3. Hỏa đại (tejo dhātu)
4. Phong đại (vāyo dhātu)”

Khởi đầu với sắc của chính mình thường dễ dàng hơn, bởi vì biết sắc của mình nóng hay lạnh, cứng hay mềm vẫn dễ hơn là biết nó ở sắc bên ngoài, như sắc của một người khác chẳng hạn. Một khi hành giả đã trở nên thiện xảo trong việc phân biệt sắc bên trong rồi, hành giả cũng cần phân biệt mười loại sắc còn lại mà đức Phật đã kể ra: tức là sắc quá khứ, vị lại, hiện tại, bên ngoài, thô, tế, hạ liệt, cao thượng, xa và gần[27].

Đức Phật dạy thiền tứ đại này để chúng ta có thể biết và thấy sắc chân đế. Trước tiên, hành giả tu tập khả năng biết và thấy các đặc tính của tứ đại trong thân mình như một khối sắc hay vật chất nén lại. Khi sự thiện xảo và định của hành giả đã phát triển hành giả cuối cùng có thể sẽ thấy các rūpa-kdāpa (tổng hợp sắc), và rồi, dùng ành sáng của định mà hành giả đã phát triển đó, hành giả có thể thâm nhập vào cái ảo tưởng về nguyên khối (nguyên khối tưởng)[28], thể nhập vào sắc chân đế, để biết và thấy, để nhận ra và phân tích các đại riêng biệt trong các loại rūpa kalāpa (tổng hợp sắc) khác nhau.

Thâm nhập vào Danh chân đế

Bây giờ, sau khi như thật biết và thấy các đại (đất, nước, lửa, gió) khác nhau được xem là sắc chân đế, hành giả có thể tiến hành để biết và thấy Danh chân đế, cũng được gọi là thiền trên Danh (nāma kammaṭṭhāna).

Chúng ta có thể phân biệt Danh hoặc qua sáu căn hoặc qua sáu môn[29]. Nhưng, vì hành giả đã phân biệt sắc qua các môn rồi, do đó Thanh tịnh đạo khuyên hành giả nên làm y như vậy đối với danh[30]: “Khi hành giả đã phân biệt được sắc như vậy, các trạng thái vô sắc (danh) cũng sẽ trở nên rõ rệt cho hành giả hợp với các môn ấy.” Và chú giải còn nói thêm rằng: phân biệt danh qua các môn là để khỏi lẫn lộn[31].

Sáu môn và các đối tượng của chúng đã được đề cập ở trước, ở đây chỉ tóm tắt.

1. Nhãn môn, bắt các cảnh sắc (các đối tượng thuộc màu sắc).
2. Nhĩ môn, bắt các cảnh thinh.
3. Tỷ môn bắt các cảnh khí (hương)
4. Thiệt môn bắt các cảnh vị.
5. Thân môn bắt các cảnh xúc.
6. Ý môn (bhavaga – mind door) bắt năm cảnh thuộc năm môn vật chất trước đó, và các cảnh pháp (dhamma objects)[32].

Khi một trong sáu loại đối tượng hay cảnh này đập vào môn tương ưng của nó, thì một chuỗi các tâm (cittas) khởi lên, và cùng với mỗi tâm khởi lên này còn có một số các tâm sở tương ưng (cetasika); điều này hợp theo qui luật tự nhiên của tâm (citta niyāma – the natural law of consciousness). Một chuỗi tâm và tâm sở tương ưng như vậy gọi là một lộ trình tâm (vīthi), do đó có sáu loại:

(1) Nhãn môn lộ trình tâm (Cakkhu-dvāra vīthi)
(2) Nhĩ môn lộ trình tâm (Sota-dvāra vīthi)
(3) Tỷ môn lộ trình tâm (Ghāna-dvāra vīthi)
(4) Thiệt môn lộ trình tâm (Jhivhā-dvāra vīthi)
(5) Thân môn lộ trình tâm (Kāya-dvāra vīthi)
(6) Ý môn lộ trình tâm (Mano-dvāra vīthi)

Khi một đối tượng vật chất đập vào môn vật chất tương ưng của nó, thì tiến trình nhận thức thuộc năm môn đầu khởi lên; tiến trình này gọi là tiến trình nhận thức thuộc ngũ môn hay gọi tắt là “lộ ngũ môn” (pañca-dvāra vīthi). Còn tiến trình nhận thức thuộc môn thứ sáu hay Ý môn thì gọi là “lộ ý môn” (mano-dvāra vīthi).

Như đã đề cập ở trên, khi một trong năm loại đối tượng vật chất đập vào môn vật chất tương ưng của nó, thì đồng thời nó cũng đập vào ý môn (bhavaga)[33]; cả hai tiến trình nhận thức hay lỗ ngũ môn và lộ ý môn khởi lên. Chẳng hạn, khi một cảnh sắc đập vào nhãn môn, thì đồng thời nó cũng đập vào ý môn (bhavaga), sự kiện này làm phát sanh trước hết là một lộ nhãn môn và kế tiếp là nhiều lộ ý môn[34]. Điều này cũng xảy ra theo quy luật tự nhiên của tâm (cittaniyāma).

Như vậy rõ ràng rằng để biết và thấy danh, trước hết chúng ta cần phải biết và thấy sắc, vì muốn biết và thấy được những tiến trình nhận thức này, trước tiên chúng ta cần phải biết và thấy các môn và đối tượng tương ưng của chúng. Điều này được hành giả thực hiện khi phân biệt sắc[35].

Khi phân biệt danh, trước hết hành giả phân biệt các loại tiến trình nhận thức khác nhau, tức là hành giả phân biệt xem có bao nhiêu sát-na tâm (cittakkhaa) trong mỗi tiến trình nhận thức (lộ tâm), và phân biệt các loại sát-na tâm khác nhau ấy. Nhưng đó vẫn chưa phải là danh chân đế (paramattha nāma). Cũng như đối với sắc, hành giả phải phá bỏ cái ảo tưởng về nguyên khối, đó là tổng hợp sắc (rūpa kalāpa) như thế nào, thì ở đây cũng vậy, hành giả cần phải phá bỏ ảo tưởng về nguyên khối, tức là tiến trình nhận thức,[36] như thế đó.

Mỗi tiến trình nhận thức bao gồm nhiều sát-na tâm (cittakkhaa), và mỗi sát-na tâm là thời gian cần để cho một tâm (citta) và các tâm sở của nó (cetasika) sanh lên, trụ lại và diệt. Tâm không sanh lên đơn độc, nó luôn luôn sanh cùng với các tâm sở tương ưng. Cũng vậy, các tâm sở không sanh lên một mình được, mà chúng phải luôn luôn sanh cùng với một tâm nào đó. Vì vậy, tâm và các tâm sở của nó sanh lên như một nhóm kết lại (compact group). Muốn phá bỏ cái khối này, hành giả cần phải phân tích mỗi loại sát-na tâm rồi biết và thấy tâm riêng và các tâm sở tương ưng của nó riêng. Đó là biết và thấy danh chân đế (paramattha nāma). Điều này còn vi tế hơn việc biết và thấy các đại chủng của sắc, tuy nhiên hành giả có thể làm được nhờ ánh sáng mạnh mẽ của định mà hành giả đã phát triển, và nhờ sức mạnh của sự phân biệt mà hành giả đã tu tập khi phân biệt sắc.

Như đã nói, danh bao gồm 89 loại tâm và 52 loại tâm sở phối hợp. Nhưng tám trong số tám mươi chín tâm ấy là các tâm siêu thế (lokuttara citta: 4 Đạo và 4 Quả), và chỉ khởi lên khi hành giả hành Minh Sát (vipassanā) trên một trong tám mươi mốt loại tâm (hiệp thế) còn lại, và các tâm sở phối hợp của nó. Nói cách khác, các đối tượng của Minh Sát (vipassanā), chỉ là 81 tâm hiệp thế và các tâm sở phối hợp của chúng, trong khi những kết quả của Minh Sát ấy là tám tâm siêu thế vậy…

Hơn nữa, trong 81 loại tâm hiệp thế còn có các tâm thiền (jhāna). Nhưng nếu hành giả không đắc thiền thì không thể phân biệt các tâm thiền ấy. Vì thế, nếu hành giả là một thuần quán hành giả (người chỉ tu quán minh sát mà không tu định), thì việc phân biệt các tâm thiền định bỏ ra.

Như vậy những gì hành giả bây giờ có thể phân biệt, được đức Phật giải thích trong Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna sutta) như sau:

“Lại nữa, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sống quán tâm trong tâm như thế nào? Ở đây, này các Tỳ khưu,

(1) với tâm có tham (sarāga citta), tuệ tri (pajānati) “tâm có tham”[37];
(2) với tâm không tham (vīarāga citta), tuệ tri “tâm không tham”;
(3) với tâm có sân (sadosa citta), tuệ tri: “tâm có sân”;
(4) với tâm không sân (vītadosa), tuệ tri “tâm không sân”;
(5) với tâm có si (samoha citta) tuệ tri “tâm có si”;
(6) với tâm không si (vītamoha citta), tuệ tri “tâm không si”;
(7) với tâm co rút[38] (sakhitta citta), tuệ tri “tâm co rút”;
(8) Với tâm tán loạn (vikkhitta citta), tuệ tri “tâm tán loạn”;
(9) với tâm đại hành[39] (quảng đại – mahaggata citta), tuệ tri “tâm đại hành”;
(10) với tâm không đại hành (amahaggata citta), tuệ tri “tâm không đại hành”;
(11) với tâm hữu hạn[40] (sa-uttara citta), tuệ tri “tâm hữu hạn”;
(12) với tâm vô thượng (anuttara citta), tuệ tri “tâm vô thượng;
(13) với tâm có định[41] (samāhita citta), tuệ tri “tâm có định”;
(14) với tâm không định (asmāhita citta), tuệ tri “tâm không định”;
(15) với tâm giải thoát[42] (vimutta citta), tuệ tri “tâm giải thoát”;
(16) với tâm không giải thoát (avimutta citta), tuệ tri “tâm không giải thoát”.

Như vậy, vị ấy sống quán tâm trên nội tâm (ajjhatta), hoặc vị ấy sống quán tâm trên ngoại tâm (bahiddhā), hoặc vị ấy sống quán tâm trên nội và ngoại tâm.”

Ở đây, đức Phật giải thích “danh” như gồm mười sáu loại tâm. Điều đó có nghĩa là hành giả phải biết và thấy từng cặp một như chúng thực sự là, chẳng hạn tâm phối hợp với tham và tâm không có tham qua một trong sáu môn, và quán bên trong, bên ngoài rồi cả bên trong lẫn bên ngoài. Khi ấy hành giả kể như đã thâm nhập vào được danh chân đế, biết và thấy nó như nó thật sự là.

Ba Thanh Tịnh

Bây giờ, sau khi đã biết và thấy danh-sắc nhưng chúng thực sự là, hành giả kể như đã thực hiện được cái gọi là “Ba Thanh Tịnh”. Visuddhi-magga (Thanh Tịnh Đạo) giải thích.

(1) Giới thanh tịnh (sīla visuddhi) là giới bốn loại hoàn toàn thanh tịnh, bắt đầu với sự chế ngự bằng giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa (imokkha)…
(2) Tâm thanh tịnh (citta visuddhi), đó là, tám thiền chứng (the jhānas) cùng với cận định[43].
(3) Kiến thanh tịnh (diṭṭhi visuddhi) là cái thấy đúng về Danh-Sắc (nāmarūpāna yāthāvadassana)

Biết và thấy Thánh Đế Thứ Hai và Thứ Ba

Để đạt đến Niết-bàn chúng ta cũng cần phải biết và thấy Thánh Đế và Nguồn gốc của Khổ (Khổ tập Thánh Đế). Trong Dhammacakkappavattana Sutta (Kinh Chuyển Pháp Luân), đức Phật giải thích Thánh Đế này như sau:

Bây giờ, này các Tỳ khưu, thế nào là Thánh Đế về Nguồn gốc của Khổ: chính “ái” này đưa đến một hiện hữu mới (tái sanh), cùng với hỷ và tham, đi tìm lạc thú chỗ này chỗ kia; tức là:

(1) Dục ái (kāmata)
(2) Hữu ái (bhavata)
(3) Phi hữu ái (vibhavata)

Chi tiết hơn, đức Phật giải thích Thánh Đế về Nguồn gốc của Khổ này như Pháp Duyên Khởi hay Thập Nhị Nhân Duyên (paiccasamuppāda).

“Và thế nào, này các Tỳ khưu, là Thánh Đế về Nguồn gốc của Khổ? (dukkha samudaya ariyasacca)

- Do vô minh làm duyên (avijjā paccayā) hành sanh (sakhārā);
- Do hành làm duyên (sakhāra paccayā), thức sanh (vññāa);
- Do thức làm duyên, danh-sắc sanh (nāma rūpa);
- Do danh-sắc làm duyên, lục nhập sanh (salāyatanā);
- Do lục nhập làm duyên, xúc sanh (phassā);
- Do xúc làm duyên, thọ sanh (vedanā);
- Do thọ làm duyên, ái sanh (ta);
- Do ái làm duyên, thủ sanh (upādāna);
- Do thủ làm duyên, hữu sanh (bhava);
- Do hữu làm duyên, sanh sanh (jāti);
- Do sanh làm duyên, già, chết (jarā, maraa), sầu, bi (soka, parideva); khổ, ưu và não (dukkho, domanassa, upāyāsa) sanh.

Đây là nguồn gốc của toàn bộ khổ uẩn.

Như vậy, này các Tỳ khưu, được gọi là Thánh Đế về Nguồn gốc của Khổ.”

Ngoài ra, hành giả cần phải biết và thấy bằng cách nào năm nhân trong một kiếp sống (vô minh, hành, ái, thủ, hữu[44]) đưa đến tài sanh, và thế nào là năm quả của nó (thức, danh-sắc, lục nhập, xúc và thọ). Hành giả cũng cần phải thấy được tiến trình trở thành này cứ liên tục từ đời này đến đời khác như thế nào.

Biết và Thấy Thánh Đế Thứ Ba

Tuy nhiên, thấy duyên khởi chỉ như sự sanh khởi của các hành thôi thì chưa đủ; hành giả cũng cần phải thấy duyên khởi như là sự biến hoại và diệt của các hành nữa.

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là Thánh Đế và Khổ Diệt? (dukkha nirodha ariyasacca)

- Do vô minh diệt, (avijjāya tveva asesavirāga nirodhā), các hành diệt (sankhāra nirodho);
- Do hành diệt, thức diệt;
- Do thức diệt, danh-sắc diệt;
- Do danh-sắc diệt, lục nhập diệt;
- Do lục nhập diệt, xúc diệt;
- Do xúc diệt, thọ diệt;
- Do thọ diệt, ái diệt;
- Do ái diệt, thủ diệt;
- Do thủ diệt, hữu diệt;
- Do hữu diệt, sanh diệt;
- Do sanh diệt, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt.

Như vậy là sự diệt của toàn bộ khổ uẩn.

Này các Tỳ khưu, đây gọi là Thánh Đế về Khổ diệt.”

Hành giả cần phải thấy sự diệt trong từng sát-na của các Hành diễn ra từ sát-na tâm này đến sát-na tâm khác, tức là biết và thấy Khổ Đế hiệp thế. Và hành giả cũng cần phải tiếp tục (hành) cho đến khi thấy được mình đạt đến A-la-hán quả trong tương lai và nhập vô dư Niết-bàn (panibbāna) sau đó.

Khi hành giả đắc A-la-hán thánh quả trong tương lai, vô minh lúc ấy sẽ bị hủy diệt; do vô minh diệt sẽ có sự diệt không còn dư tàn (avasesa nirodha) của các hành, ái, và thủ. Những nhân sanh khổ này diệt, nhưng bản thân khổ chưa diệt, vì những quả của nghiệp quá khứ vẫn hoạt động, lý do là hành giả vẫn còn có ngũ uẩn[45].

(Ngay cả đức Phật cũng vẫn cảm thọ những thọ lạc, khổ khi còn ngũ uẩn). Chỉ lúc nhập Vô Dư Niết-bàn (Parinibbāna) ngũ uẩn của hành giả mới diệt không còn dư tàn, và chỉ lúc nhập Vô Dư Niết-bàn Khổ mới hoàn toàn diệt. Như vậy có nghĩa là có hai loại diệt:

1. Sự diệt lúc chứng A-la-hán Thánh quả.
2. Sự diệt lúc nhập Vô Dư Niết-bàn.

Nguyên nhân cho ra hai loại diệt này là A-la-hán Thánh Đạo Tuệ, tức Tuệ thấy và biết Niết-bàn (Vô vi – asakhāta), hay Thánh Đế về sự Diệt Khổ nhưng điều này không có nghĩa rằng, vào lúc hành giả nhìn vào tương lai và thấy, biết việc chứng A-la-hán thánh quả cũng như Bát Niết-bàn của mình là hành giả biết và thấy Niết-bàn đâu, mà phải hiểu rằng ở giai đoạn này hành giả không biết và thấy Niết-bàn. Ở giai đoạn này hành giả chỉ biết và thấy được khi nào thì năm nhân làm phát sanh các hành diệt, không còn các hành nữa. Với trí đó, hành giả hiểu ra rằng việc Bát Niết-bàn – Parinibbāna của hành giả chắc chắn sẽ được chứng đắc vậy thôi.

Không thấy đựơc điều này, đức Phật nói hành giả không thể chứng đắc Niết-bàn, mục đích của sa môn hạnh, mục đích của Bà-la-môn hạnh[46].

“Này các Tỳ khưu, các sa môn hay Bà-la-môn (samaā vā brāhmanāvā) nào

1. không tuệ tri già-chết,
2. không tuệ tri nguồn gốc của già-chết (samudaya),
3. không tuệ tri sự đoạn diệt của già-chết (nirodha) và không tuệ tri
4. con đường đưa đến sự đoạn diệt của già chết (nirodha gāmini paipada);

Những ai không tuệ tri sanh … hữu… thủ… ái… thọ… xúc… lục nhập… danh-sắc… thức… hành, nguồn gốc hay tập khởi của chúng, sự đoạn diệt của chúng, và con đường đưa đến sự đoạn diệt của chúng; những người ấy Như Lai không xem là những sa môn trong các sa môn, hoặc những Bà-la-môn trong các Bà-la-môn, vì những tôn giả ấy không tự mình với thắng trí đạt được, chứng được và an trú ngay trong hiện tại mục đích của sa môn hạnh, hay mục đích của Bà-la-môn hạnh.”

Nhưng ở đây hành giả có thể chứng và trú trong mục đích của sa môn hạnh, hành giả có thể thấy được các pháp này, vì hành giả đã tu tập định tâm mạnh mẽ. Trong kinh “Samadhi sutta[47] đức Phật giải thích:

“Này các Tỳ khưu, hãy tu tập định. Sau khi đắc định vị Tỳ khưu sẽ tuệ tri các Pháp (Dhamma)[48] như chúng thực sự là (yathā bhūta pajānāti).

Và vị ấy tuệ tri các pháp như chúng thực sự là như thế nào?

1. Tập khởi và sự đoạn diệt[49] của sắc (rūpassa samudayañca atthagamañca),
2. Tập khởi và sự đoạn diệt của thọ (vedanāya samudayañca atthagamañca),
3. Tập khởi và sự đoạn diệt của tưởng (saññāya samudayañca atthagamañca),
4. Tập khởi và sự đoạn diệt của các hành (sakhārāna samudayañca atthagamañca),
5. Tập khởi và sự đoạn diệt của thức (viññāassa samudayañca atthagamañca).

Biết và Thấy Duyên Khởi

Hào quang, ánh sáng rực rỡ, ánh sáng sáng chói và rực rỡ của trí tuệ mà hành giả đã phát triển sẽ cho hành giả khả năng đi ngược về dòng danh-sắc nối tiếp từ hiện tại cho đến giây phút tái sanh trong kiếp này của hành giả, rồi cho đến sát-na tử trong kiếp trước của hành giả, và theo cách ấy, đi ngược trở lại nhiều đời bao nhiêu tùy khả năng phân biệt của hành giả, rồi sau đó cũng nhìn vào tương lai, cho đến thời điểm Bát Niết-bàn (parinibbāna) của hành giả. Nhờ nhìn vào các phần tử riêng lẻ của danh-sắc, hành giả có thể sẽ nhận ra các nhân và quả.

Vào thời điểm thực hành một cách tinh cần và với một cái tâm đã đựơc tịnh hóa bằng năng lực định mạnh mẽ, chuyên chú vào pháp hành thâm sâu phân tích Danh-sắc chân đế, hành giả sẽ thấy được việc chứng diệt tối hậu – Niết-bàn – trong tương lai. Nhưng nếu hành giả ngưng thiền v.v… những điều kiện ấy cũng sẽ thay đổi, và tất nhiên những kết quả trong tương lai cũng sẽ thay đổi theo.

Một điển hình của trường hợp này là Mahādhāna con trai của viên Thủ khố và vợ anh ta[50]. Cả hai vợ chồng thừa hưởng cả một gia tài khổng lồ của cha mẹ, nhưng Mahādhāna đã hoang phí nó vào việc trà đình tửu điếm. Cuối cùng ông và vợ chẳng còn gì cả, và phải đi ăn xin trên đường phố. Đức Phật giải thích cho tôn giả Ānanda biết rằng nếu Mahādhāna lúc còn trẻ xuất gia, ông sẽ trở thành một bậc A-la-hán; nếu trung niên xuất gia, ông sẽ trở thành bậc Bất Lai (A-na-hàm), và nếu lão niên xuất gia, ông sẽ trở thành bậc Nhất Lai (Tư-đà-hàm), vì các ba-la-mật (parāmi) của ông là vậy. Nhưng do rượu chè, ông không đắc được gì cả, mà bây giờ còn phải đi ăn mày. Điều này cho thấy rằng tương lai của chúng ta lúc nào cũng được quyết định bởi hiện tại (của chúng ta). Đó là lý do vì sao, vào lúc hành thiền đạt đến chỗ sâu lắng liên tục trong một thời gian, hành giả sẽ thấy việc Bát Niết-bàn (Parinibbāna) của mình hoặc ngay kiếp này, hoặc trong tương lai.

Không thấy các kiếp sống quá khứ và các kiếp sống trong tương lai, hành giả khó có thể hiểu được pháp duyên khởi như nó thực sự là: tức là biết và thấy bằng cách nào các nhân quá khứ sẽ cho quả trong hiện tại, và các nhân hiện tại sẽ cho quả trong tương lai, cũng như biết và thấy sự diệt của các nhân sẽ đưa đến sự diệt của các quả ra sao. Hơn nữa không biết và thấy duyên khởi, cũng sẽ không thể nào biết và thấy Thánh Đế về Nguồn gốc của Khổ đúng như thực. Điều này được giải thích trong Visuddhi-magga như sau:

“Không một ai, dù là trong giấc mơ, thoát ra khởi cái vòng tái sanh luân hồi đáng sợ, vốn từng hủy diệt như sấm sét này, trừ phi người ấy với tuệ kiếm được khéo mài trên đá định cao thượng, chặt đứt cái Bánh xe Sanh Hữu vốn không có chỗ đặt chân do tính chất cực kỳ thâm sâu của nó, và khó đạt đến do sự hỗn độn của nhiều phương pháp.”

Và điềm này đã được Đức Thế Tôn nói như sau: “Này Ānanda, pháp duyên khởi này thật là thâm sâu, và sâu xa thay là sự xuất hiện của nó. Này Ānanda, chính do không hiểu biết, không thể nhập duyên khởi mà thế gian này đã trở thành như một cuộn chỉ rối bời, một cuộn chỉ bị thắt nút, bện vào nhau như rễ cỏ tranh, thật khó mà tìm ra lối thoát khỏi vòng tử sanh luân hồi, với những trạng thái thống khổ, những đọa xứ… trầm luân của nó[51].

Một khi hành giả đã biết và thấy Thánh Đế Thứ Hai hay Thánh Đế về Nguồn gốc của Khổ đúng như thực, hành giả cũng sẽ vượt qua hoài nghi về ba thời: quá khứ, hiện tại và vị lai. Điều này đã được giải thích trong Visuddhi-magga (Thanh Tịnh Đạo)[52].

“Khi hành giả đã thấy được sự khởi sanh của Danh-sắc là do các duyên (paccayato) như vậy, hành giả cũng biết rằng, hiện tại do duyên thì trong quá khứ sự khởi sanh của nó cũng do duyên, và trong tương lai sự khởi sanh của nó cũng sẽ do duyên mà thôi.”

Sau khi đã đạt đến giai đoạn này, hành giả chứng được Đoạn Nghi Thanh Tịnh (Kakhāvitaraa visuddhi)[53]. Chính ở giai đoạn này hành giả mới có thể bắt đầu thực hành minh sát (Vipassanā), vì chỉ ở giai đoạn này hành giả mới biết và thấy đựơc thực tại tối hậu, hành giả không thể hành Minh Sát khi chưa thấy các pháp (dhammas) như chúng thực sự là[54].

Hành Minh Sát

Khi thực hành minh sát, hành giả quay trở lại việc biết và thấy Thánh Đế về Khổ như nó thực sự là, và Thánh Đế về Nguồn gốc của Khổ như nó thực sự là; tức biết và thấy sự sanh và diệt của cả mười một loại Danh-sắc. Nhưng lần này hành giả biết và thấy chúng dưới dạng vô thường, khổ và vô ngã (anicca-dukkha-anatta). Nói chung hành giả biết và thấy các hành như chúng thực sự là, và suy xét chúng theo những chỉ dẫn đã được đức Phật đưa ra trong bài pháp thứ hai của Ngài “Vô Ngã Tướng Kinh”(Anattalakkhaa sutta), để dạy cho nhóm năm Tỳ khưu (Năm vị Kiều Trần Như – Pañca vaggiya bhikhū)[55].

Này các Tỳ khưu, các người nghĩ thế nào?

1. Sắc là thường hay vô thường?

- Vô thường, bạch Thế Tôn.

2. Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

- Khổ, bạch Thế Tôn.

3. Cái gì vô thường, khổ và phải chịu biến đổi, có hợp lý chăng khi nghĩ như vầy: “Cái này là của tôi (eta mama)”, cái này là tôi (nesohamasmi), “cái này là tự ngã của tôi (eso me attā’ti?)”?

- Thưa không, bạch Thế Tôn.

Do vậy, này các Tỳ khưu, phàm có sắc nào, dù quá khứ, vị lai hay hiện tại; bên trong hay bên ngoài; thô hay tế; hạ liệt hay cao thượng; xa hay gần; tất cả sắc ấy phải được thấy như nó thực sự là với chánh trí tuệ như vậy:

“Cái này không phải của tôi (neta mama);
Cái này không phải là tôi (nesohamasmi);
Cái này không phải tự ngã của tôi (na meso attā).

Phàm có thọ nào… Phàm có tưởng nào… Phàm có hành nào… Phàm có thức nào… cần phải được thấy như nó thực sự là với chánh trí tuệ như vầy: “Cái này không phải của tôi; cái này không phải là tôi; cái này không phải tự ngã của tôi.”[56]

Nói cách khác, các hành (sankhāra), tức danh-sắc và các nhân của chúng, diệt ngay khi vừa sanh, là lý do tại sao nói chúng vô thường (anicca); chúng phải chịu sanh, diệt liên tục, là lý do tại sao chúng khổ (dukkha); chúng không có tự ngã (atta), hoặc cốt lõi bền vững, bất khả hoại, là lý do tại sao nói chúng vô ngã (anatta).

Hành giả Biết và Thấy (Pháp) Vô Vi

Qua một chuỗi các bài tập, trong đó hành giả quán sự sanh và diệt của các hành, rồi sau đó chỉ quán sự diệt của các hành, hành giả kinh qua các Tuệ (ñāna) còn lại, sau các tuệ này hành giả cuối cùng sẽ biết và thấy pháp vô vi (asakhata), tức Niết-bàn. Khi hành giả biết và thấy vô vi, thì hành giả cũng biết và thấy bất tử (amata). Điều này đã được đức Phật giải thích[57]:

Này Mogharaja,
Hãy nhìn đời trống không
Luôn luôn giữ chánh niệm,
Nhổ lên ngã tùy kiến
Như vậy vượt tử vong,
Hãy nhìn đời như vậy
Thần chết không thấy được.

Khi đức Phật nói chúng ta phải biết và thấy thế gian này là rỗng không, Ngài muốn nói rằng chúng ta phải biết và thấy nó không có thường (nicca), không có lạc (sukha) và không có tự ngã (atta)[58]. Trong ngôn ngữ thông thường, chúng ta cũng có thể nói rằng thấy trống không là phải thấy tuyệt đối không có gì (absolute zero).

Tuy nhiên điều này không có nghĩa rằng tâm là tuyệt đối không có gì, mà tâm hoàn toàn tỉnh giác, chỉ có “đối tượng” mà tâm biết và thấy mới là “tuyệt đối không có gì”. Đối tượng mà tâm hoàn toàn tỉnh giác, và biết cũng như thấy ấy là Niết-bàn giới; vô vi giới (asakhata dhātu)[59]. Đây là sự chứng đắc Bát Thánh Đạo siêu thế, khi tất cả tám chi phần đều lấy Niết-bàn làm đối tượng[60].

Chứng ngộ Tứ Thánh Đế

Chính ở giai đoạn này hành giả sẽ chứng ngộ Tứ Thánh Đế như chúng thực sự là, và điều này trở thành khả dĩ chỉ vì những điều kiện cần thiết cho việc chứng ngộ như vậy đã hội đủ. Trong Kinh Ngôi Nhà có Nóc Nhọn (Kūtāgara sutta) đã đề cập ở trên, dức Phật cũng giải thích vì sao những điều kiện ấy làm cho nó có thể chấm dứt hoàn toàn khổ:

Thực vậy, nếu ai nói như sau, này các Tỳ khưu: “Sau khi đã xây dựng phần dưới của ngôi nhà có nóc nhọn, Ta sẽ dựng lên một mái che”, sự việc như vậy có thể xảy ra.

Cũng vậy, nếu ai nói:

1. “Sau khi đã như thực chứng ngộ Thánh Đế về Khổ;
2. Sau khi đã như thực chứng ngộ Thánh Đế về Nguồn gốc của Khổ;
3. Sau khi đã như thực chứng ngộ Thánh Đế về sự Diệt Khổ;
4. Sau khi đã như thực chứng ngộ Thánh Đế về Con Đường đưa đến sự Diệt Khổ;

Ta sẽ chấm dứt hoàn toàn khổ”; sự kiện như vậy có thể xảy ra.

Và Ngài thêm:

1. Do đó, này các Tỳ khưu, một nỗ lực lớn cần phải được thực hiện (yogo kanaīyo) để tuệ tri “Đây là Khổ” (ida dukkhan’ti).
2. Do đó, này các Tỳ khưu, một nỗ lực lớn cần phải đựơc thực hiện để tuệ tri: “Đây là nguồn gốc của Khổ” (ida dukkha samudayan’ti).
3. Do đó, này các Tỳ khưu, một nỗ lực lớn cần phải được thực hiện để tuệ tri: “Đây là sự Diệt Khổ” (ida dukkha nirodhan’ti).
4. Do đó, này các Tỳ khưu, một nỗ lực lớn cần phải được thực hiện để tuệ tri: “Đây là Con Đường đưa đến sự Diệt Khổ” (ida dukkha nirodha gāminī paipadā’ti).

Cầu mong mọi người tìm được cơ hội thực hiện một nỗ lực cần thiết để chứng ngộ Tứ Thánh Đế và chấm dứt hoàn toàn khổ.

Pa-Auk Tawya Sayadaw
Pa-Auk Tawya Monastery

[1] S.V. XII.III Kotigama sutta.

[2] S.V.XII.v 4. Ngôi nhà có nóc nhọn ở đây là ngôi nhà trệt có 4 cây cột, trên thả những cây đà để đỡ một mái cao được vuốt lên thành một chóp nhọn.

[3] Điều này được giải thích trong chú giải Trung Bộ, bài kinh “Mahāgopālaka Sutta” (Đại kinh Người Chăn Bò, ở đây đức Phật giải thích mười một pháp có mặt nơi một vị Tỳ khưu khiến vị ấy không thể tiến bộ trong Pháp và Luật (Dhamma-Vinaya)

[4] S.V.XII.ii “Dhamma-wheel Rolling Sutta”

[5] Pañcavokāra là một từ đồng nghĩa với pañca khandha, tức năm uẩn.

[6] S.III.II.v.2 “Flower Sutta

[7] Loke = Sakhāraloke – Lokedhammo: đồng với năm uẩn.

[8] S.III.1 V6

[9] Ở một nơi khác, Danh-sắc được đức Phật dùng để nói đến sáu Xứ [salāyatam, sáu nội xứ (căn) và sáu ngoại xứ (trần)] và đây cũng là một từ được Ngài dùng khi giải thích lý Duyên Khởi. Xuyên suốt giáo pháp của Ngài, ta thấy Phật giải thích các pháp theo khuynh hướng và sự hiểu biết của người nghe. Vì thế, Ngài giải thích Danh-sắc bằng nhiều cách khác nhau, mặc dù, về phương diện cùng tột, chúng liên quan tới cùng sự việc.

[10] Ở đây, khi đức Phật nói về mười tám giới của thế gian thì các pháp (dhammas) đề cập đến mười sáu loại sắc vi tế, và tất cả các danh pháp kết hợp. Còn khi nói các pháp (dhammas) trong những bản kinh khác, đức Phật muốn nói đến tất cả đối tượng, kể cả Niết – bàn và chế định (paññatti). Tuy nhiên vì các chế định pháp không phải thế gian (không phải danh hoặc sắc, và do đó không phải là Thánh Đế Thứ Nhất và Thứ Nhì) nên chúng không được kể trong “Thế Gian Kinh”. Xem thêm ghi chú 1 trang 307

[11] Căn (indriya) dùng ở đây cũng như “môn”, “xứ” ở các chỗ khác. Vị Bà-la-môn mà đức Phật đang nói đến trong kinh này đã dùng “năm căn” trong câu hỏi dẫn khởi của ông (xem kinh Bà-la-môn Uṇṇābha S.V. 217)

[12] Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw liên hệ lại ví dụ trong Aṭṭhasālini (The Expositor B114/PTS 96) như sau: Khi ánh sáng mặt trời đập vào con chim đang đậu trên cành, thì đồng thời một chiếc bóng (của chim) cũng rơi xuống trên đất. Cũng vậy, khi đối tượng đập vào căn môn của nó, thì đồng thời nó cũng đập vào Ý môn.

[13] Xem bảng 6, ở dưới, và phần trích dẫn

[14] Khi quán danh (nāma kammaṭṭhāna) hành giả biết và thấy trực tiếp các pháp này (xem lại ở dưới). Tới lúc đó, hành giả nên tham khảo Vi Diệu Pháp Yếu Nghĩa để biết rõ hơn (Abhidhammattha Sagaha – Ed. Bhikkhu Bodhi).

[15] Kalāpas: thường dịch là đoàn, bọn hay nhóm. Ở đây chúng tôi dịch chữ Kalāpa theo nghĩa tổng hợp, vì nó gồm nhiều yếu tố kết hợp lại.

[16] Chi tiết đầy đủ về 28 loại sắc, xem biểu đồ 1 (The Twenty Eight Material Elements).

[17] S.V. 410 – Phần nói về các Đế “Sacca Sayutta“.

[18] Chi tiết về Niệm hơi thở, xem bải giảng số 1 “làm thế nào để tu tập Niệm Hơi Thở đạt đến An Chỉ. Mười kasia, xem bài 2.

[19] Xem trang sau.

[20] A.N. 11. 139

[21] S.V.XII.ii.I. (Dhamma-wheel Rolling Sutta)

[22] VS. XX. Vipassanupakkilesa kathā B634 (“Insight Imperfection Explanation” – Giải thích các Cấu uế của Minh sát). Ánh sáng này là kết quả của các thiện pháp (dhammas) và tự thân nó không phải là một cấu uế (tùy phiền não). Song, nếu người hành thiền chứng nghệm nó và bị dính mắc vào đấy, rồi khởi tà kiến cho rằng mình đã đạt đến Đạo – Quả, thì ánh sáng có thể là một căn bản cho cấu uế. Cũng nên xem SA.V.XII.11.I “Dhamma cakkappavattana Sutta” (Dhamma-wheel Rolling Sutta – Chuyển Pháp Luân – dưới mục “Làm thế nào Hành giả vượt qua được 10 Cấu uế của Minh Sát.” p. 271

[23] Về Bốn Phạm Trú và Bồn Thiền Bảo Hộ xem bài giảng số 3.

[24] Về thiền Tứ Đại, xem bải giảng số 4 “Làm thế nào để phân biệt sắc”

[25] Điều này đã được giải thích trong “Nāmarūpa pariggaha kathā” B669 – 671 (Mentality-Materiality Definition Explanation), nơi đây còn thêm rằng nếu một người không hoàn toàn có sự phân biệt rõ về sắc trước khi tiến hành phân biệt danh, người ấy sẽ “rơi khỏi đề mục thiền của mình như con bò núi (ngu ngốc)”… A.IX.I.iv.4 “Gāvī Upamā Suttā” (“Cow smile sutta“). Nhưng điều này chỉ nói đến danh dục giới, chứ không phải danh sắc giới (tức bậc thiền jhāna). Xem trang 200 của cùng tác phẩm trên.

[26] D.II.9.. MI.10

[27] Xem Kinh “Khandha sutta” (Kinh nói về các uẩn).

[28] Về chi tiết liên quan đến ảo tưởng về nguyên khối, xem câu trả lời số 1 bài 3 trang… “Hành giả Phân tích các Rūpa Ralāpa – Tổng hợp sắc – Như Thế Nào?”

[29] Khi hành giả phân biêt danh qua sáu căn, hành giả phân biệt tâm và các tâm sở tương ưng khởi sanh nương vào mỗi trong sáu căn ấy. (Chẳng hạn hành giả phân biệt nhãn căn – tức nhãn tịnh sắc hay tinh chất của mắt – , rồi đến nhãn thức (1) và các tâm sở tương ưng (7) sanh lên nương nơi nhãn căn). Còn khi phân biệt qua sáu môn, hành giả phân biệt các loại tâm khác nhau trong tiến trình nhận thức của mỗi môn. Chẳng hạn, tâm và các tâm sở tương ưng của nhãn môn lộ trình tâm.

[30] VS. XVIII (Nāmarūpa pariggaha kathā) B664.

[31] VS. T1. Vì mỗi căn trong năm căn chỉ có một loại tâm như vậy khởi lên, song đối với ý căn (heart base), các loại tâm khác đều khởi ở đó. Trừ phi hành giả quen với lối giải thích của Vi Diệu Pháp về các loại tâm khác nhau trong các loại tiến trình nhận thức khác nhau, bằng không điều này có thể rất dễ lẫn lộn đối với hành giả sơ cơ.

[32] Xem lại ở trên để biết thêm lời giải thích về “các cảnh pháp”.

[33] Xem lại kinh “Uṇṇābha Brahmin Sutta) SV. 217

[34] Chi tiết, xem biểu đồ 5 và 6

[35] Xem bài giảng 4 “Làm thế nào phân biệt sắc”.

[36] Chi tiết liên quan đến ảo tưởng về nguyên khối xem câu trả lời 1.3 trang…

[37] Theo ngôn ngữ thông thường thì nói “tâm có tham”. Tuy nhiên, chính xác hơn phải nói đó là một tâm (citta) mà tính chất tham của nó được quyết định bởi sở hữu tham (cetasika) phối hợp.

[38] Tâm co rút là tâm hôn trầm, thụy miên, không thích thú với đối tượng; tâm tán loạn là trạo cử, dao động, lo lắng.

[39] Đại hành là tâm thiền sắc hay vô sắc giới, không đại hành là tâm dục giới.

[40] “Hữu hạn” là tâm thuộc sắc giới. Vô thượng là tâm thuộc các thiền sắc giới và vô sắc giới. Nói chung, các loại tâm hiệp thế.

[41] Tâm định là tâm cận định hoặc tâm thiền, tâm không định là tâm không có định.

[42] Tâm giải thoát, ở giai đoạn này là nói đến một tâm đã giải thoát tạm thời do như lý tác ý hoặc do các triền cái đã bị đè nén bằng định. Không giải thoát là ngược lại.

[43] Về vấn đề định thanh tịnh tâm như thế nào, xem câu trả lời 7, 8

[44] Có hai loại hữu (bhava): 1. Nghiệp hữu (kamma bhava) là sự tạo tác nghiệp (upapatti bhava) là kết quả của nghiệp (hình thành trong bất cứ cảnh giới nào – dục, sắc và vô sắc); 2. Sanh hữu.

[45] Chẳng hạn như đức Phật cũng phải khổ vì đau lưng.

[46] S. II. 129

[47] S.III. 13

[48] Về các Pháp (dhamma) xem lại ghi chú số 2

[49] Các từ atthagama nirodha là đồng nghĩa với đoạn diệt.

[50] Dhp. A. XI 9 “Mahādhanaseṭṭhipputta vatthu” (Câu chuyện về Mahādhana, Con trai viên Thủ khố).

[51] VS.XVII “Bhavacakka kathā” B659. DII. 2.

[52] Vsm. XIX (“paccayapaggaha kathā” B679)

[53] Về sự phân biệt duyên khởi, sự diệt và danh-sắc quá khứ, vị lai, xem bài giảng số 6.

[54] Các pháp (dhammas) xem ghi chú số 2

[55] S.III.V.II.1.7

[56] Chú giải Kinh Giáo Giới Channa – Channa vada – Sutta giải thích rằng: “Cái này không phải của tôi” là suy xét về vô thường; “cái này không phải là tôi” là suy xét về khổ; “cái này không phải tự ngã của tôi” là suy xét về vô ngã.

[57] Sn. V. 15 “Mogharājamāavapucchā

[58] Muốn biết thêm tưởng không, xem ở dưới.

[59] Về tỉnh giác xem trang sau.

[60] Xem bài 7 sau.

BÀI PHÁP THOẠI 1

Làm thế nào để tu tập niệm hơi thở đạt đến An chỉ định

Lời mở đầu

Tôi cảm thấy rất vui khi được đến Taiwan (Đài Loan) theo lời mời của quí sư và tu nữ đã hành thiền tại Thiền viện Pa-Auk[1], gần Mawlamyine, Miến Điện. Trong thời gian lưu lại đây tôi muốn chia sẻ với quí vị một điều gì đó về hệ thống thiền đã đựơc giảng dạy tại thiền đường Pa-Auk. Hệ thống thiền này được dựa trên những chỉ dẫn mà chúng ta có thể tìm thấy trong Kinh Phật bằng tiếng Pàli và trong bộ Luận Visuddhi-magga[2] (Thanh Tịnh Đạo). Chúng tôi tin chắc rằng thiền dạy trong Kinh Phật bằng tiếng i hoàn toàn không có gì khác với thiền mà chính đức Phật đã hành, và dạy lại cho các hàng đệ tử của mình trong cuộc đời của Ngài.

Tại sao phải Thiền?

Trứơc hết chúng ta nên tự hỏi “Tại sao đức Phật lại dạy Thiền?” hay “Mục đích của thiền là gì?”

Mục đích của Thiền Phật giáo là nhằm đạt đến Niết-bàn. Niết-bàn là sự diệt của danh (nāma), và sắc (rūpa). Do đó, muốn đạt đến Níp-bàn chúng ta phải tận diệt cả những tâm hành thiện, bắt nguồn từ vô tham, vô sân và vô si lẫn những tâm hành bất thiện, bén rễ trong tham, sân và si, vì tất cả những thứ đó đều dẫn đến sanh, già, bệnh, chết mới. Nếu chúng ta hủy diệt chúng hoàn toàn bằng Thánh đạo (ariyamagga), chúng ta sẽ chứng đắc Niết-bàn. Nói cách khác, Niết-bàn là sự tự do và giải thoát khỏi nỗi khổ của vòng luân hồi (sasāra), và là sự diệt của tái sanh, của già, đau, bệnh và chết. Mọi người chúng ta đều phải chịu cái khổ của sanh, lão, bệnh, tử này, và vì vậy để tự giải thoát mình ra khỏi những hình thức của khổ đau chúng ta cần phải hành thiền. Tựu chung lại, vì chúng ta ước nguyện muốn thoát khỏi mọi khổ đau, nên chúng ta phải học cách hành thiền như thế nào để đạt đến Niết-bàn vậy.

Thiền là gì?

Như vậy, Thiền là gì? Thiền gồm có Thiền Chỉ (samadha) và Thiền Quán (vipassanā), cả hai đều phải được dựa trên giới hạnh của thân và khẩu. Nói khác hơn, Thiền là sự phát triển và hoàn thiện của Bát Thánh Đạo (ariya aṭṭhagika magga). Bát Thánh Đạo gồm:

1. Chánh kiến – (Sammādiṭṭhi)
2. Chánh tư duy – (Sammā sakappa)
3. Chánh ngữ – (Sammā vācā)
4. Chánh nghiệp – (Sāmmā kammantā)
5. Chánh mạng – (Sammā ājīva)
6. Chánh tinh tấn – (Sammā vāyāma)
7. Chánh niệm – (Sammā sati)
8. Chánh định – (Sammā samādhi)

Chánh Kiến đức Phật gọi là Chánh Kiến Thiền Tuệ (Vipassanā sammādiṭṭhi) và Chánh Kiến Thánh Đạo (magga sammā diṭṭhi). Chánh Kiến và Chánh Tư Duy gộp lại gọi là Tuệ học (paññā).

Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng gộp lại gọi là Giới học (sīla).

Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định gộp lại gọi là Định học (sāmadhi), tức tu tập Thiền Chỉ (samatha bhāvanā).

Bát Thánh Đạo

Bây giờ, chúng ta hãy nhìn sâu một chút nữa vào từng chi phần của Bát Thánh Đạo này.

Chi thứ nhất là Chánh Kiến. Thế nào là Chánh Kiến? Chánh Kiến gồm bốn loại trí;

1. Minh sát trí về Khổ Thánh Đế, ở đây là năm thủ uẩn.
2. Minh sát trí về Khổ Tập Thánh Đế, tức phân biệt các nhân sanh ra năm thủ uẩn; nói khác hơn, đó là minh sát trí về duyên khởi tánh.
3. Sự chứng ngộ và trí biết về Khổ diệt, tức Niết-bàn, hay sự diệt của năm thủ uẩn.
4. Trí biết về Đạo Thánh Đế đưa Đến sự Diệt Khổ, tức con đường thực hành dẫn đến sự chứng ngộ Niết-bàn, ở đây là Bát Thánh Đạo.

Chi thứ hai của Bát Thánh Đạo là Chánh Tư Duy (sammā sakappa). Chánh Tư Duy cũng có bốn loại:

1. Tầm đến đối tượng của Khổ Thánh Đế, tức năm thủ uẩn (Applied though = tầm, đồng nghĩa với tư duy).
2. Tầm đến đối tượng của Khổ Tập Thánh Đế, tức tầm các nhân sanh ra năm thủ uẩn.
3. Tầm đến đối tượng của Khổ Diệt Thánh Đế, tức Niết-bàn.
4. Tầm đến đối tượng của Khổ Diệt Đạo Thánh Đế – Con đường đưa đến sự Diệt Khổ tức Bát Thánh Đạo.

Như vậy, Chánh Tư Duy dán tâm vào đối tượng của Khổ Đế, tức năm thủ uẩn, còn Chánh Kiến tuệ tri năm thủ uẩn ấy như nó thực sự là. Hai chi phần này hợp tác với nhau để dán tâm vào mỗi Đế trong Tứ Thánh Đế, và Tuệ tri chúng. Vì lẽ chúng làm việc với nhau theo cách này, nên được gọi là Tuệ học (paññāsikkhā).

Chi phần thứ ba của Bát Thánh Đạo là Chánh Ngữ (sammāvācā). Chánh Ngữ là tránh nói dối, nói chia rẽ, nói lời thô ác, và nói chuyện vô ích.

Chi phần thứ tư của Bát Thánh Đạo là Chánh Nghiệp (sammā kammantā). Chánh Nghiệp là tránh sát sanh, trộm cắp và tà dâm.

Chi phần thứ năm của Bát Thánh Đạo là Chánh Mạng (sammā ājīva). Chánh Mạng là tránh nuôi sống bằng tà ngữ hay tà nghiệp, chẳng hạn như sát sanh, trộm cắp, hoặc nói láo. Đối với người tại gia, Chánh Mạng là tránh năm loại nghề bất chính: buôn bán khí giới, buôn bán người, buôn bán súc vật để giết thịt, buôn bán các chất say (rượu), buôn bán độc dược.

Ba chi phần Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng được gọi là Giới học (sīla sikkhā).

Chi phần thứ sáu của Bát Thánh Đạo là Chánh Tinh Tấn (sammā vāyāma). Chánh Tinh Tấn cũng có bốn loại:

1. Tinh tấn ngăn ngừa sự khởi sanh của những tâm bất thiện chưa sanh.
2. Tinh tấn đoạn trừ những tâm bất thiện đã sanh.
3. Tinh tấn khơi dậy những tâm thiện chưa sanh.
4. Tinh tấn tăng cường những tâm thiện đã sanh.

Để tu tập được bốn loại Chánh Tinh Tấn này, chúng ta phải thực hành và tu tập tam học giới, định, tuệ.

Chi phần thứ bảy của Bát Thánh Đạo là Chánh Niệm (sammā sati). Chánh niệm cũng có bốn loại:

1. Niệm thân
2. Niệm thọ
3. Niệm tâm
4. Niệm pháp (dhammas)

Ở đây, Pháp (dhamma) là năm mươi mốt tâm sở trừ thọ, hoặc năm thủ uẩn, hoặc muời hai nội, ngoại xứ (6 căn + 6 trần), hoặc mười tám giới, hoặc thất giác chi, hoặc Tứ Thánh Đế v.v… Nhưng thực sự, bốn loại niệm này có thể rút lại chỉ còn hai, là niệm sắc và niệm danh.

Chi phần thứ tám của Bát Thánh đạo là Chánh Định (sammā samādhi). Chánh Định là sơ thiền (jhàna), nhị thiền, tam thiền và tứ thiền. Bốn thiền này được gọi là Chánh Định theo Kinh Đại Niệm Xứ (Mahā satipaṭṭhāna sutta)[3]. Trong Thanh Tịnh Đạo (VisuddhiMagga), Chánh Định được giải thích thêm là bốn thiền tế sắc (rūpa jhāna), bốn thiền vô sắc (arūpa jhāna) và cận định (upacārā samadhi).

Trong đời này, một số người đã tích lũy nhiều công đức ba-la-mật (pāramī), và có thể đắc Niết-bàn do nghe một thời pháp được giảng tóm tắt hay chi tiết. Tuy nhiên, phần đông mọi người không có được các ba-la-mật như vậy, nên phải thực hành Bát Thánh Đạo theo tuần tự. Những người này được gọi là người “Ứng Dẫn” (neyya puggala), tức cần phải được dẫn dắt, và phải tu tập Bát Thánh Đạo từng bước một theo trình tự giới, định và tuệ. Sau khi thanh tịnh giới xong, họ phải tu tập định, và sau khi thanh tịnh tâm nhờ hành thiền định xong, họ phải tu tập tuệ.

Hành giả tu tập Định như thế nào?

Hành giả phải tu tập định như thế nào?

Có bốn mươi đề mục Thiền Chỉ (samatha), và mỗi người có thể tu tập bất cứ một trong 40 đề mục này để đắc định.

Đối với những người không thể quyết định được đề mục nào nên chọn để tu tập, nên khởi đầu với đề mục niệm hơi thở (ānāpānasati). Phần lớn mọi người đều thành công trong thiền nhờ dùng hoặc đề mục niệm hơi thở, hoặc phân tích tứ đại. Do đó, bây giờ chúng ta sẽ nhìn một cách khái quát vào vấn đề làm thế nào để hành niệm hơi thở.

Tu tập Niệm Hơi Thở như thế nào?

Tu tập Niệm hơi thở đã được đức Phật dạy trong Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna)[4] như sau:

“Này các Tỳ khưu, trong giáo pháp này, vị Tỳ khưu sau khi đã đi vào khu rừng, hoặc đến một gốc cây, hay căn nhà trống, ngồi kiết già, giữ lưng thật thẳng và thiết lập niệm trên đối tượng thiền (đặt niệm vào đề mục). Chánh niệm vị ấy thở vào, chánh niệm vị ấy thở ra.

1. Thở vào một hởi thở dài, vị ấy biết “Ta đang thở vào một hơi thở dài”; hoặc thở ra một hơi thở dài, vị ấy biết “Ta đang thở ra một hơi thở dài.”

2. Thở vào một hơi thở ngắn, vị ấy biết “Ta đang thở vào một hơi thở ngắn”, hoặc thở ra một hơi thở ngắn, vị ấy biết “Ta đang thở ra một hơi thở ngắn”.

3. “Cảm giác toàn thân hơi thở, ta sẽ thở vào”, vị ấy tập như vậy; và “cảm giác toàn thân hơi thở ta sẽ thở ra”, vị ấy tập như vậy.

4. “An tịnh thân hơi thở, ta sẽ thở vào”, vị ấy tập như vậy, và “an tịnh thân hơi thở, ta sẽ thở ra”, vị ấy tập như vậy.

Bắt đầu hành thiền, ngồi trong một tư thế thoải mái và cố gắng ý thức rõ hơi thở khi nó đi vào và đi ra khỏi thân qua lỗ mũi. Hành giả có thể cảm nhận được hơi thở này ở ngay dưới mũi hoặc một chỗ nào đó quanh lỗ mũi. Không nên theo dõi hơi thở đi vào trong thân hoặc đi ra khỏi thân, vì làm vậy hành giả sẽ không thể hoàn thiện đựơc định của mình. Chỉ cần ý thức rõ về hơi thở ở chỗ nó chạm vào hay tiếp xúc dễ nhận ra nhất, hoặc ở môi trên hoặc quanh lỗ mũi. Như vậy hành giả mới có thể tu tập và hoàn thiện được định của mình.

Không nên chú ý đến những đặc tính riêng (sabhāva lakkhana) đặc tính chung (sammañña lakkhana) hoặc màu sắc của nimitta (tướng của định – sign of concentration). Các đặc tính riêng là những đặc tính của tứ đại trong hơi thở như cứng, thô, lưu chuyển, nhiệt, hỗ trợ, đẩy v.v… Các đặc tính chung là vô thường, khổ và vô ngã của hơi thở. Điều này có nghĩa là hành giả không nên ghi nhận “vô-ra – vô thường”, hoặc “vô-ra – khổ”, hoặc “vô-ra – vô ngã”, mà chỉ cần ý thức hay biết rõ hơi thở vô-ra như một khái niệm

Khái niệm về hơi thở là đối tượng của thiền niệm hơi thở (ānāpānasati). Chính đối tượng này là cái hành phải tập trung vào để phát triển định. Khi hành giả tập trung vào khái niệm hơi thở theo cách này, và nếu hành giả đã từng hành thiền hơi thở trong kiếp trước cũng như đã phát triển được một số ba-la-mật (pāramī), hành giả sẽ dễ dàng tập trung vào hơi thở vô – ra hơn.

Bằng không, Visuddhi-magga khuyên nên đếm hơi thở. Hành giả nên đếm sau cuối của mỗi hơi thở như:”vô-ra Một, vô-ra Hai” v.v..

Đếm ít nhất cũng phải tới năm, nhưng không quá mười. Ở đây chúng tôi khuyên nên đếm đến tám thôi, vì con số đó nhắc hành giả nhớ tới Bát Thánh Đạo là con đường hành giả đang cố gắng tu tập. Vì thế, nếu thích, hành giả nên đếm đến bất kỳ số nào giữa năm và mười, đồng thời quyết định rằng trong thời gian ấy hành giả sẽ không để cho tâm trôi lang thang, hoặc đi đến một nơi khác, mà chỉ có ý thức về hơi thở một cách lặng lẽ mà thôi. Khi đếm như vậy, hành giả thấy rằng mình có thể tập trung tâm lại và làm cho nó ý thức lặng lẽ duy nhất về hơi thở thôi.

Sau khi đã tập trung tâm như vậy trong ít nhất nửa giờ, hành giả nên tiếp tục chuyển sang giai đoạn thứ nhất và thứ hai của thiền:

(1) Thở vào một hơi dài, vị ấy biết “Ta đang thở vào một hơi dài”; hoặc thở ra một hơi dài, vị ấy biết “Ta đang thở ra một hơi dài”.

(2) Thở vào một hơi ngắn, vị ấy biết “Ta đang thở vào một hơi ngắn”; hoặc thở ra một hơi ngắn, vị ấy biết “Ta đang thở ra một hơi ngắn”.

Ở giai đoạn này, hành giả phải tu tập ý thức tỉnh giác về hơi thở vô-ra hoặc là dài hay ngắn. “Dài”, “ngắn” ở đây không nói đến chiều dài thước tấc, mà muốn nói chiều dài thời gian, tức một khoảng thời gian. Hành giả phải tự mình xác định thời gian dài bao lâu thì gọi là “dài”, và thời gian bao lâu thì gọi là “ngắn”. Hãy ý thức rõ thời gian của mỗi hơi thở vô-ra. Hành giả sẽ để ý thấy rằng hơi thở có lúc dài, có lúc ngắn. Ở giai đoạn này, tất cả những gì hành giả phải làm chỉ là biết rõ như vậy. Không nên ghi nhận “vô-ra dài, vô-ra ngắn”, chỉ “vô-ra” và ý thức rõ những hơi thở ấy hoặc dài hoặc ngắn vậy thôi. Hành giả nên biết điều này bằng cách chỉ ý thức rõ độ dài thời gian mà hơi thở chạm vào và tiếp xúc môi trên, hoặc quanh lỗ mũi, khi nó đi vào và đi ra khỏi thân. Đôi khi hơi thở có thể dài suốt thời ngồi thiền, hoặc có khi ngắn, nhưng quan trọng là không nên cố gắng làm cho nó dài hoặc ngắn có chủ tâm.

Ở giai đoạn này nimitta (tướng của định) có thể xuất hiện, nhưng nếu hành giả có thể thực hành như vậy một cách lặng lẽ trong khoảng một hay hai giờ mà “nimitta” không xuất hiện, hành giả nên chuyển sang giai đoạn ba:

(3) “Cảm giác toàn thân hơi thở, ta sẽ thở vào, vị ấy tập như vậy, và “cảm giác toàn thân hơi thở, ta sẽ thở ra”, vị ấy tập như vậy.

Ở đây đức Phật đang hướng dẫn hành giả tập ý thức trọn vẹn hơi thở từ đầu đến cuối. Khi hành theo cách này tướng (nimitta) có thể xuất hiện. Nếu tướng xuất hiện, không nên chuyển tâm sang tướng liền, mà phải trú với hơi thở.

Nếu hành giả lặng lẽ ý thức về hơi thở từ đầu cho đến cuối trong khoảng một giờ, mà tướng không xuất hiện, nên chuyển sang giai đoạn bốn.

(4) “An tịnh thân hơi thở ta sẽ thở vào”, vị ấy tập như vậy và “An tịnh thân hơi thở, ta sẽ thở ra”, vị ấy tập như vậy.

Muốn làm được điều này, hành giả phải quyết định làm cho hơi thở an tịnh, và duy trì sự tỉnh giác hay ý thức liện tục về hơi thở từ đầu đến cuối.. Hành giả không nên làm điều gì khác, nếu không định của hành giả sẽ gián đoạn và mất đi.

Thanh Tịnh Đạo nêu ra bốn yếu tố làm cho hơi thở an tịnh:

1. Quan tâm (ābhoga),
2. Phản ứng (samannā āhāra),
3. Tác ý (manasikāra),
4. Phản khán (paccavekkhaa),

và giải thích với một ví dụ:

“Giả sử một người đứng yên lại sau khi chạy hoặc đứng yên lại sau khi từ trên đồi đi xuống, hoặc đặt một vật nặng đội trên đầu xuống; lúc ấy hơi thở vô và hơi thở ra của người ấy rất thô, mũi anh ta không đủ (để thở), do đó anh ta phải tiếp tục thở vô và ra bằng miệng. Nhưng khi anh ta đã làm cho hết mệt, đã tắm rửa, uống nước và đắp một miếng vải ướt lên ngực, rồi nằm xuống trong bóng mát, lúc đó hơi thở vô và hơi thở ra của anh ta cuối cùng xuất hiện vi tế đến nỗi anh ta phải kiểm tra xem mình có hơi thở hay không.”

Cũng vậy, Thanh Tịnh Đạo nói tiếp, hơi thở vô ra của hành giả lúc đầu là thô, càng lúc càng trở nên vi tế, sau đó hành giả phải kiểm tra xem chúng có hay không.

Để giải thích thêm lý do tại sao hành giả cần phải kiểm tra các hơi thở vô-ra, Thanh Tịnh Đạo nói:

“Vì trước đó, lúc hành giả chưa phân biệt (hơi thở vô-ra) thì không có sự quan tâm nơi hành giả, không có phản ứng, không có tác ý, không có phản khán, với ý nghĩa rằng (vị ấy biết) “Ta đang tịnh hóa dần dần các thân hành thô (hơi thở vô và ra)”. Nhưng một khi vị ấy đã phân biệt (hơi thở vô-ra) thì có (sự quan tâm). Vì vậy mà vào lúc vị ấy đã phân biệt thì thân hành (hơi thở vô-ra) của vị ấy là vi tế so với thân hành lúc không (phân biệt).

1. Quan tâm (abhoga): Sự chú ý đầu tiên đến hơi thở, hiểu rõ hơi thở, hướng tâm đến hơi thở, với ý nghĩa “Ta sẽ cố gắng làm cho hơi thở an tịnh”.

2. Phản ứng (samannāhārā): Hành giả tiếp tục làm như vậy, tức là hành giả chú tâm chặt chẽ vào hơi thở theo cách đó, lập đi lập lại nhiều lần, duy trì hơi thở trong tâm, với nghĩa “Ta sẽ cố gắng làm cho hơi thở an tịnh”.

3. Tác ý (mānāsikāra): Nghĩa đen “quyết định làm cho hơi thở an tịnh”. Tác ý ở đây là tâm sở làm cho tâm hướng về đối tượng. Tác ý làm cho tâm ý thức và biết rõ về hơi thở.

4. Phản khán (paccavekkhaa): hành giả duyệt xét lại (vīmasa)[5] hơi thở, làm cho nó rõ rệt trong tâm, với nghĩa “Ta sẽ cố gắng làm cho hơi thở an tịnh”.

Vì vậy, tất cả những gì hành giả cần phải làm ở giai đoạn này là quyết định làm cho an tịnh hơi thở, và có sư tỉnh giác liên tục đối với nó. Theo cách đó, hành giả sẽ thấy hơi thở trở nên an tịnh hơn, và tướng (nimitta) có thể xuất hiệh.

Ngay trước khi nimitta xuất hiện, đa số hành giả gặp phải những khó khăn. Hầu hết họ thấy rằng hơi thở trở nên rất vi tế và không rõ rệt, rồi có thể nghĩ hơi thở đã dừng lại. Nếu điều này xảy ra, hành giả phải duy trì sự tỉnh giác hay cái biết của mình chỗ mà hành giả ghi nhận được hơi thở lần cuối cùng, và chờ nó ở đó.

Chỉ có bảy loại người không có hơi thở là: người chết, thai nhi trong bào thai, người đang chìm dưới nước, người bất tỉnh, người đang nhập tứ thiền, người đang nhập thiền diệt (nirodha samāpatti) [6] và một vị Phạm thiên. Suy theo đó thì hành giả không phải là một trong bảy loại người này, mà hành giả thực sự đang thở, chỉ vì niệm của hành giả không đủ mạnh để ý thức rõ nó mà thôi.

Khi hơi thở vi tế, hành giả không nên làm cho nó hiển hiện rõ hơn, vì sự cố gắng như vậy sẽ tạo ra trạo cử, và định tâm của hành giả không phát triển. Chỉ cần ý thức rõ hơi thở như nó thực sự là, nếu nó không rõ, chỉ việc chờ ở nơi lần cuối cùng hành giả ghi nhận được nó. hành giả sẽ thấy rằng, khi áp dụng niệm và tuệ theo cách này, hơi thở sẽ tái hiện trở lại

Nimitta (Tướng hay Ấn chứng)

Nimitta hay tướng của niệm hơi thở khác nhau tùy theo mỗi người. Đối với một số ít người, nimitta trong sạch và tinh tế như bông gòn, hoặc sợ bông được kéo dài ra, hay như gió chuyển động hoặc gió lùa, cũng có thể là một thứ ánh sáng rực rỡ như sao Mai, một viên hồng ngọc chiếu sáng, hoặc một viên ngọc trai chiếu sáng. Đối với những người khác thì nó lại giống như thân cây bông, hoặc một cọc gỗ nhọn. Đối với những người khác nữa, nó giống như một sợi dây hay sợi chỉ dài, một vòng hoa, một luồng khói, một mạng nhện, một màn sương mù, một đoá sen, một bánh xe, mặt trăng hay mặt trời v.v…

Trong hầu hết các trường hợp, một nimitta thuần trắng như bông gòn là “học tướng” (uggaha nimitta) và thường không được rõ hay chỉ mờ mờ. Khi nimitta trở nên sáng chói giống như sao mai, rực rỡ và rõ ràng đó là tợ tướng (paibhāga nimitta). Cũng vậy, khi nimitta giống như viên hồng ngọc hay viên ngọc mờ mờ thì là học tướng (uggaha nimitta), còn khi chói sáng và lấp lánh là tợ tướng. Đối với các hình ảnh khác cũng cần phải hiểu theo cách này.

Vì thế, mặc dù niệm hơi thở (ānāpānasati) là một đề tài thiền độc nhất, nó vẫn tạo ra các loại tướng khác nhau, tức là nimitta xuất hiện hoàn toàn khác đối với mỗi người thực hành.

Thanh Tịnh Đạo giải thích rằng sở dĩ có điều này là vì tướng (nimitta) đựơc tạo ra bởi tưởng[7]. Và chú giải của bộ Thanh Tịnh Đạo giải thích rằng đó chính là các tưởng sai biệt mà những hành giả khác nhau này đã có trước khi nimitta khởi lên[8].

Như vậy, các tướng khác nhau là do tưởng. Nhưng tưởng thì lại không khởi lên một mình. Nó là một tâm hành (mental formation) luôn luôn khởi lên cùng với tâm và các tâm hành khác; các tâm hành kết hợp với tâm này được gọi là các tâm sở (cetasika). Vì thế, nếu một hành giả tập trung vào tướng hơi thở (ānāpāna nimitta) với tâm hân hoan chẳng hạn, các tâm sở không chỉ có một mình tưởng, mà có tất cả ba mươi bốn, như xúc, tư, nhất tâm, tác ý, tầm, tứ, thắng giải, tinh tấn, và dục; không chỉ tưởng khác, mà các tâmsở khác cũng khác nữa.

Thực vậy, điều này đã được giải thích trong Thanh Tịnh Đạo, phần nói về phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền (neva saññā nasaññāyatana jhāna), thiền vô sắc thứ tư[9].

Trong phần này, Thanh Tịnh Đạo giải thích rằng “tưởng” trong thiền đó rất vi tế, đó là lý do tại sao chúng ta gọi nó là thiền chứng phi tưởng, phi phi tưởng. Tuy nhiên không chỉ có tưởng ấy là vi tế. Các thọ, tâm, xúc và tất cả tâm hành khác cũng rất vi tế. Như vậy, Thanh Tịnh Đạo tiếp, trong thiền chứng phi tưởng phi phi tưởng cũng có phi thọ phi phi thọ, phi tâm phi phi tâm, phi xúc phi phi xúc v.v…[10]

Vì vậy, khi các bản chú giải nói các tướng là khác nhau do tưởng, các bộ Luận ấy chỉ giải thích tướng hơi thở (ānāpānanimitta) trên quan điểm độc nhất về tưởng hay dưới dạng tưởng (saññāsīsa), và dùng tưởng như ví dụ của luận mà thôi.

Song, dù hình dáng hay mầu sắc của tướng (nimitta) của hành giả là thế nào, dù cho tưởng của hành giả về hơi thở vô-ra là thế nào, điều quan trọng là không nên đùa với tướng của mình. Không nên để cho tướng mất đi, cũng không cố ý thay đổi hình dạng và sự xuất hiện của nó. Nếu không, định của hành giả sẽ không phát triển thêm được nữa, và sự tiến bộ của hành giả cũng sẽ dừng lại. Tướng của hành giả có thể sẽ biến mất. Do đó, khi tướng của hành giả lần đầu tiên xuất hiện, không được chuyển tâm (của hành giả) từ hơi thở sang tướng. Nếu làm vậy, hành giả sẽ thấy nó biến mất.

Khi hành giả thấy rằng tướng đã ổn định, và tâm của hành giả tự nó gắn chặt được vào đó, lúc ấy hãy để tâm ở đó. Nếu hành giả ép tâm mình rời khỏi tướng, có thể hành giả sẽ mất định. Nếu tướng xuất hiện ở xa phía trước hành giả, hãy phớt lờ nó, vì tướng ấy có thể sẽ biến mất. Nếu hành giả phớt lờ nó, và chỉ tập trung vào hơi thở chỗ nó tiếp chạm (môi trên, hay quanh lỗ mũi), tướng sẽ đến và trú ở đó.

Trường hợp tướng của hành giả xuất hiện tại chỗ hơi thở tiếp chạm, là ổn định, và xuất hiện như chính nó là hơi thở, và hơi thở như là tướng, lúc ấy hãy quên đi hơi thở, và chỉ ý thức rõ tướng ấy. Nhớ chuyển tâm từ hơi thở sang tướng, hành giả có thể sẽ đạt đựơc tiến bộ thêm. Khi hành giả duy trì tâm trên tướng, tướng sẽ trở nên càng lúc càng trắng hơn, và khi nó trắng giống như bông gòn, thì đó là học tướng (uggaha nimitta).

Hành giả nên quyết định giữ cho tâm an định trên học tướng trắng ấy trong một, hai, ba giờ, hoặc hơn nữa. Nếu hành giả có thể giữ tâm gắn chặt trên học tướng trong một hoặc hai giờ, học tướng ấy sẽ trở nên rõ rệt, trong sáng và rực rỡ hơn. Đây là tợ tướng (ibhāga nimitta). Cũng như trước, hành giả quyết định giữ cho tâm dán trên tợ tướng trong một, hai, hoặc ba giờ. Thực hành cho đến khi thành công.

Ở giai đoạn này hành giả sẽ đạt đến hoặc là cận định (upacāra) hoặc là an chỉ (appanā) định. Sở dĩ gọi là cận định vì nó gần với và đi trước bậc thiền (jhāna). An chỉ định là bậc thiền.

Cả hai loại định này đều có cùng đối tượng là tợ tướng. Khác nhau duy nhất giữa chúng là trong cận định các thiền chi chưa được phát triển đầy đủ. Vì lý do này các tâm hữu phần (bhāvaga) vẫn khởi lên, và hành giả có thể rơi trở lại hữu phần hay dòng tâm duy trì kiếp sống này (bhavaga = life continuum consciousness). Khi rơi vào hữu phần, có thể hành giả sẽ cho rằng mọi thứ đều dừng lại, thậm chí còn nghĩ đó là Niết-bàn. Trong thực tế tâm không dừng lại, mà chỉ do hành giả không đủ thiện xảo để phân biệt điều này, vì tâm hữu phần rất là vi tế.

Quân bình ngũ căn

Để tránh rơi vào hữu phần và để phát triển thêm, hành giả cần đến sức trợ lực của ngũ căn (pañcindriyā) nhằm nhấn tâm vào và quấn chặt nó trên tợ tướng. Ngũ căn gồm: 1. Tín (saddhā); 2. Tấn (vīriya); 3. Niệm (sati); 4. Định (samādhi); 5. Tuệ (pañña)

Ngũ căn là năm sức mạnh kiểm soát tâm, giữ cho nó khỏi lang thang ra ngoài con đường Thiền Chỉ (samatha) và thiền quán (vipassanā) đưa đến Niết-bàn. Nếu một hay nhiều trong số các căn này trở nên thái quá, tâmsẽ mất quân bình.

Căn đầu tiên là Tín (saddhā) hay tin vào những gì nên tin, như tin tam bảo, hoặc tin nghiệp và quả của nghiệp. Điều quan trọng là phải có niềm tin nơi sự giác ngộ của đức Phật, vì không có nó, hành giả sẽ thối chuyển và rút lui khỏi công việc hành thiền của mình. Quan trọng không kém là phải có niềm tin nơi Giáo pháp hay là lời dạy của đức Phật, đó là tin nơi bốn đạo, bốn quả và Niết-bàn v.v.. Lời dạy của đức Phật chỉ cho chúng ta con đường hành thiền, vì vậy ở giai đoạn này có niềm tin trọn vẹn vào đó thực là quan trọng.

Giả sử như một người hành thiền nghĩ “Liệu có thể thực sự đắc thiền chỉ bằng việc theo dõi hơi thở vô, hơi thở ra không? Có thực rằng học tướng (uggaha nimitta) giống như bông gòn trắng, còn tợ tướng (paibhaga nimitta) giống như nước đá hay thủy tinh trong suốt hay không?” Nếu những ý nghĩ như vậy tồn tại, chúng sẽ đưa đến những quan kiến như là “Thời buổi hiện đại này đễ gì mà đắc thiền (jhāna) được?” Và thế là niềm tin của hành giả nơi giáo pháp sẽ thối thất, và tất nhiên sẽ không thể ngăn được việc từ bỏ tu tập thiền chỉ này.

Vì vậy một người đang tu tập định với đề mục chủ niệm hơi thở (ānāpānasati) chẳng hạn, cần phải có niềm tin vững chắc. Hành giả phải tu tập niệm hơi thở không chút hoài nghi. Phải nghĩ rằng “Nếu ta theo đúng những chỉ dẫn có hệ thống của đức Phật Toàn Giác, ta có thể thành tựu Thiền.”

Tuy nhiên, nếu một người để cho niềm tin của mình trở thành thái quá, ở đây muốn nói đến niềm tin nơi tợ tướng phát sanh trong lúc thiền, thì định của người ấy sẽ suy giảm. Tín thái quá hàm chứa hỷ thái quá (pīti), hỷ này dẫn đến những xúc động. Như vậy có nghĩa là tâm hành giả đã bị quấy động bởi sự kích thích của hỷ, và trí tuệ sẽ không thể tuệ tri được tợ tướng. Như vậy, do tín thái quá đã quyết định trên đối tượng, trí tuệ sẽ không đuợc rõ rệt và vững chắc, và các căn còn lại như tấn, niệm, định cũng yếu đi: tấn không thể nâng các tâm hành đồng sanh lên tợ tướng, niệm không thể thiết lập được sự nhận biết của nó về đối tượng (tợ tướng); định không thể ngăn tâm đi đến một đối tượng khác; và tuệ không thể thấy sâu vào tợ tướng. Do đó tín thái quá thực sự lại dẫn đến sự suy thối của niềm tin.

Nếu tấn mạnh, các căn còn lại cũng sẽ không thể làm tốt các phận sự của nó. Như tín: quyết định, niệm: an trú, định: ngăn sự phân tán, và tuệ: phát triển sự phân biệt sâu xa. Như vậy tấn thái quá khiến tâm không an định trên tợ tướng.

Điều này có thể được minh họa bằng câu chuyện của Trưởng lão Soa sau đây: Trong kinh thành Vương Xá (Rājagaha), ngài nghe bậc Đạo Sư thuyết pháp và phát sanh đức tin. Ngài xin phép cha mẹ xuất gia và thọ đại giới. Đức Phật dạy cho ngài một đề tài thiền, rồi ngài đi đến tu viện Sìtavana. Tại đây ngài thực hành rất chuyên cần. Do lúc nào cũng tinh tấn đi kinh hành, nên đôi chân của ngài bị thương tổn. Dù vậy, ngài cũng không hệ đặt lưng ngủ nghỉ, vàkhi không còn có thể đi được, ngài bò bằng hai tay và hai đầu gối. Nỗ lực tinh tấn quá mức này đã làm cho con đường kinh hành của ngài loang lỗ vết máu. Mặc dù như thế ngài vẫn chẳng đắc một quả chứng nào mà lòng còn đầy tuyệt vọng.

Lúc bấy giờ đức Phật trên đỉnh Gijjhakūta (đỉnh núi Kên Kên) biết được nỗi tuyệt vọng của Son.a và đi đến thăm. Đức Phật nhắc cho ngài nhớ rằng khi còn là người tại gia cư sĩ ngài đã từng chơi đàn cầm (ā), và phải chăng cây đàn sẽ không phát ra âm thanh và có thể chơi được nếu dây đàn ấy lên quá căng hoặc quá chùng không, tất cả những sợi dây đàn cần phải được điều chỉnh cho thật đều. Việc hành thiền cũng như vậy, đức Phật giải thích, tinh tấn hay nỗ lực quá mức dẫn đến trạo cử, và tinh tấn quá yếu sẽ dẫn đến lười biếng. Từ bài học này, trưởng lão đã rút ra kinh nghiệm. Chẳng bao lâu, sau khi suy xét đến bài học, ngài trở thành một bậc A-la-hán.

Việc quân bình tín với tuệ, và định với tấn được bậc trí ca ngợi. Chẳng hạn, nếu tín mạnh và tuệ yếu, một người sẽ nhắm mắt tin vào và kính trọng những đối tượng được xem là vô ích và vô căn cứ, họ nhắm mắt tin kính những đối tượng mà ngoại đạo (những tôn giáo ngoài Phật giáo), tôn kính như thần linh hoặc chư thiên bảo hộ.

Ngựơc lại, nếu tuệ mạnh và tín yếu, một người có thể trở thành xả trá hay ngụy biện. Không hành thiền, họ phí thời giờ của mình và những việc phán đoán. Bệnh này cũng khó chữa như chữa một căn bệnh do uống thuốc quá liều gây ra vậy.

Tuy nhiên, nếu tín và tuệ được quân bình, người ấy sẽ đặt niềm tin nơi Tam bảo, nơi nghiệp và quả của nghiệp. Người ấy tin rằng nếu họ hành thiền đúng theo những chỉ dẫn của đức Phật họ có thể sẽ thấy tợ tướng (patibhāga nimitta) và đắc thiền (jhāna).

Lại nữa, nếu định mạnh và tấn yếu, một người có thể trở nên lười biếng. Chẳng hạn, khi định của hành giả nâng cao, nếu tác ý đến tợ tướng hơi thở với một cái tâm lơi lỏng, không đi sâu vào đó, hành giả có thể trở nên giải đãi. Trong trường hợp như vậy các thiền chi không đủ mạnh để duy trì mức độ định cao hơn, điều này có nghĩa tâm hành giả sẽ thường xuyên rơi trở lại hữu phần (bhavaga).

Nhưng nếu tấn mạnh, và định yếu tâm hành giả có thể trở nên dao động. Tuy nhiên, khi định và tấn đựơc quân bình, hành giả sẽ không rơi vào lười biếng cũng không bị dao động, và có thể đắc thiền.

Tóm lại khi một người muốn tu tập một đề mục thiền chỉ, trong bất kỳ trường hợp nào, có đức tin mạnh là rất tốt. Nếu người ấy nghĩ “chắc chắn ta sẽ đắc thiền, nếu ta phát triển định tâm trên tợ tướng”, lúc đó nhờ năng lực của tín và nhờ tập trung trên tợ tướng, hành giả dứt khoát sẽ thành tựu thiền. Điều này là do thiền (jhāna) chủ yếu dựa trên định.

Còn đối với một người tu tập vipassanà (minh sát), tuệ mạnh là điều rất tốt, bởi vì khi tuệ căn mạnh hành giả có thể sẽ biết và thấy ba đặc tánh vô thường, khổ và vô ngã một cách thấu suốt.

Chỉ khi định và tuệ quân bình, các thiền hiệp thế mới có thể phát sanh. Đức Phật dạy rằng điều này cũng áp dụng cho các thiền siêu thế (lokuttara jhāna) vốn đòi hỏi thêm là định và tuệ ấy phải được quân bình với tấn và tín.

Riêng niệm là cần thiết cho mọi trường hợp, bởi vì niệm bảo vệ tâm khỏi dao động do tín, tấn hoặc tuệ thái quá, và (bảo vệ tâm) khỏi lười biếng do định thái quá. Niệm quân bình tín với tuệ, định với tấn, và định với tuệ.

Do đó, niệm luôn luôn cần thiết như muối cần cho các món canh, và như Tể Tướng đối với các công việc của đức Vua. Chính vì thế các bản chú giải cổ xưa dẫn lời đức Thế Tôn nói: “Niệm luôn luôn cần thiết cho bất kỳ đề mục thiền nào. Tại sao? Vì nó là nơi nương tựa và bảo vệ cho tâm thiền. Niệm là nơi nương tựa vì nó giúp tâm đạt đến các trạng thái đặc biệt và cao hơn chưa từng được đạt đến và biết đến trước đây. Không có niệm, tâm không có khả năng đạt đến các trạng thái đặc biệt và kỳ diệu được. Niệm bảo vệ tâm, và giữ gìn đối tượng thiền không bị lạc mất. Đó là lý do vì sao đối với một hành giả đang phân biệt nó với minh sát trí, niệm xuất hiện như cái bảo vệ cho đối tượng thiền, cũng như cho tâm của người hành thiền. Không có niệm, họ không thể nâng tâm lên hoặc chế ngự tâm được, đó là lý do vì sao đức Phật nói niệm là cần thiết trong mọi trường hợp.

Hành giả quân bình Thất Giác Chi như thế nào?

Quân bình thất giác chi cũng là điều quan trọng nếu hành giả muốn thành tựu thiền dùng dề mục niệm hơi thở (ānāpānasati). Thất giác chi gồm:

1. Niệm (sati): ghi nhớ tợ tường và phân biệt nó tới lui nhiều lần.
2. Trạch pháp (dhammavicaya): hiểu biết tợ tướng một cách sâu xa, hay thể nhập vào tợ tướng.
3. Tinh tấn (vīriya): đem các chi phần giác ngộ lại với nhau, và quân bình chúng trên tợ tướng, đặc biệt tự củng cố chính bản thân nó, và trạch pháp giác chi.
4. Hỷ (pīti): sự hân hoan của tâm khi kinh nghiệm tợ tướng.
5. Tịnh (passadhi): sự an tịnh của tâm và các tâm sở, có tợ tướng làm đối tượng.
6. Định (samādhi): sự nhất tâm trên tợ tướng.
7. Xả (upekkhā): sự đều đặn của tâm không bị dao động, cũng không co rút khỏi tợ tướng.

Hành giả cần phải phát triển và quân bình cả bảy giác chi này. Nếu tinh tấn không đầy đủ tâm sẽ rơi khỏi đối tượng thiền, ở đây là tợ tướng. Khi trường hợp này xảy ra, hành giả không nên tu tập tịnh, định và xả, mà phải tu tập trạch pháp, tinh tấn và hỷ. Như vậy tâm được nâng lên (đối tượng) trở lại.

Tuy nhiên khi có quá nhiều tinh tấn, tâm sẽ trở nên dao động và phân tán. Lúc đó hành giả nên làm ngựơc lại, tức không tu tập trạch pháp, tinh tấn và hỷ nữa, mà thay vào đó tu tập tịnh, định và xả. Theo cách này tâm dao động và phân tán sẽ được chế ngự và an tịnh lại.

Đây là cách làm thế nào để quân bình ngũ căn và thất giác chi.

Làm thế nào để đắc Thiền (jhāna)?

Khi ngũ căn tín, tấn, niệm, định và tuệ đã được tu tập đầy đủ, định sẽ vượt qua cận định để nhập vào thiền (Jhāna) hay an chỉ định. Khi hành giả đạt đến thiền, tâm hành giả sẽ biết tợ tướng không gián đoạn. Sự kiện này có thể liên tục trong vài giờ, thậm chí cả đêm hay có khi suốt ngày.

Khi tâm đã duy trì định trên tợ tướng liên tục trong một hoặc hai giờ, hành giả nên cố gắng phân biệt (nhận thức rõ) vùng trong trái tim nơi đây tâm hữu phần (bhavaga) trú, đó là sắc trái tim hay sắc ý vật. Tâm hữu phần vốn sáng trong, và được các nhà chú giải giải thích rằng đó chính là ý môn (manodvāra). Nếu hành giả cố gắng nhiều lần, tức là làm đi làm lại nhiều lần, thì cuối cùng hành giả sẽ phân biệt được cả hai. Ý môn (bhavaga) và tợ tướng khi nó xuất hiện ở đó. Kế tiếp hành giả phân biệt năm thiền chi, mỗi lần một chi. Với việc thực hành liên tục, có thể hành giả sẽ phân biệt được cả năm thiền chi một lần. Trong trường hợp của niệm hơi thở (nāpānasati) có 5 thiền chi là:

1. Tầm (vitakka): hướng và đặt tâm trên tợ tướng hơi thở (nāpāna pahibhaga-nimitta)
2. Tứ (vicāra): duy trì tâm trên tợ tướng
3. Hỷ (pīti): thích thú đối với tợ tướng
4. Lạc (sukha): an vui với tợ tướng
5. Nhất tâm: Sự hợp nhất với tâm trên tợ tướng.

Các thiền chi này khi đứng riêng thì gọi là thiền chi, song khi kết hợp lại thì gọi là bậc thiền. Lúc mới bắt đầu hành thiền, hành giả phải hành để nhập thiền trong một thời gian tương đối, không nên dùng quá nhiều thời gian vào việc phân biệt các thiền chi. Hành giả cũng còn phải tu tập năm pháp thuần thục trong bậc thiền (vasībhāva) ấy.

1. Nhập thiền bất cứ lúc nào hành giả muốn
2. Quyết định (adhiṭṭhāna) trú trong thiền trong một thời hạn đã định và thực hiện quyết định ấy.
3. Xuất thiền vào giờ ấn định.
4. Tác ý đến các thiền chi.
5. Phản khán các thiền chi[11]

Trong Aguttara Nikāya (Tăng chi bộ kinh), bài kinh ví dụ Con Bò Cái (Pabhateyyagāvī sutta), đức Phật nói hành giả không nên cố gắng chuyển sang nhị thiền khi chưa thuần thục sơ thiền. Ngài giải thích rằng nếu người nào không hoàn toàn thuần thục sơ thiền, mà cố gắng đi lên các bậc thiền cao hơn, họ sẽ mất sơ thiền, cũng như không thể đạt đến các bậc thiền khác. Như vậy người ấy sẽ mất tất cả các bậc thiền.

Khi hành giả đã thuần thục sơ thiền, hành giả có thể cố gắng để tiến lên nhị thiền. Muốn đắc nhị thiền hành giả cần phải nhập vào sơ thiền mà lúc này đã rất quen thuộc, xuất khỏi thiền ấy, suy xét đến những khuyết điểm của nó và những lợi ích của nhị thiền. Đó là, sơ thiền còn gần với năm triền cái, và có các thiền chi thô tầm, tứ khiến cho nó kém an tịnh hơn nhị thiền, không tầm không tứ. Vì thế, lúc này không mong muốn các thiền chi đó nữa mà chỉ mong muốn hỷ, lạc, nhất tâm, hành giả sẽ định tâm trên tợ tướng trở lại và đạt đến sơ thiền . Khi xuất khỏi sơ thiền, duyệt lại các thiền chi với chánh niệm, tỉnh giác, hai thiền chi tầm, tứ, sẽ có vẻ thô đối với hành giả, trong khi hỷ, lạc và nhất tâm có vẻ an tịnh hơn. Do đó, để từ bỏ hai thiền chi thô và có được các thiền chi an tịnh ấy, hành giả tập trung vào tợ tướng trở lại.

Bằng cách ấy hành giả có thể sẽ đạt đến nhị thiền chỉ có hỷ, lạc và nhất tâm. Sau đó hành giả cũng tu tập năm loại thuần thục của nhị thiền.

Khi hành giả đã thành công, và muốn tu tập tam thiền, thì nên xuất khỏi nhị thiền bây giờ đã quen thuộc ấy, suy xét đến những khuyết điểm của nó, rồi suy xét đến những lợi ích của tam thiền. Đó là, nhị thiền này còn gần với sơ thiền có các thiền chi thô, tầm, tứ. Và nhị thiền, tự thân nó có thiền chi thô là hỷ[12], khiến cho nó kém an tịnh hơn tam thiền, một bậc thiền không có hỷ. Vì thế, bây giờ không có ước muốn đối với thiền chi thô đó, mà chỉ ước muốn các thiền chi an tịnh, hành giả sẽ tập trung vào tợ tướng trở lại và đắc nhị thiền. Khi xuất khỏi nhị thiền, và duyệt lại các thiền chi, thì thiền chi hỷ sẽ có vẻ thô đối với hành giả, trong khi lạc và nhất tâm có vẻ an tịnh hơn. Do đó, để từ bỏ thiền chi thô và có được các yếu tố an tịnh, hành giả định tâm trên tợ tướng trở lại. Theo cách này, hành giả có thể sẽ đạt đến tam thiền, chỉ có lạc và nhất tâm. Sau đó hành giả cũng tu tập năm loại thuần thục đối với tam thiền như trứơc.

Khi đã thành công và hành giả muốn tu tập tứ thiền, thì cần phải xuất khỏi tam thiền đã quen thuộc đó, suy xét đến các khuyết điểm của nó, rồi suy xét đến những lợi ích của tứ thiền. Đó là, tam thiền này còn gần với nhị thiền, có thiền chi thô là hỷ. Và tam thiền tự thân nó có thiền chi thô là lạc, khiến cho nó kém an tịnh hơn tứ thiền, không có lạc. Bây giờ với ước muốn đạt đến tứ thiền, hành giả lập lại định trên tợ tướng và đắc tam thiền. Khi xuất khỏi tam thiền, duyệt lại các thiền chi, hành giả thấy rằng thiền chi lạc có vẻ thô, trong khi xả và nhất tâm an tịnh hơn. Vì thế, để từ bỏ yếu tố thô và có được các yếu tố an tịnh, hành giả lại tập trung vào tợ tướng. Theo cách này hành giả có thể sẽ đắc tứ thiền, chỉ có xả và nhất tâm. Và cũng như trước, hành giả nên tu tập năm loại thuần thục đối với tứ thiền.

Với sự chứng đắc tứ thiền, hơi thở dừng lại hoàn toàn. Sự kiện này hoàn tất giai đoạn thứ tư trong việc tu tập niệm hơi thở.

(4) “An tịnh thân hơi thở , ta sẽ thở vào” vị ấy tập như vậy, và “An tịnh thân hơi thở , ta sẽ thở ra” vị ấy tập như vậy.

Giai đoạn này bắt đầu ngay trước khi nimitta (tướng) xuất hiện, và khi định đã được tu tập qua bốn bậc thiền, hơi thở càng lúc càng trở nên an tịnh hơn, cho đến khi nó dừng lại hoàn toàn ở tứ thiền.

Bốn bậc thiền này cũng còn gọi là bốn thiền sắc giới (rūpavacara jhāna), vì chúng chỉ có thể cho quả tái sanh trong cõi sắc giới. Song ở đây chúng tôi không khuyến khích quý vị hành giả tu thiền để được tái sanh vào cõi sắc giới, mà chỉ dùng chúng làm nền tảng để phát triển thiền Minh sát (Vipassanā).

Khi hành giả đã đạt đến tứ thiền bằng cách dùng niệm hơi thở, và đã tu tập năm pháp thuần thục, ánh sáng của định sẽ sáng chói, rực rỡ và tỏa chiếu, và nếu muốn vị ấy có thể chuyển sang tu tập thiền Minh sát. Ngược lại, hành giả cũng có thể tiếp tục tu tập tịnh chỉ (samatha). Đó sẽ là đề tài của bài giảng kế, hành giả tu tập thiền chỉ trên ba mươi hai phần của thân (32 thể trược), bộ xương, mười kasia (biến xứ) vv… như thế nào.

***

HỎI ĐÁP 1

Hỏi 1.1: Trong bốn giai đoạn của thiền niệm hơi thở (ānāpānasati), làm sao để chúng tôi xác định được khi nào thì chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác?

Đáp 1.1: Đức Phật dạy ānāpānasati tuần tự từng bước một: hơi thở dài, hơi thở ngắn, toàn hơi thở và hơi thở vi tế, cho dễ hiểu vậy thôi. Lúc hành thực thụ, cả bốn giai đoạn có thể xảy ra cùng một lúc.

Như vậy, nếu hành giả có thể tập trung vào toàn hơi thở dài, và toàn hơi thở ngắn trong khoảng một giờ, lúc ấy (khi định của hành giả nâng cao) hơi thở của hành giả tự động trở nên vi tế, và hành giả có thể chuyển sự tập trung vào hơi thở vi tế. Khi hơi thở vi tế là dài, hành giả sẽ cố gắng biết toàn hơi thở dài và vi tế ấy; khi hơi thở vi tế là ngắn, hành giả cố gắng biết hơi thở là ngắn và vi tế ấy.

Nếu hơi thở tự nó không trở thành vi tế, hành giả sẽ tập trung vào hơi thở đó (tác ý – manāsikāra) với quyết định rằng nó phải là vi tế[13]. Theo cách đó, hơi thở sẽ trở nên vi tế, nhưng hành giả không được cố tình làm cho hơi thở vi tế, cũng như không cố ý làm cho nó dài ra hoặc ngắn lại; chỉ quyết định rằng nó phải trở nên an tịnh thôi. Theo cách này, hơi thở dài, hơi thở ngắn, toàn hơi thở và hơi thở vi tế, cả bốn giai đoạn, đã được gồm trong một giai đoạn duy nhất.

Ở phần trước của giai đoạn thứ tư , hơi thở chỉ trở nên rất vi tế, chứ chưa diệt hoàn toàn. Hơi thở diệt hoàn toàn chỉ có ở tứ thiền. Đây là giai đoạn vi tế nhất.

Hỏi 1.2: Trong thiền có cần thiết phải có một nimitta (tướng) không?

Đáp 1.2: Trong một vài đề mục thiền (kammaṭṭhāna) như niệm hơi thở, thiền đề mục kasia (biến xứ) và thiền đề mục bất tịnh (ashubha), một nimitta rất cần thiết. Nếu hành giả muốn đắc thiền trong các đề mục thiền khác, như tùy niệm Phật (Buddhānussāti), có thể không cần nimitta. Trong thiền tâm từ (mettā bhāvanā), phá bỏ ranh giới được gọi là nimitta (tướng)[14].

Hỏi 1.3: Có một số người nói rằng trong lúc đang hành niệm hơi thở “hồn” của họ xuất ra khỏi thân. Như vậy có đúng không, hay họ hành sai?

Đáp 1.3: Thường thường, tâm an định có thể tạo ra một nimitta. Khi định càng sâu và mạnh mẽ, lúc đó, do các tưởng sai biệt, mà các nimitta khác nhau sẽ xuất hiện. Chẵng hạn, nếu hành giả muốn nimitta là dài, nó sẽ dài, muốn nó ngắn, nó sẽ ngắn; muốn nó tròn, nó sẽ tròn, muốn nó màu đỏ, nó sẽ màu đỏ. Vì thế các tưởng khác nhau có thể phát sinh trong lúc đang hành niệm hơi thở. Hành giả có thể tưởng như mình đang ở ngoài thân. Đó chỉ là một sáng tạo của tâm, chứ không phải do một linh hồn. Không có vấn đề gì cả. Cứ việc bỏ qua nó và trở lại với niệm hơi thở của hành giả.

Chỉ khi nào hành giả phân biệt được danh-sắc chân đế (paramatha nāma-rūpa) bên trong và bên ngoài, lúc đó hành giả mới có thể giải quyết được vấn đề linh hồn, nghĩa là hành giả sẽ không tìm đâu ra một linh hồn. Vì vậy, hành giả cần phải phá bỏ các nguyên khối tưởng về danh sắc, và thấu hiểu danh sắc chân đế.

Nānādhātuyo vinibbhujitvā ghanavinibbhoge kate anattalakkhana yāthāvasarasato upaṭṭhāti
(Khi chúng ta phá bỏ được nguyên khối tưởng, thì vô ngã tưởng (anatta saññā) sẽ khởi lên)[15].

Chính do nguyên khối tưởng mà phát sinh cái tưởng về một linh hồn này.

Muốn phá bỏ nguyên khối tưởng về sắc, trước tiên chúng ta phải phân biệt các nhóm sắc - rūpa kalāpas (kalāpas: là những phần tử nhỏ, hay nhóm, bọn hoặc tổng hợp sắc). Kế đó hành giả phải phân biệt các loại sắc chân đế khác nhau, có ít nhất tám sắc trong mỗi rūpa-kalāpa (nhóm sắc). Không làm điều này thì tưởng về linh hồn sẽ không biến mất[16].

Tương tự, không phá bỏ nguyên khối tưởng về danh, thì tưởng về linh hồn sẽ không biến mất. Chẳng hạn, khi tâm hành giả phóng đi, hành giả có thể nghĩ rằng cái tâm lang thang ấy là linh hồn của mình.

Làm thế nào để hành giả phá bỏ được cái nguyên khối tưởng về danh này? Chẳng hạn, lấy một tiến trình ý môn thuộc cận định có đối tượng là tợ tướng làm ví dụ.

Trong tiến trình nhận thức như vậy có một ý môn hướng tâm và bảy tốc hành tâm (javana). Trong sát-na ý môn hướng tâm có mười hai tâm hành và trong mỗi sát-na tốc hành có ba mươi bốn tâm hành.

Trong một tiến trình nhận thức như vậy có bốn loại nguyên khối tưởng cần phải được phá bỏ bằng Minh sát trí.

1. Nguyên khối tưởng về tính tương tục (santati ghana): muốn phá bỏ khối tưởng này hành giả cần phải phân biệt (để thấy) bằng cách nào từng tâm khác nhau cùng với các tâm sở của nó khởi lên trong mỗi sát-na tâm suốt tiến trình nhận thức.

2. Nguyên khối tưởng về tập hợp (samūha ghana): muốn phá bỏ khối tưởng này, hành giả cần phải phân biệt để thấy ra mỗi tâm và mỗi trong các tâm sở của nó trong từng sát-na tâm suốt tiến trình nhận thức.

3. Nguyên khối tưởng về phận sự (kicca ghana): muốn phá bỏ khối tưởng này, hành giả cần phải phân biệt đặc tính, phận sự , sự thể hiện và nhân gần của mỗi tâm và mỗi tâm sở trong các tâm sở của nó.

4. Nguyên khối tưởng về đối tượng (rammaa ghana): muốn phá bỏ khối tưởng này, hành giả cần phải phân biệt tiến trình nhận thức thuộc minh sát tuệ (trí) đã phân biệt tiến trình nhận thức mà hành giả vừa khảo sát (tiến trình ý môn thuộc cận định) . Điều này có nghĩa rằng tiến trình nhận thức trước, tự nó cũng cần phải được biết bằng tiến trình nhận thức sau.

Nếu hành giả phá bỏ được bốn loại nguyên khối tưởng về danh theo cách này, hành giả sẽ chỉ thấy sự sanh và diệt nhanh lẹ của tâm và các tâm sở của nó.

Với tưởng vô thường ấy, hành giả không thể nào còn nghĩ tâm của mình là linh hồn nữa, vì khi có tưởng vô thường thì tưởng vô ngã cũng có mặt. Như Đức Phật đã dạy trong Kinh Meghiya[17].

Aniccasaññino meghiya anattasaññā sathāti (Này Meghiya, đối với ai có minh sát trí về vô thường mạnh, thời minh sát trí về vô ngã cũng sẽ hiển lộ cho người ấy).

Hỏi 1.4: Tướng hơi thở (nāpānā nimitta) từ đâu đến? Cái gì làm cho nó xuất hiện?

Đáp 1.4: Hầu hết các tâm sanh lên dựa vào sắc ý vật hay tâm cơ tạo ra hơi thở. Do đó một tướng hơi thở thực thụ phải xuất phát từ hơi thở. Tuy nhiên không phải mọi tâm đều tạo ra một nimitta. Chỉ tâm nào có định sâu lắng mới tạo ra tướng. Vì thế, hơi thở do tâm định sâu lắng tạo ra mới làm cho tướng hơi thở (ānāpāna-nimitta) xuất hiện. Nếu tướng ở xa lỗ mũi, đó không phải là tướng thực. Một tướng có thể xuất hiện do định, nhưng đó không nhất thiết sẽ là tướng hơi thở thực thụ. Nếu nimitta do thiền (jhāna) tạo ra, chúng ta có thể gọi đó là một nimitta hơi thở thực sự. Còn nếu nó không do thiền tạo ra, nó không phải là tướng hơi thở đích thực. Nếu hành giả định tâm trên tướng ấy, thiền sẽ không sanh. Thông thường, định không trở nên mạnh và có năng lực nếu hành giả thiền trên tướng ấy, vì thế chẳng bao lâu nó sẽ biến mất.

Hỏi 1.5: Bảy giai đoạn thanh tịnh và mười sáu tuệ Minh sát là gì?

Đáp 1.5: Bảy giai đoạn thanh tịnh là:

1. Giới thanh tịnh (Sīla visuddhi)
2. Tâm thanh tịnh (Citta visuddhi)
3. Kiến thanh tịnh (Diṭṭhi visuddhi)
4. Đoạn nghi thanh tịnh (Kakhāvitarana visuddhi)
5. Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh (Maggāmaggaññā adassana visuddhi)
6. Đạo hành tri kiến thanh tịnh (Paipadāñāa dassana visuddhi)
7. Tri kiến thanh tịnh (ñāadassana visuddhi)

Và 16 tuệ Minh sát là (Tuệ = Trí):

1. Danh sắc Phân tích trí (Tuệ) nāmarūpa – pariccheda ñaa)
2. Tuệ Nắm bắt (phân biệt) Nhân duyên (paccaya pariggaha ñāa)
3. Tuệ Thẩm sát Tam tướng (sammasana ñāa)
4. Sanh Diệt Tuệ (udayabbaya ñāa)
5. Hoại Diệt Tuệ (bhaga ñāa)
6. Kinh Úy Tuệ (bhya ñāa)
7. Quá Hoạn Tuệ (dīnavānupassanā ñāa)
8. Yếm Ly Tuệ (Nibbidānupassanāa ñāa)
9. Dục Thoát Tuệ (Muñcitukamyatā ñāa)
10. Giản Trạch Tuệ (Pasakhā ñāa)
11. Xã Hành Tuệ (Sakhārupekkhā ñāa)
12. Thuận Thứ Tuệ (Anuloma ñāa)
13. Chuyển Tộc Tuệ (Gotrabhū ñāa)
14. Đạo Tuệ (Monga ñāa)
15. Quả Tuệ (Phala ñāa)
16. Phản Khán (Duyệt) Tuệ (Paccavekkhana ñāa)

Bây giờ, hành giả đã biết tên gọi các tuệ minh sát là vậy, thử hỏi hành giả có kinh nghiệm của các tuệ ấy không? Không (phải không?). Đó là lý do tại sao chỉ có kiến thức suông chưa đủ; hành giả cũng còn phải thực hành với nỗ lực lớn để chứng ngộ chúng nữa.

(Cuối bài giảng này Ngài Pa-Auk Tawyahayadaw đã giải thích thêm về năm triền cái như sau).

Bây giờ chúng tôi sẽ nói ngắn gọn về năm triền cái (nīvaraa)

1. Tham Dục (Kāmacchanda)
2. Sân Hận (Byāpāda)
3. Hôn trầm – thụy miên (Thina middha)
4. Trạo cử – Hối quá (Uddhacca kukkucca)
5. Hoài nghi (Vicikicchā)

Triền cái thứ nhất – Tham dục (Kāmacchanda), là dính mắc vào tài sản hay vào con người. Đó chính là lòng mong ứơc đối với các đối tượng giác quan hay trần cảnh. Chẳng hạn như hành giả có thể bị dính mắc vào cốc liêu (Kuti) của mình. Trong khi đang hành thiền hành giả có thể nghĩ “Ồ, giá mà cốc của ta đẹp đẽ thì hay biết mấy”. Hoặc bạn có thể nghĩ, “Ồ, nếu mà cả căn phòng này mà thuộc về ta thì thật là tuyệt !” Nếu hành giả bị tràn ngập bởi tham dục như vậy, hành giả sẽ không thể nào tập trung tốt vào đề mục thiền của mình được. Hành giả phải vận dụng chánh niệm mạnh mẽ và thực hiện một nỗ lực để chặn đứng sự khởi lên của những tham dục này.

Triền cái thứ hai – Sân hận (Byāpāda). Đó là oán ghét hay bất mãn với người hoặc vật nào đó. Chẳng hạn, trong lúc ngồi thiền, nếu một thiền sinh ngồi kế bên gây ra tiếng động, hành giả có thể khởi tâm bực bội và nghĩ “Ôi, sao mà y làm ồn quá mức như vậy!” Nếu tâm hành giả bị sân hận hay bất mãn áp đảo, hành giả cũng sẽ không thể nào tập trung trên đề mục thiền của mình cho tốt được.

Triền cái thứ ba – Hôn trầm – thụy miên (Thina middha). Nếu tâm yếu đuối, hay không thích thú trong đề mục thiền, hôn trầm thụy miên có thể xảy ra. Tuy nhiên, có lúc buồn ngủ cũng có thể là do mệt mỏi, bệnh hoạn, hoặc thiếu nghỉ ngơi.

Triền cái thứ tư – Trạo cử – Hối quá (Uddhacca kukkucca). Nếu tâm hành giả bất an hay trạo cử nó sẽ giống như 1 đống tro bị hòn đá ném vào bay tứ tán và vung vãi khắp nơi. Tâm cũng phân tán như vậy. Trong khi hành thiền, hành giả không nên buông thả tâm, để cho nó rơi khỏi đề mục thiền của mình. Nếu làm vậy, trạo cử sẽ xảy ra. Hối quá là ân hận hay hối tiếc về những việc xấu đã làm, và những việc tốt lại bỏ qua trong quá khứ. Ở đây cũng vậy, hành giả phải vận dụng chánh niệm và nỗ lực lớn để chận đứng sự khởi lên của trạo cử hối quá.

Triền cái thứ năm – Hoài nghi (Vicikicchā). Đó là sự hoài nghi về Đức Phật – Giáo Pháp – Chư Tăng; Tam học: Giới Định Tuệ; năm uẩn quá khứ; năm uẩn tương lai, năm uẩn quá khứ và tương lai; pháp Duyên khởi gồm – năm uẩn hiện tại.

Nếu hành giả có sự hoài nghi về pháp hành thiền định, có thể hành giả sẽ không thiền được. Chẳng hạn, hành giả có thể nghĩ: “Có thể đắc thiền bằng niệm hơi thở được không?”, “Liệu thiền (Jhāna) có thể đạt đến nhờ định tâm trên tướng hơi thở (ānāpāna nimitta) hay không?”

Năm Triền cái làm chướng ngại cho thiền là như vậy.

-ooOoo-

[1] Thiền viện Pa-Auk = Pa-Auk Tawaya, đúng ra phải dịch là Rừng Thiền Pa-Auk (Pa-Auk Forest).

[2] Visuddhi-magga – Bộ Luận Thanh Tịnh Đạo được xem là cuốn cẩm nang giới thiệu về Thiền có căn cứ chính xác và bao quát nhất, được soạn từ các bản chú giải cổ điển có nguồn gốc từ thời đức Phật và lần kiết tập Kinh điển lần thứ nhất Luận sư Buddhoghosa (Phật Âm) đã dịch từ tiếng Sinhalese ra iBhik. Ñānāmoi địch từ i sang Anh ngữ.

[3] D.II. 9

[4] D III. 9. M. I. 10

[5] Ở đây, vimasa đồng nghĩa với Paccavekkhaa, và là một từ được dùng trong luận của phụ chú giải.

[6] Thiền diệt là thiền chứng mà tâm, tâm sở và các sắc do tâm tạo đều dừng lại. Chi tiết xem trang…

[7] VS VIII “Ānāpānasati khathā“.

[8] VS. T I ibid

[9] Chi tiết liên hệ đến thiền này, xem trang…

[10] VS. X. “Nevasaññā nāsaññāyatana kathā” B 287 (Neither Perception Nor Non-Perception Base Explanation)

[11] Tác ý và phản khán xảy ra trong cùng tiến trình tâm Ý môn (manodvāra vīthi). Tác ý được thực hiện bằng Ý môn hướng tâm (manodvāra vajjana), trong trường hợp này, nó lấy một trong năm thiền chi làm đối tượng. Nó được theo sau bởi bốn, năm, sáu hoặc bảy tốc hành tâm (javana) phản khán có cùng một đối tượng. Xem bài giảng 5

[12] Ngài Pa-Auk Tawya Sayadaw giải thích rằng thiền chi hỷ là một yếu tố phụ thêm vào việc tăng cường sự gắn bó đối với lạc của bậc thiền (jhāna sukha) được xem là vi tế, vì đối tượng của nó cũng rất vi tế, nên không thể tạo thành dục lạc (rāga: sensual happiness) được.

[13] Xem trang sau, để biết thêm chi tiết về an tịnh hơi thở.

[14] Đây chỉ là một tên gọi, vì kỳ thực nó không phải là một nimitta đúng nghĩa.

[15] Vs. XXI “Upakkilesavimutta Udayabbayañāa kathā B739 (Trí quán sự sanh và diệt).

[16] Chi tiết liên quan đến nguyên khối tưởng về sắc, xem trang sau

[17] U.N.I (cũng xem A. IX.I.1.3)

-ooOoo-

BÀI PHÁP THOẠI 2

Hành giả tu tập An chỉ định trên các đề mục Thiền khác như thế nào

Trong bài giảng trước chúng ta đã bàn về cách làm thế nào để tu tập đề mục niệm hơi thở cho đến tứ thiền, và làm sao để tu tập năm loại thuần thục trong mỗi bậc thiền. Như đã đề cập ở trước, khi ánh sáng do định sanh bừng sáng và tỏa chiếu, nếu muốn hành giả có thể chuyển sang tu tập thiền minh sát.

Nhưng lúc này hành giả cũng có thể tiếp tục phát triển thiền chỉ (samatha) thêm. Hôm nay, chúng ta sẽ bàn về cách làm thế nào để tu tập các đề mục thiền chỉ khác như: quán ba mươi hai thành phần của thân (32 thể trược), bộ xương, mười kasia (biến xứ) v.v…

Hành giả tu tập Ba Mươi Hai Thể Trược như thế nào?

Nếu muốn tu tập thiến (quán) ba mươi hai thể trược, trứơc tiên hành giả phải lập lại tứ thiền hơi thở (nāpāna jhāna) để ánh sáng của định bừng sáng và tỏa chiếu. Kế đó hành giả sẽ dùng ánh sáng ấy để cố gắng phân biệt ba mươi hai thành phần của thân, mỗi lần một phần.

Ba mươi hai thành phần của thân gồm hai mươi phần với địa đại trội hơn, và muời hai phần với thủy đại trội hơn. Hai mươi phần thuộc địa đại (yếu tố đất) sẽ được phân biệt theo bốn nhóm năm.

I II III IV
1. Tóc

2. Lông

3. Móng

4. Răng

5.Da

6. Thịt

7. Gân

8. Xương

9. Tủy

10. Thận

11. Tim

12. Gan

13. Màng ruột

14. Bao tử

15. Phổi

16. Ruột

17. Trực tràng

18. Vật thực chưa tiêu hóa

19. Phân

20 Óc

Mười hai phần thuộc thủy đại sẽ được phân biệt theo hai nhóm sau:

I II
1. Mật

2. Đàm

3. Mủ

4. Máu

5. Mồ hôi

6. Mỡ

7. Nước mắt

8. Mỡ nước

9. Nước miếng

10. Nước mũi

11. Hoạt dịch (nước khớp xương)

12. Nước tiểu

Hành giả phân biệt mỗi lần một phần theo thứ tự đã đặt ra. Cố gắng thấy mỗi phần rõ rệt như khi hành giả soi mặt mình trong tấm gương sạch vậy.

Trường hợp, khi đang làm như vậy mà ánh sáng do định sanh mờ đi và thân phần đang được phân biệt không còn rõ ràng, hành giả nên lập lại tứ thiền hơi thở, ánh sáng sẽ bừng sáng mạnh trở lại. Lúc đó quay về với việc phân biệt các thành phần của thân như trước. Bất luận khi nào ánh sáng mờ đi hành giả chỉ việc lập lại tiến trình như vậy.

Hành như thế nào để hành giả có thể thấy, từ tóc cho đến nước tiểu, hoặc từ nước tiểu cho đến tóc, mỗi thân phần thực sự rõ rệt với trí thể nhập; duy trì pháp hành cho đến khi hành giả trở nên thiện xảo.

Kế đó, lại dùng ánh sáng do định sanh ấy, trong khi mắt vẫn nhắm, hành giả sẽ cố gắng phân biệt (32 thể phần) của người khác kề bên hành giả. Nếu phân biệt được một người nào đó ở phía trước hành giả là rất tốt. Phân biệt ba mươi hai thành phần của thân trong người đó hay chúng sanh đó, từ tóc xuống đến nước tiểu và từ nước tiểu lên đến tóc, lập đi lập lại nhiều lần theo chiều xuôi, ngược như vậy. Khi đã thành công, hành giả sẽ phân biết ba mươi hai thể phần lúc bên trong, tức trong chính thân hành giả, và lúc bên ngoài, tức nơi thân người khác; cũng lập đi lập lại như vậy nhiều lần cho đến khi thiện xảo.

Khi hành giả đã phân biệt được ba mươi hai thể phần bên trong và bên ngoài như vậy, năng lực thiền của hành giả sẽ gia tăng. Theo đà ấy hành giả dần dần mở rộng lãnh vực phân biệt của hành giả ra mỗi lần một ít, từ gần cho tới xa. Không nên nghĩ rằng hành giả sẽ không thể phân biệt được những chúng sanh ở quá xa. Cứ sử dụng ánh sáng bừng tỏ của tứ thiền, hành giả có thể dễ dàng thấy những chúng sanh ở xa, không phải với mắt thường, mà với tuệ nhãn (ñāa cakkhu).

Hành giả có thể mở rộng phạm vi phân biệt của mình trong cả mười hướng: trên, dưới, đông, tây, nam, bắc, đông bắc, đông nam, tây bắc và tây nam. Lấy bất cứ ai để phân biệt cũng được, có thể đó là người, thú, hay những chúng sanh khác trong mười hướng ấy, và phân biệt ba mươi hai thể phần, lúc bên trong, lúc bên ngoài mỗi lần chỉ một người hay một chúng sanh khác.

Khi hành giả không còn thấy đàn ông, đàn ba, chư thiên hay trâu bò và những sinh vật khác đại loại như vậy nữa, mà chỉ thấy các nhóm thuộc ba mươi hai thể phần, bất luận khi nào và bất luận chỗ nào hành giả nhìn đến, dù bên trong hay bên ngoài, lúc ấy hành giả có thể được nói là đã thành công, thiện xảo và nhuần nhuyễn trong việc phân biệt ba mươi hai thể trược.

Ba cửa vào Niết-bàn

Đến đây, chúng ta sẽ xem xét những gì được gọi là ba cửa vào Niết-bàn. Trong “Mahāsatipaṭṭhāna sutta[1], (Đại Niệm Xứ Kinh), đức Phật dạy bốn niệm xứ là con đường duy nhất đi vào Niết-bàn. Chú giải giải thích thêm rằng có ba cửa đi đến Niết-bàn. Ba cửa ấy là những đề tài thiền chỉ (samātha) thuộc kasin.a màu (vaṇṇa kasia: biến xứ hay vòng tròn sơn màu), quán bất tịnh (paikkhūla manasikāra) và không tánh hay vô ngã (suññata), vốn là thiền tứ đại.[2]

Do đó, khi một người đã thành thạo trong việc phân biệt ba mươi hai thành phần của thân, cả trong lẫn ngoài, vị ấy có thể chọn tu bất kỳ một cửa nào trong ba cửa này. Cửa thứ nhất chúng ta sẽ bàn đến ở đây là thiền (quán) bất tịnh.

Hành giả tu tập Thiền (Quán) Bộ Xương như thế nào

Muốn tu tập thiền (quán) bất tịnh (paikkhūla manasikāra) hành giả có thể lấy cả ba mươi hai thể trược hoặc chỉ một thể phần nào trong đó làm đối tượng. Chúng ta sẽ tìm hiểu cách quán bộ xương, hay các phần xương, là một trong ba mươi hai thể phần trước.

Đầu tiên hành giả phải lập lại tứ thiền hơi thở, cho đến khi ánh sáng bừng tỏ và tỏa chiếu. Rồi dùng ánh sáng ấy để phân biệt ba mươi hai thành phần trong chính thân hành giả, rồi trong thân một chúng sanh khác kế bên. Phân biệt cả bên trong lẫn bên ngoài như vậy một hoặc hai lần. Tiếp đến lấy bộ xương bên trong (thân hành giả), như một tổng thể, và phân biệt bộ xương ấy với trí tuệ. Khi toàn bộ xương hiển hiện rõ ràng, lấy tính chất bất tịnh của bộ xương làm đối tượng, tức là lấy khái niệm bất tịnh về bộ xương ấy, và ghi nhớ đi ghi nhớ lại nhiều lần bộ xương đó là “bất tịnh, bất tịnh”; hoặc “bộ xương bất tịnh – bộ xương bất tịnh”; hoặc “bộ xương, bộ xương”.

Ghi nhớ bằng bất cứ ngôn ngữ nào hành giả thích. Quan trọng là hành giải phải cố gắng giữ cho tâm an định trên đối tượng bất tịnh của bộ xương trong một hoặc hai giờ. Hãy cẩn thận ghi nhận màu sắc, hình dáng, vị trí và giới hạn của bộ xương, nhờ vậy tính chất bất tịnh của nó có thể phát sanh.

Do sức mạnh và động lực thúc đẩy của định thuộc tứ thiền dựa trên niệm hơi thở, hành giả sẽ thầy rằng thiền này cũng được an lập sâu xa và sung mãn, nghĩa là hành giả sẽ có thể tạo ra, duy trì và phát triển được “tưởng” và “trí” về tính chất bất tịnh.

Một khi định của hành giả trên tính chất bất tịnh của bộ xương đã đựơc thiết lập, hành giả nên buông tưởng “bộ xương” ra, và chỉ duy trì niệm về tính chất bất tịnh thôi.

Theo Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi-magga), thấy mầu sắc, hình dáng, vị trí và giới hạn của một thể phần là đang thấy học tướng (uggaha-nimitta). Còn thấy và phân biệt tính chất bất tịnh của phần đó là thấy tợ tướng (patibhāga nimitta)[3].

Nhờ định tâm trên tợ tướng thuộc tính chất bất tịnh của bộ xương, hành giả có thể đạt đến sơ thiền, vào lúc đó năm thiền chi sẽ có mặt. Đó là:

1. Tầm (Vitakka): hướng và đặt tâm trên tợ tướng thuộc tính chất bất tịnh của bộ xương.
2. Tứ (Vicāra): duy trì tâm trên tợ tướng thuộc tính chất bất tịnh của bộ xương.
3. Hỷ (Pīti): thích thú với tợ tướng thuộc tính chất bất tịnh của bộ xương.
4. Lạc (Sukkha): lạc kết hợp với tợ tướng thuộc tính chất bất tịnh của bộ xương.
5. Nhất tâm (Ekaggatā): sự hợp nhất của tâm trên tợ tướng thuộc tính chất bất tịnh của bộ xương.

Theo cách tương tự, hành giả cũng có thể đắc sơ thiền trên tính bất tịnh của một trong ba mươi hai thể phần khác.

Một câu hỏi có thể đặt ra là “Làm thế nào hỷ và lạc lại có thể khởi lên với đối tượng là tính chất bất tịnh của bộ xương được?” Câu trả lời ở đây là, mặc dù hành giả đang tập trung vào tính chất bất tịnh của bộ xương, và cảm giác nó như bất tịnh thực sự, vẫn có hỷ khởi lên vì hành giả đã thọ trì pháp môn thiền này, và vì hành giả đã hiểu được những lợi ích của nó, nghĩa là hành giả hiểu rằng cuối cùng nó sẽ giúp hành giả đạt đến sự giải thoát khỏi già, đau và chết. Hỷ và lạc cũng có thể khởi lên vì hành giả đã loại trừ các cấu uế của năm triền cái, làm cho tâm nóng nảy và mệt mỏi.

Cũng giống như một người đi bươi rác để kiếm đồ phế liệu, chắc chắn sẽ cảm thấy thích thú khi gặp một đống rác lớn, vì nghĩ rằng “Ta sẽ kiếm được nhiều tiền nhờ đống rác này”. Hoặc như một người khổ sở vì trúng thực chắc chắn sẽ vui mừng và sung sướng khi đuợc nhẹ nhõm nhờ nôn tháo ra hay đại tiện được ra vậy.

Chú giải Vi Diệu Pháp (Abhidhamma Commentary) giải thích rằng bất cứ ai đã đạt đến sơ thiền trên tính chất bất tịnh của bộ xương, cũng phải tiếp tục tu tập năm loại thuần thục của sơ thiền. Sau đó, cũng ở tại đây, hành giả lấy một chúng sanh gần nhất, tốt hơn hết là một người đang ngồi phía trước, và với ánh sáng của định hành giả lấy bộ xương của người ấy làm đối tượng. Hành giả phải tập trung vào đó xem như bất tịnh, đồng thời tu tập tưởng (bất tịnh) này cho đến khi các thiền chi trở nên nổi bật. Mặc dù chúng nổi bật như vậy, theo chú giải, nó cũng không phải là cận định (upācāra samādhi) hay an chỉ định (appanā samādhi), vì đối tượng còn đang sống[4]. Tuy nhiên nếu hành giả tập trung vào bộ xương bên ngoài (của người khác) như thể nó đã chết, theo phụ chú giải của Vi Diệu Pháp, bộ Mūla tīka, hành giả có thể đạt đến cận định[5].

Khi các thiền chi xuất hiện rõ rệt, hành giả sẽ tập trung lại vào bộ xương bên trong kể như bất tịnh. Hành xen kẽ, lúc trong thân lúc ngoài thân, và lập đi lập lại nhiều lần. Khi hành giả đã thiền như vậy trên tính chất bất tịnh của bộ xương, và việc tu tập đã trở nên thâm sâu và sung mãn, hành giả nên mở rộng phạm vi phân biệt của mình ra trong cả mười hướng. Mỗi lần lấy một hướng, ở chỗ mà ánh sáng do định sanh của hành giả chạm tới, cứ tu tập như vậy đối với các hướng khác. Hành giả nên áp dụng trí thể nhập của mình vào cả gần lẫn xa, trong tất cả các hướng, lúc bên trong, lúc bên ngoài. Thực hành cho đến khi bất cứ chỗ nào hành giả nhìn vào trong mười hướng, hành giả cũng chĩ thấy các bộ xương. Một khi đã thành công hành giả phải sẵn sàng để tu tập thiền trên kasia (màu) trắng.

Tu tập 10 Kasia như thế nào?

Các Kasia màu

Có bốn màu được dùng cho thiền Kasia (biến xứ) là: xanh, vàng, đỏ, trắng. “Xanh” (nīla) cũng có thể dịch là “đen”, hoặc “nâu”. Cả 4 kasia đều có thể tu tập lên đến tứ thiền bằng cách dùng các màu sắc của những thân phần khác nhau làm đối tượng.

Theo chú giải Vi Diệu Pháp, tóc, lông và tròng đen con mắt có thể được dùng thay cho kasin.a màu xanh, nâu, và đen để đạt đến tứ thiền; mỡ và nước tiểu có thể được dùng thay cho kasin.a vàng; máu và thịt có thể được dùng thay cho kasia đỏ, và các phần màu trắng như xương, răng, và móng tay móng chân có thể được dùng thay cho kasia trắng[6].

Hành giả tu tập Kasia trắng như thế nào

Kinh điển cho rằng kasia trắng có hiệu quả tốt nhất trong số bốn kasia màu, vì nó làm cho tâm trong sáng rõ ràng[7]. Vì lý do đó chúng ta sẽ bàn về cách tu tập kasia trắng trước.

Đầu tiên hành giả cũng phải lập lại tứ thền hơi thở, như vậy ánh sáng của định sẽ chói sáng và tỏa chiếu hơn. Hành giả dùng ánh sáng này để phân biệt ba mươi hai thể phần bên trong, rồi bên ngoài nơi một chúng sanh kế bên. Kế đến phân biệt chỉ một mình bộ xương. Nếu hành giả muốn phân biệt bộ xương ấy là bất tịnh thì hành giả sẽ làm như vậy, bằng không, chỉ phân biệt bộ xương bên ngoài là đủ.

Tiếp theo hành giả chọn, hoặc là phần trắng nhất trong bộ xương đó, hoặc, nếu toàn bộ xương là trắng, thì lấy cả bộ xương, hoặc lấy phần sau của xương sọ, và tập trung vào đó, xem như “trắng, trắng”.

Hay, nếu muốn, nhất là khi định của hành giả thực sự bén nhạy, hoặc đã thấy bộ xương bên trong kể như bất tịnh và đạt đến sơ thiền, hành giả có thể lấy bộ xương trắng ấy, và dùng đó như đối tượng sơ khởi của hành giả.

Hành giả cũng có thể phân biệt tính chất bất tịnh trong một bộ xương bên ngoài trước, và làm cho tưởng (bất tịnh) ấy bền chắc và kiên cố, như vậy sẽ khiến cho màu trắng của bộ xương rõ rệt hơn. Kế tiếp, hành giả chuyển cái tưởng (bất tịnh) về bộ xương sang tưởng “trắng, trắng”, và tu tập kasia trắng thế vào đó.

Với một trong những phần mầu trắng nơi bộ xương bên ngoài làm đối tượng, hành giả sẽ thực hành sao để duy trì tâm an định trong khoảng một hoặc hai giờ.

Nhờ sức mạnh và động lực thúc đẩy của định thuộc tứ thiền dựa trên hơi thở (ānāpānasati), hành giả sẽ thấy rằng tâm mình định an trụ (an định) trên màu trắng ấy trong một hoặc hai giờ, lúc đó bộ xương sẽ biến mất và chỉ còn lại một vòng tròn trắng.

Khi vòng tròn trắng ấy trắng như bông gòn thì đó là học tướng (uggaha nimitta). Khi nó bừng sáng và rõ nét như sao mai, thì là tợ tướng (paibhāga nimitta). Trước khi học tướng phát sanh, tướng bộ xương từ đó nó sanh ra, được gọi là chuẩn bị tướng (parikamma nimitta).

Tiếp tục ghi nhận kasia ấy là “trắng, trắng” cho đến khi nó trở thành tợ tướng. Duy trì định tâm trên tợ tướng cho tới khi hành giả nhập vào sơ thiền. Tuy nhiên, hành giả sẽ thấy rằng định này không bền và không kéo dài lâu. Để làm cho nó bền và kéo dài lâu, hành giả cần phải mở rộng tướng (nimitta).

Muốn mở rộng tướng, hành giả phải định tâm trên tợ tướng trong khoảng một hoặc hai giờ. Sau đó quyết định mở rộng vòng tròn trắng ấy ra dần: một, hai, ba, hoặc bốn inch (inch = 2,54cm), tùy theo hành giả nghĩ mình có thể mở rộng nó đựơc bao nhiêu thì mở. Xem thử hành giả đã thành công hay chưa, nhưng cũng đừng cố gắng mở rộng tướng mà trước đó không quyết định một giới hạn, tức là hành giả phải chắc chắn đã quyết định một giới hạn (để mở rộng tướng ra) như một, hai, ba hoặc bốn inch.

Trong khi đang mở rộng tướng, có thể hành giả thấy rằng tướng đó trở nên không ổn định. Gặp trường hợp như vậy thì nên trở lại ghi nhận tướng ấy là “trắng, trắng” để làm cho nó ổn định. Chỉ khi nào định của hành giả tăng trưởng thì tướng (nimitta) mới trở nên ổn định, vững vàng.

Khi tướng đã mở rộng lần đầu tiên trở nên ổn định, hành giả nên lập lại tiến trình, tức là, quyết định mở rộng nó ra một vài inch trở lại. Theo cách này hành giả có thể mở rộng tướng trong từng giai đoạn, cho tới khi kích thước được một mét, rồi hai mét v.v… Cứ làm như thế cho đến khi tướng mở rộng trong cả mười hướng quanh hành giả, không giới hạn, và sao cho bất luận chỗ nào hành giả nhìn đến, hành giả chỉ thấy màu trắng, ngay cả môt vết tích của sắc (vật chất), dù bên trong hoặc bên ngoài, hành giả cũng không thấy nữa.

Nếu hành giả đã từng tu tập kasia trắng trong đời trước, thời kỳ giáo pháp của đức Phật hiện tại, hay thời kỳ giáo pháp của đức Phật trước đó, tức là, nếu hành giả đã có ba-la-mật (pāramī) về kasia trắng, thì hành giả sẽ không cần phải mở rộng tợ tướng, vì khi hành giả định tâm trên đó, nó sẽ tự động mở ra trong cả mười hướng.

Trong trường hợp nào cũng vậy, nhiệm vụ của hành giả lúc này là phải giữ cho tâm an định trên kasia trắng đã mở rộng ra đó, và khi nó ổn định, lúc ấy cũng giống như treo một cái nón trên cái móc, hành giả đặt tâm mình vào một chỗ trên kasia trắng ấy. Giữ cho tâm ở đó, và tiếp tục ghi nhận “trắng, trắng”.

Khi tâm hành giả an tịnh và ổn định, thì kasia trắng cũng sẽ được an tịnh và ổn định, đồng thời nó cực kỳ trắng, sáng và rõ ràng. Đây cũng là tợ tướng (ibhāga nimitta) do mở rộng tợ tướng kasia trắng ban đầu tạo ra.

Hành giả phải tiếp tục hành thiền, cho đến khi có thể định tâm trên tợ tướng kasia trắng ấy liên tục trong một hoặc hai giờ. Khi đó các thiền chi trở nên nổi bật, rõ ràng và mạnh mẽ trong tâm hành giả, và hành giả kể như đã đạt đến sơ thiền. Năm thiền chi đó là:

1. Tầm (vitakka): hướng và đặt tâm trên tợ tướng kasia trắng.
2. Tứ (vicāra): duy trì tâm trên tợ tướng kasia trắng.
3. Hỷ (pīti): thích thú đối với tợ tướng kasia trắng.
4. Lạc (sukha): cảm giác sung sướng đối với tợ tướng.
5. Nhất tâm (ekaggatā): sự hợp nhất của tâm trên tợ tướng kasia trắng.

Các thiền chi hợp lại gọi là thiền (jhāna). Sau khi đắc sơ thiền xong, hành giả tiếp tục tu tập năm loại thuần thục trong sơ thiền, theo như cách đã đựơc mô tả trong bài giảng về niệm hơi thở, và sau đó tu tập nhị thiền, tam thiền, tứ thiền cũng như cách làm chủ các bậc thiền ấy.

Làm thế nào để tu tập các Kasia màu còn lại

Nếu hành giả đã tu tập thiền kasia trắng đạt đến tứ thiền bằng cách dùng màu trắng của một bộ xương bên ngoài rồi thì hành giả cũng có thể tu tập kasia màu nâu, xanh hoặc đen bằng cách dùng tóc bên ngoài, kasia vàng bằng cách dùng màu mỡ hoặc nước tiểu bên ngoài, và kasia đỏ bằng cách dùng màu máu bên ngoài v.v… Hành giả cũng có thể dùng những thể phần ấy trong chính thân mình.

Khi đã thành công, hành giả có thể tu tập các kasia màu bằng cách dùng màu của những bông hoa, hoặc những đối tượng bên ngoài khác đều được. Tất cả những bông hoa màu xanh, nâu thẫm đang mời gọi hành giả tu tập kasia xanh. Tất cả những bông hoa vàng đang mời gọi hành giả tu tập kasia vàng. Tất cả những bông hoa màu đỏ đang mời gọi hành giả tu tập kasia đỏ. Tất cả những bông hoa màu trắng cũng đang mời gọi hành giả tu tập kasia trắng. Như vậy, một hành giả thiện xảo có thể dùng bất cứ thứ gì mình thấy để tu tập định và tuệ, đó có thể là vật hữu tình hay vô tri, là bên trong hoặc bên ngoài đều được cả.

Theo các kinh điển i, đức Phật dạy mười kasia. Đó là bốn kasia màu vừa đề cập, cộng thêm sáu kasia đất, nước, lửa, gió, hư không và ánh sáng.[8]

Bây giờ, chúng ta sẽ bàn đến cách tu tập sáu kasia còn lại.

Tu tập Kasia Đất

Muốn tu tập kasia đất, trước tiên hành giả phải tìm một mảnh đất bằng, có mầu nâu đỏ giống như mầu trời lúc rạng đông và không lẫn với cây que, đà, lá trong đó. Rồi dùng một cái cây hay một dụng cụ nào khác để vẽ một vòng tròn đường kính khoảng ba tấc (một foot). Đó là đề mục thiền của hành giả: một kasia đất. Hành giả tập trung vào kasia ấy và ghi nhận nó là “đất, đất”. Tập trung trên đó khoảng một lát với mắt mở, sau đó nhắm mắt lại, và mường tượng kasia đất. Nếu không thể mường tượng được tướng (nimitta) bằng cách này, hành giả nên tái lập lại định tứ thiền hơi thở, hoặc tứ thiền kasia trắng. Rồi dùng ánh sáng của định để nhìn vào kasia đất. Khi đã thấy tướng của đất rõ như lúc hành giả nhìn vào đó với mắt mở, như vậy là đã có học tướng (uggaha nimitta), hành giả có thể ra đi và tu tập tướng kasia này ở một chỗ khác.

Hành giả không nên tập trung vào màu của nimitta đất (tướng đất), hoặc vào những đặc tính cứng, thô v.v… của yếu tố đất (địa đại), mà chỉ tập trung vào khái niệm về đất. Cứ tiếp tục tu tập học tướng (uggaha nimitta) này cho đến khi nó trở nên trong sạch, rõ ràng, lúc đó kể như đã chuyển sang tợ tướng (paibhāga nimitta).

Sau đó, hành giả nên mở rộng tợ tướng ra dần mỗi lần một ít trong cả mười phương, và tu tập thiền này cho đến tứ thiền.

Tu tập Kasia Nước

Muốn tu tập kasia nước, hành giả phải dùng một cái tô, hay xô, hoặc một giếng nước trong sạch rõ ràng. Tập trung vào khái niệm về nước như “nước, nước; cho đến khi hành giả có được học tướng (uggaha nimitta), sau đó phát triển học tướng ấy như hành giả đã làm với kasia đất.

Tu tập Kasia Lửa

Muốn tu tập kasia lửa, hành giả nên dùng một ngọn đèn cầy, một đống lửa hay bất kỳ một ngọn lửa nào khác mà hành giả nhớ đã thấy. Nếu không thể mường tượng ra được, hành giả có thể làm một bức màn hay tấm chắn khoét một lỗ tròn đường kính khoảng một foot (3 tấc) trên đó. Đặt bức màn phía trước đống lửa củi hay lửa rơm ấy, sao để hành giả chỉ thấy ngọn lửa qua lỗ thủng.

Không để ý đến khói, và củi hay rơm đang cháy, hành giả chỉ tập trung vào khái niệm về lửa xem như “lửa, lửa” cho đến khi có được uggaha nimitta (học tuớng) rồi phát triển nó theo cách thường lệ.

Tu tập Kasia Gió

Kasia gió đựơc tu tập qua xúc giác, hoặc thị giác. Hành giả phải tập trung vào gió đang thổi qua cửa sổ hoặc cửa ra vào, xúc chạm trên thân thể; hoặc cảnh những chiếc lá hay cành cây rung chuyển trong gió. Tập trung vào khái niệm về gió xem như “gió, gió” cho đến khi hành giả có được học tướng. Hành giả có thể phân biệt tướng của gió bằng cách lập lại tứ thiền với một đối tượng kasia khác, và dùng ánh sáng của định để thấy sự chuyển động này ở bên ngoài. Học tướng (uggaha nimitta) như hơi bốc lên từ cơm sữa nóng, nhưng tợ tướng lại là sự bất động (của hơi ấy). Hãy tu tập nimita (tướng) theo cách thường lệ.

Tu tập Kasia Ánh Sáng

Muốn tu tập kasia ánh sáng, hành giả phải nhìn vào những tia sáng khi chúng chiếu vào phòng, qua một kẽ nứt trên tường chẳng hạn, và rọi trên sàn nhà, hoặc khi những tia sáng ấy chiếu qua những chiếc lá của một cành cây và rơi trên đất. Hành giả cũng có thể nhìn lên qua những cành cây, vào ánh sáng trên bầu trời cao cũng được. Nếu không thể mường tượng được theo cách đó, hành giả có thể đặt một cây nến hay ngọn đèn bên trong một bình đất, rồi đặt cái bình ấy như thế nào để những tia sáng hắt ra từ miệng bình in lên trên tường. Tập trung vào vòng ánh sáng trên tường như một khái niệm, kể như “ánh sáng, ánh sáng” cho đến khi có được học tướng, rồi tu tập nó theo cách thường lệ,

Tu tập Kasia Hư không

Muốn tu tập kasia hư không, hành giả nên nhìn vào khoảng không trong cánh cửa ra vào, cửa sổ, hay lỗ khóa. Nếu không thể mường tượng được hư không theo cách đó, hành giả có thể khoét một lỗ tròn trên miếng bìa cứng khoảng 2 tấc cho đến 3 tấc, cầm tấm bảng lên nhìn, sao để chỉ thấy bầu trời qua lỗ hổng, không có cây cối hoặc những đối tượng khác. Tập trung vào khoảng không trong vòng tròn đó như một khái niệm, xem như “hư không, hư không”, và tu tập tướng (nimitta) ấy theo cách thường lệ.

Bốn Thiền Vô Sắc

Một khi đã đắc bốn thiền sắc giới với từng kasia trong mười kasia, hành giả có thể tiến hành tu tập bốn thiền vô sắc (arūpa jhāna):

- Không vô biên xứ (ākāsānañcāyatana)
- Thức vô biên xứ (vññāñcāyatana)
- Vô sở hữu xứ (ākiñcaññāyatana)
- Phi tưởng, phi phi tưởng xứ (nevasaññā nāsaññāyatana)

Tu tập Không Vô Biên Xứ

Muốn tu tập bốn thiền vô sắc, trước tiên hành giả phải suy xét đến những bất lợi của sắc. Thân người được tạo ra bởi tinh cha, huyết mẹ này được gọi là “nghiệp sanh thân” hay “thân do nghiệp sanh” (karajakāya). Vì có thân nghiệp sanh này mà hành giả phải bị tấn công bởi các loại vũ khí như đao kiếm, giáo mác, súng đạn, và phải chịu bị hành hạ đánh đập đủ thứ. Thân nghiệp sanh cũng còn phải hứng chịu nhiều loại bệnh, như đau mắt, đau tai, đau tim chẳng hạn. Vì thế hành giả phải suy xét với trí tuệ rằng vì có thân nghiệp sanh do sắc cấu thành, hành giả phải chịu đủ mọi loại khổ đau, và nếu như hành giả có thể thoát khỏi sắc này, hành giả cũng có thể thoát khỏi khổ đau ấy.

Mặc dù tứ thiền tế sắc vượt qua được sắc thân vật lý thô, song nó vẫn phải dựa vào đó. Như vậy hành giả cần phải vượt qua sắc kasia. Sau khi đã suy xét như vậy, và hiện tại không còn dục hỷ đối với sắc kasia, hành giả phải lập lại tứ thiền với một trong chín kasia[9], chẳng hạn như kasia đất, xuất khỏi thiền ấy và suy xét đến những bất lợi của nó: thiền này dựa trên sắc, cái mà hành giả không còn dục hỷ, thiền này có hỷ của tam thiền là kẻ thù gần; và nó thô hơn các thiền vô sắc. Có điều ở đây hành giả không cần suy xét đến những bất lợi của các tâm hành (năm thiền chi) trong tứ thiền, bởi vì chúng là như nhau trong các thiền vô sắc. Giờ đây không còn dục hỷ đối với tứ thiền tế sắc, nhưng hành giả cũng phải suy xét đến tính chất an tịnh hơn của các thiền vô sắc.

Sau đó hành giả mở rộng tướng, ở đây là kasia đất, sao cho nó trở thành vô biên, hoặc bao nhiêu tùy ước muốn của hành giả, và thay thế sắc kasia với khoảng không nó chiếm giữ, nhờ tập trung trên khoảng không ấy kể như “hư không, hư không” hay “không vô biên, không vô biên”. Những gì còn lại là khoảng không vô biên trước đó đã bị chiếm giữ bởi kasia.

Nếu không thể làm được như vậy, hành giả nên phân biệt và tập trung vào khoảng không của một chỗ nào đó trên tướng kasia đất, rồi mở rộng, khoảng không ấy ra đến vũ trụ vô biên. Kết quả là toàn bộ tướng kasia đất được thay thế bằng hư không vô biên.

Cứ tiếp tục tập trung vào tướng (nimitta) không vô biên ấy cho đến khi đắc thiền, rồi sau đó hành giả tu tập năm loại thuần thục. Đây là thiền chứng vô sắc thứ nhất, cũng còn gọi là không vô biên xứ.

Tu tập Thức Vô Biên Xứ

Thức Vô Biên Xứ (viññāañcāyatana) hay thiền vô sắc thứ hai, có đối tượng là tâm không vô biên xứ (ākāsānañcāyatana citta), mà đối tượng của nó vốn là hư không vô biên.

Muốn tu tập thức vô biên xứ, hành giả phải suy xét đến những bất lợi của không vô biên xứ, đó là thiền chứng này có tứ thiền tế sắc kể như kẻ thù gần và bản thân nó không được an tịnh như thức vô biên xứ. Lúc này, không còn dục hỷ đối với không vô biên xứ, song hành giả cũng phải suy xét đến tính chất an tịnh hơn của thức vô biên xứ. Rồi tập trung vào tâm có đối tượng là hư không vô biên ấy nhiều lần và ghi nhận nó là “thức vô biên, thức vô biên” hoặc chỉ “thức, thức”.

Cứ tiếp tục tập trung vào tướng thức vô biên cho đến khi hành giả đạt đến thiền (jhāna), và sau đó tu tập năm loại thuần thục. Như vậy, đây là thiền chứng vô sắc thứ hai, hay còn gọi thức vô biên xứ thiền.

Tu tập Vô Sở Hữu Xứ

Thiền vô sắc thứ ba, cũng còn gọi là Vô sở hữu xứ thiền (akiñcaññāyatana), lấy đối tượng là sự vắng mặt của tâm vốn có không vô biên kể như đối tượng của nó, và tâm này cũng chính là đối tượng của thức vô biên xứ.

Muốn tu tập vô sở hữu xứ, hành giả phải suy xét đến những bất lợi của thức vô biên xứ, như thiền này có không vô biên xứ là kẻ thù gần và bản thân nó không an tịnh như vô sở hữu xứ. Dù lúc này không còn dục hỷ đối với thức vô biên xứ, hành giả cũng phải suy xét đến tính chất an tịnh hơn của Vô sở hữu xứ. Rồi tập trung vào sự vắng mặt (hay phi hữu) của thức vốn lấy không vô biên làm đối tượng của nó. Trong trường hợp này có hai tâm thiền: một là tâm thuộc không vô biên xứ (ākāsānañcā yatana citta), và hai là tâm thuộc thức vô biên xứ (viññāañcāyatana citta). Mà hai tâm không thể khởi lên trong một sát-na tâm (cittakkhaa). Khi tâm thuộc không vô biên xứ có mặt, thì tâm kia không thể có mặt, và ngựơc lại. Vì vậy, hành giả lấy sự vắng mặt của tâm thuộc không vô biên xứ làm đối tuợng, và ghi nhận nó là “không có gì, không có gì” hoặc “vắng mặt, vắng mặt”.

Cứ tiếp tục tập trung vào nimitta (tướng) ấy, cho đến khi đắc thiền, rồi hành giả tu tập năm loại thuần thục (đối với vô sở hữu xứ). Như vậy, đây là thiền vô sắc thứ ba, cũng còn gọi Vô sở hữu xứ thiền.

Tu tập Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng Xứ

Thiền vô sắc thứ tư cũng còn gọi là Phi tưởng, phi phi tưởng xứ (nevasaññāāsaññāyatana). Sở dĩ gọi vậy là vì tưởng trong thiền này là cực kỳ vi tế. Thực sự, tất cả các tâm hành trong thiền này cũng đều vi tế cực kỳ như vậy, nên cũng có thể nói phi thọ phi phi thọ, phi tâm phi phi tâm, phi xúc phi phi xúc v.v… Tuy nhiên vì thiền này được giải thích dưới dạng tưởng, và vì nó có đối tượng là tâm thuộc vô sở hữu xứ[10], nên được đặt tên là Phi tưởng phi phi tưởng xứ vậy thôi.

Muốn tu tập phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền, hành giả cũng phải suy xét đến những bất lợi của vô sở hữu xứ, tức là thấy nó có thức vô biên xứ là kẻ thù gần, và bản thân nó không an tịnh như phi tưởng phi phi tưởng xứ. Hơn nữa, tuởng, như đức Thế Tôn nói, là bệnh hoạn, là cục bướu, là mũi tên. Lúc này, dù không còn dục hỷ đối với vô sở hữu xứ, hành giả cũng phải suy xét đến tính chất an tịnh hơn của phi tưởng, phi phi tưởng xứ. Rồi tập trung liên tục vào tâm của vô sở hữu xứ kể như “an tịnh, an tịnh”. Cứ tập trung vào tướng (nimitta) “an tịnh, an tịnh” như vậy liên tục, cho đến khi đắc thiền, rồi sau đó hành giả tu tập năm loại thuần thục. Đây là thiền vô sắc thứ tư, cũng còn gọi là phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Hôm nay chúng ta đã bàn về cách tu tập mười kasia, và tám thiền chứng: bồn thiền sắc giới, và bốn thiền vô sắc. Trong bài giảng kế, chúng ta sẽ bàn về cách làm thế nào để tu tập bốn phạm trú (brahmavihāra): Từ, bi, hỷ và xả; và bốn thiền bảo hộ (caturārakkha bhāvanā): Tâm từ, niệm ân đức Phật, quán bất tịnh và niệm sự chết.

***

HỎI ĐÁP 2

Hỏi 2.1: Người mới bắt đầu hành thiền phải qun bình định căn và tuệ căn như thế nào? Họ phải thực hành tuệ trong niệm hơi thở ra sao?

Đáp 2.1: Ngay trong bài giảng đầu, chúng tôi đã nói về việc quân bình ngũ căn (indriya), tuy nhiên ở đây chúng tôi có thể tóm tắt lại những gì đã nói ấy. Thực sự, đối với hành giả sơ cơ, việc quân bình ngũ căn không quan trọng lắm. Lý do là vì họ chỉ là những người mới bắt đầu, và các căn của họ vẫn chưa phát triển. Lúc đầu hành thiền, tâm thường hay dao động. Do đó các căn vẫn chưa mạnh và có năng lực. Chỉ khi nào chúng phát triển mạnh và có năng lực, lúc ấy mới cần phải quân bình chúng. Tuy thế, nếu hành giả sơ cơ có thể quân bình được các căn ngay ở giai đoạn đầu, thì dĩ nhiên, cũng là điều tốt.

Chẳng hạn, lúc này hành giả đang hành thiền niệm hơi thở – ānāpāsati. Biết hơi thở là tuệ (paññā). Ghi nhớ hơi thở là niệm (sati). Sự hợp nhất của tâm trên hơi thở là định (samādhi). Sự nỗ lực để biết hơi thở cho rõ ràng là tinh tấn (viriya). Tin rằng niệm hơi thở có thể đưa đến chứng thiền là tín (saddhā).

Hành giả sơ cơ phải cố gắng phát triển các căn mạnh mẽ và đầy năng lực này. Tức là, niềm tin của hành giả trong pháp niệm hơi thở phải đủ mạnh. Tinh tấn của hành giả để biết hơi thở một cách rõ ràng phải đủ mạnh. Niệm hay sự ghi nhớ hơi thở của hành giả phải đủ mạnh. Định của hành giả trên hơi thở phải đủ mạnh. Hành giả phải thấy hơi thở một cách rõ ràng, phải cố gắng phát triển ngũ căn cho mạnh mẽ và quân bình chúng. Nếu một căn nào đó thái quá, các căn khác sẽ không thể làm nhiệm vụ của chúng một cách thích đáng.

Chẳng hạn, nếu tín quá mạnh, nó sẽ tạo ra sự xúc động. Điều này có nghĩa là tấn căn không thể duy trì các tâm hành đồng sanh trên hơi thở; niệm căn không thể an lập được trên hơi thở; định căn không thể tập trung sâu vào hơi thở; và tuệ căn không thể biết hơi thở một cách rõ ràng.

Còn khi tinh tấn thái qua, nó sẽ làm cho tâm bất an, vì thế các căn khác cũng trở nên yếu ớt, và không thể thực hiện những nhiệm vụ của chúng một cách thích đáng. Khi niệm yếu, hành giả chẳng thể làm được gì, vì hành giả không thể tập trung vào hơi thở, sẽ có ít hoặc không có tinh tấn để phân biệt hơi thở, và có thể không có tín trong khi ấy.

Hiện tại, hành giả đang hành thiền chỉ (samātha). Trong thiền chỉ, định mạnh là tốt, nhưng nếu thái quá sẽ tạo ra lười biếng, giải đãi. Khi đã lười biếng, các căn khác cũng trở nên yếu đi, và không thể thực hiện nhiệm vụ một cách thích đáng được.

Ở giai đoạn này tuệ rất yếu hoặc hạ liệt. Nó chỉ biết hơi thở tự nhiên. Vì vậy, đối với hành giả sơ cơ đang hành thiền chỉ (samātha) chỉ cần biết hơi thở một cách rõ ràng là đủ. Khi học tướng (uggaha nimitta) hoặc tợ tướng (paibhāga nimitta) xuất hiện, trí tuệ sẽ biết học tướng hay tợ tướng ấy. Có quá nhiều kiến thức phổ thông ngoài những điều này sẽ không tốt, vì hành giả có thể luôn luôn thích bàn luận và bình phẩm. Nếu một người hành thiền luận bàn và bình phẩm quá nhiều về pháp niệm hơi thở, chúng tôi có thể nói rằng tuệ của người ấy thái quá, một điều dễ làm cho các căn khác yếu đi và không thể làm nhiệm vụ một cách thỏa đáng được.

Vì vậy, mặc dù chưa phải là việc quan trọng lắm, song quân bình các căn vẫn được xem là có ích dối với người mới bắt đầu hành thiền. Quân bình chúng như thế nào? Chúng ta phải thực hành với chánh niệm và tinh tấn mãnh liệt để biết rõ hơi thở, và tập trung vào hơi thở với niềm tin (tín).

Hỏi 2.2: Tại sao, sau khi đạt đến tứ thiền chúng ta không đi thẳng vào phân biệt ngũ uẩn, tính chất vô thường – khổ – vô ngã của chúng, để thành tựu Niết-bàn? Tại sao trước khi đắc Niết-bàn chúng ta cần phải hành thiền trên ba mươi hai thể trược, bộ xương, kasia trắng, tứ đại, danh-sắc, duyên khởi và Vipassanā (minh sát)?

Đáp 2.2: Đức Phật dạy pháp hành Minh sát trên ngũ uẩn cho ba loại người: người có tuệ nhạy bén, người mà tuệ minh sát của họ về danh không được rõ rệt, và người thích hành Vipassanā (minh sát) theo cách tóm tắt.

Thế nào là năm uẩn? Thế nào là sự khác nhau giữa năm uẩn và Danh-sắc?

Trước khi trả lời câu hỏi thứ hai này, chúng ta hãy bàn qua về Danh-sắc và ngũ uẩn. Có bốn thực tại tuyệt đối hay pháp chân đế (paramattha), tâm (citta), tâm sở (cetasikā), sắc (rūpa) và Niết-bàn (Nibbāna).

Muốn đạt đến Niết-bàn, thực tại tuyệt đối thứ tư, chúng ta phải thấy được tính chất vô thường, khổ và vô ngã của ba thực tại kia, tức là, chúng ta phải thấy:

1. Tám mươi chín loại tâm
2. Năm mươi hai tâm sở
3. Hai mươi tám loại sắc.[11]

Tám mươi chín loại tâm được gọi là thức uẩn (viññāakkhandha). Trong năm mươi hai tâm sở, thọ là thọ uẩn (vedanākkhandha); tưởng là tưởng uẩn (saññakkhandha); và năm mươi tâm sở còn lại là hành uẩn (sakharakkhandha). Có khi tâm (citta), và các tâm sở (cetasikā) hợp lại gọi là Danh (nāma). Có khi chúng lại được thấy dưới dạng bốn uẩn: thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn, gộp lại tạo thành Danh uẩn (nāmakhandha). Sắc uẩn (rūpakkhandha) là hai mươi tám loại sắc. Tâm, tâm sở và sắc hợp lại gọi là Danh-sắc (nāmā rūpa). Đôi khi chúng cũng được gọi là ngũ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Các nhân của chúng cũng chỉ là Danh-sắc.

Năm uẩn bị chấp thủ này là Khổ đế pháp (Dukkha sacca dhammā): các pháp (dhamma) thuộc về Khổ thánh đế. Chúng cần phải được hiểu là như vậy. Trong “Mahānidāna sutta” (Kinh Đại Duyên) thuộc Trường Bộ I, đức Phật giải thích:

“Giáo pháp Duyên khởi này thật là thâm sâu, này nanda, và thâm sâu thay là pháp Duyên khởi. Này nanda, chính do không không hiểu biết, không thể nhập Dhamma (pháp) này, mà chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một tổ kén, rối ren như một ống chỉ, bùng nhùng như rễ lau đan bện, không thể tìm được lối thoát ra khỏi vòng luân hồi với những khổ xứ, ác thú… đọa xứ của nó” [12].

Liên quan đến lời tuyên bố này, các bản chú giải giải thích.

Không một người nào, ngay cả trong giấc mộng, thoát ra khỏi cái vòng tử sanh luân lưu đáng sợ, đã từng hủy diệt (các hữu tình) như sấm sét, trừ phi người ấy, bằng dao tuệ, khéo mài trên đá thiền định cao thượng, cắt đứt đựơc cái bánh xe Sanh Hữu (duyên khởi), vốn không đưa ra một cơ sở nào (để hiểu được), do sự thâm sâu quá mức của nó, và cũng khó chấp nhận do tính chất phức tạp của nhiều pháp môn.[13]

Điều này có nghĩa là người hành thiền nếu không biết, không thể nhập pháp Duyên khởi qua những giai đoạn Minh Sát Tuệ khác nhau, thì không thể thoát khỏi vòng tái sanh luân hồi.

Trong Aguttara Nikāya (Tăng Chi Kinh) điều này đã được đức Phật nói rõ: “Và thế nào, này các tỳ khưu, là Thánh đế về Tập khởi của Khổ?

Do vô minh làm duyên, (có) các hành; hành làm duyên, có thức; thức làm duyên, có danh sắc; danh sắc làm duyên, có lục nhập; lục nhập làm duyên có xúc; xúc làm duyên, có thọ; thọ làm duyên, có ái; ái làm duyên, có thủ; thủ làm duyên, có hữu; hữu làm duyên, có sanh; sanh làm duyên, có già – chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

Như vậy là nguồn gốc (tập khởi) của toàn bộ khổ uẩn này. Này các tỳ khưu, đây gọi là Thánh đế về nguồn gốc “tập khởi của Khổ.”[14]

Đây cũng được gọi là pháp duyên khởi. Và đức Phật đã từng nói duyên khởi là Thánh đế về Nguốc gốc của Khổ (samudaya sacca).

Thánh đế về Khổ, là năm uẩn chấp thủ, và Thánh đế về Nguồn gốc của Khổ, tức pháp Duyên khởi, được gọi là các Hành (sakhārā). Chúng là đối tượng của tuệ Minh sát (vipassanā). Ở những giai đoạn khác nhau của tuệ minh sát hành giả phải nắm bắt được các hành này là vô thường, khổ và vô ngã. Không biết và thể nhập chúng, làm thế nào hành giả có thể nắm bắt được chúng là vô thường v.v…? Đó là lý do tại sao chúng tôi phải dạy thiền Minh sát theo hệ thống.

Muốn biết sắc chân đế, sắc thủ uẩn, hành giả phải hành thiền tứ đại cho tới khi thấy được sắc ấy bao gồm những phần tử nhỏ mà chúng ta gọi là các nhóm hay tổng hợp sắc (rūpa kalapas), và hành giả cũng cần phải thấy được tứ đại trong các nhóm sắc nhỏ ấy nữa[15]. Sau đó hành giả cần phân biệt cả hai: căn và đối tượng của nó cùng với nhau[16]. Không phân biệt sắc theo cách này, hành giả không thể nào phân biệt được danh, bốn danh uẩn chấp thủ. Đó là lý do vì sao chúng tôi dạy Vipassanā theo từng giai đoạn.

Bây giờ, trả lời cho câu hỏi thứ hai của hành giả. Theo truyền thống Phật giáo Thượng Tọa Bộ (Theravāda), có hai loại đề tài thiền (kammaṭṭhāna) là: parihāriya kammaṭṭhānasabbatthaka kammaṭṭhāna. Pārihāriya kammaṭṭhāna – Ứng dụng nghiệp xứ – là đề tài thiền mà cá nhân mỗi hành giả qua đó tu tập định để dùng làm nền tảng cho Minh sát (vipassanā). Hành giả phải luôn luôn sử dụng đề tài thiền này như nền tảng của mình. Còn Sabbatthaka kammaṭṭhāna – Nhất thiết xứ Nghiệp xứ – ngược lại, là đề tài thiền mà tất cả các hành giả đều phải tu tập giống nhau[17]. Đó là bốn thiền bảo hộ.

1. Thiền tâm Từ (mettā bhāvanā)
2. Niệm ân đức Phật (Buddhānussati)
3. Niệm sự chết (maraānussati)
4. Quán bất tịnh (asubha bhāvanā)

Như vậy, mặc dù một hành giả sử dụng niệm hơi thở như “Ứng dụng nghiệp xứ” của mình, song vẫn phải thực hành bốn thiền bảo hộ này trước khi chuyển sang tu tập Minh sát. Đây là cách tiến hành theo đúng truyền thống đạo Phật.

Muốn tu tập thiền tâm từ cho đạt đến một bậc thiền nào đó, nếu hành giả đã tu tập thiền kasia màu trắng đạt đến tứ thiền rồi vẫn tốt hơn. Câu chuyện về năm trăm vị tỳ khưu mà bài “Kinh Từ Bi” (karaīyametta sutta) đã được đức Phật dạy cho họ là một điển hình. Các vị tỳ khưu này rất thông thạo trong mười kasia (đề mục biến xứ) và tám thiền chứng (samāpatti), đã hành Minh sát đạt đến Sanh diệt tuệ (udayabbaya ñāa), và cùng nhau đi vào rừng để hành thêm. Nhưng cuối cùng họ phải quay về với đức Phật vì các vị chư Thiên cư ngụ trong khu rừng ấy cảm thấy khó chịu trước sự có mặt của các vị tỳ khưu và hiện ra những tướng quái dị để dọa dẫm các vị tỳ khưu này. Nhân đó đức Phật dạy họ bài kinh “Từ Bi” vừa như một đề tài thiền và vừa như một bài kinh cầu an (paritta). Là một đề tài thiền, bài kinh này dành cho những vị đã đắc thiền tâm từ (mettā jhāna) và đã phá bỏ được các ranh giới giữa những loại người khác nhau[18]. Nói chung, “Kinh Từ Bi” là một pháp hành về tâm từ đã được chuyên biệt hóa, trong đó hành giả thực hành lên đến tam thiền bằng cách mở rộng tâm từ đến mười một loại người với ý nghĩ “Sukhino v khemino hontu, sabbe sattā bhavantu sukhitattā” (Cầu mong tất cả chúng sanh được an ổn và hạnh phúc v.v…). Kinh nói rằng đức Phật biết năm trăm vị tỳ khưu này chắc chắn sẽ hành rất dễ, vì họ đã thành thạo trong mười kasia. Và thiền tâm từ được hành dễ dàng hơn nhờ thiền kasia như thế nào?

Trong Tăng Chi Kinh đức Phật nói rằng trong bốn kasia màu (xanh, vàng, đỏ, trắng), kasia trắng là thù thắng nhất[19]. Kasia trắng làm cho tâm hành giả trong sáng rõ ràng. Một cái tâm trong sạch và tĩnh lặng như vậy rất cao thượng và đầy năng lực. Nếu hành giả hành thiền tâm từ với tâm trong sáng, không có những phiền não, thì thường thường sẽ đắc thiền tâm từ trong một thời ngồi thiền. Vì vậy nếu hành giả nhập tứ thiền kasia trắng, sau đó xuất khỏi thiền ấy, và hành thiền tâm từ sẽ rất dễ thành công.

Để đạt đến tứ thiền kasia trắng, người hành thiền trước phải hành thiền bộ xương bên trong và bên ngoài. Vì như vậy sẽ làm cho thiền kasia trắng trở nên dễ hơn. Do đó, sau tứ thiền hơi thở chúng tôi thường dạy các thiền sinh hành ba mươi hai thể trược, thiền bộ xương và thiền kasia trắng. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, phần lớn các hành giả đều nói rằng tứ thiền kasia trắng tốt hơn tứ thiền hơi thở, vì nó tạo ra một cái tâm rõ ràng hơn, trong sáng hơn và tĩnh lặng hơn, được xem là rất hữu ích cho việc hành các đề tài thiền khác. Vì thế chúng tôi thường dạy thiền kasia trắng trước khi thiền tâm từ.

Cũng có một vấn đề chung đối với những người mới hành thiền. Có thể hành giả đã thành thiền tâm từ rồi. Nhưng, hành giả đạt đến thiền (jhāna) chưa? Trong thực hành, nếu một hành giả muốn mở rộng tâm từ đến một người cùng phái nào đó, trước hết hành giả phải lấy khuôn mặt tươi cười của người ấy làm đối tượng, rồi tu tập tâm từ hướng về người ấy với ý nghĩ: “Cầu mong con người tốt đẹp này thoát khỏi sự khổ tâm v.v…”. Đối với hành giả sơ cơ, khuôn mặt tươi cười ấy chẳng bao lâu sẽ biến mất. Hành giả không thể nào tiếp tục thiền tâm từ của mình được, vì không có đối tượng, do đó mà hành giả không thể đắc thiền tâm từ hoặc một thiền nào khác.

Nếu hành giả dùng tứ thiền kasia trắng, thì lại khác. Hành giả xuất khỏi thiền này, và khi tu tập tâm từ, lúc ấy nhờ có định đi trước nên khuôn mặt tươi cười (đối tượng) sẽ không biến mất. Hành giả có thể tập trung sâu vào hình ảnh đó, và có thể đắc đến tam thiền tâm từ trong một thời tọa thiền. Nếu hành giả hành có hệ thống và đạt đến chỗ phá bỏ được những ranh giới giữa các hạng người, thì thậm chí hành giả có thể hành được mười một cách rải tâm từ theo Kinh Từ Bi (Karaīyamettā sutta), và năm trăm hai mươi tám cách đề cập trong bộ “Luận Vô Ngại Giải Đạo” (Paisambhidā Magga)[20]. Cũng chính vì lý do này, chúng tôi thường thường dạy thiền kasia trắng trước thiền tâm từ.

Hành giả cũng có thể đã hành pháp môn niệm Ân đức Phật (Buddhānussati). Song hành giả đã đắc cận định chưa? Khi người nào đã thành công trong thiền tâm từ rồi thực hành pháp môn tùy niệm Phật, họ có thể đạt đến cận định trong một thời ngồi thiền, ở đây cũng là do có định đi trước vậy. Quán bất tịnh (asubha) cũng sẽ trở nên dễ dàng. Nếu hành giả hành thiền (quán) bất tịnh đạt đến sơ thiền, rồi sau đó niệm sự chết (maraānussati), hành giả có thể thành công trong một thời ngồi thiền.

Đó là lý do tại sao chúng tôi dạy thiền kasia trắng truớc bốn thiền bảo hộ. Tuy nhiên, nếu một hành giả muốn đi thẳng vào Minh sát (vipassanā), không hành bốn thiền Bảo hộ, họ có thể làm vậy, không có vấn đề gì cả.

Hỏi 2.3: Vì sao, sau khi đã phân biệt danh và sắc rồi, thiền sinh còn phải hành các pháp môn thứ nhất và thứ năm của pháp Duyên khởi (paiccasamuppāda) nữa? Pháp môn thứ nhất và thứ năm ấy là gì? [21]

Đáp 2.3: Theo truyền thống Thượng Tọa Bộ, có bảy giai đoạn Thanh Tịnh (visuddhi). Năm thanh tịnh đầu là:

1. Giới thanh tịnh (sīla visuddhi)

Giới có bốn loại[22]

- Giới phòng hộ theo giới bổn (Paimokkhā savarasīla)
- Giới phòng hộ các căn (indriya savara sīla)
- Giới thanh tịnh sanh mạng (ajīva pārisuddhi sīla)
- Giới liên quan tứ vật dụng (paccaya sannissita sīla)

2. Tâm thanh tịnh (citta visuddhi) – là cận định và tám thiền chứng (samāpatti).

3. Kiến thanh tịnh (diṭṭhi visuddhi) tức Danh Sắc Phân tích trí (nāma rūpa paricchedañāa)

4. Đoạn nghi thanh tịnh (kakhāvitaraa visuddhi) tức Tuệ nắm bắt Nhân duyên (paccaya pariggaha ñāa), hay nói cách khác là tuệ thấy duyên khởi tánh (paiccasamuppāda)

5. Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh (maggāmaggāñaa dassana visuddhi) tức tuệ Thẩm sát tam tướng (sammasana ñāa) và tuệ quán Sanh diệt (udyabbaya ñāa) là những tuệ khởi đầu của Minh sát.

Như vậy, trước Minh sát có bốn thanh tịnh. Tại sao? Minh sát là “tuệ” làm nhiệm vụ thấu rõ tính chất vô thường, khổ và vô ngã của Danh Sắc và các nhân của chúng. Không biết Danh Sắc và các nhân của chúng, làm thế nào chúng ta có thể thấu hiểu được rằng chúng là vô thường, khổ và vô ngã? Chúng ta hành minh sát như thế nào? Chỉ sau khi chúng ta đã phân biệt được danh sắc và các nhân của chúng một cách rành mạch, chúng ta mới có thể hành thiền minh sát được.

Danh Sắc và các nhân của chúng được gọi là các “Hành” (sakhāra). Chúng diệt ngay khi vừa sanh, đấy là lý do vì sao chúng là vô thường; chúng phải chịu sanh diệt liên tục, nên là khổ; chúng không có tự ngã (atta) hoặc một bản thể bền chắc không bị tiêu hoại, nên là vô ngã.

Hiểu rõ vô thường, khổ và vô ngã theo cách này là Minh sát thực thụ. Vì vậy trước khi hành Minh Sát, chúng tôi dạy thiền sinh phải phân biệt danh, sắc và duyên khởi tánh. Chú giải giải thích nó như là “aniccanti pañcakkhandhā[23] (ngũ uẩn là vô thường), và “aniccanti khandha pañcaka[24]. Có nghĩa “Vô thường chính là năm uẩn”. Năm uẩn, nói cách khác, là danh sắc và các nhân của chúng. Như vậy, Minh sát thực thụ đòi hỏi người hành thiền phải biết năm uẩn, và các nhân cũng như quả của chúng.

Đức Phật tùy theo căn tánh của người nghe mà dạy bốn phương pháp phân biệt duyên khởi. Trong Vô Ngại Giải Đạo, còn có một phương pháp nữa[25]. Vị chi là có năm phương pháp hay năm pháp môn. Phương pháp thứ nhất trong số đó được đức Phật dạy là phương pháp phân biệt duyên khởi theo chiều thuận.

Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, v.v…

Phương pháp này phổ biến trong Phật giáo Nguyên Thủy (hay Theravāda), nhưng lại rất khó đối với ai không có kiến thức về Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Ngay cả những hành giả có kiến thức Vi Diệu Pháp tương đối cũng vẫn có khả năng gặp nhiều khó khăn.

Phương pháp thứ năm do Ngài Xá Lợi Phất dạy, và được ghi lại trong Kinh Tạng i, bộ Vô Ngại Giải Đạo, tương đối dễ đối với hành giả mới thực hành minh sát. Phương pháp này nhắm vào việc phân biệt năm nhân quá khứ tạo ra năm quả hiện tại, và năm nhân hiện tại sẽ tạo ra năm quả vị lai. Đây là nguyên tắc chính trong phương pháp thứ năm. Nếu hành giả muốn biết nó bằng kinh nghiệm trực tiếp, hành giả phải hành cho tới giai đoạn này.

Sau khi thực hành theo đúng hệ thống pháp môn thứ năm này, hành giả sẽ không gặp nhiều khó khăn khi hành phương pháp thứ nhất nữa. Vì lý do này chúng tôi dạy phương pháp thứ năm trước phương pháp thứ nhất. Dĩ nhiên chúng tôi sẽ dạy cả năm phương pháp cho những ai có đủ thời gian, và nhất là muốn hành thêm. Nhưng, cho dù đức Phật dạy duyên khởi theo căn tánh người nghe, một phương pháp cũng là đủ để đắc Niết-bàn rồi. Cũng vậy, vì phương pháp thứ nhất được xem là phổ biến trong Đạo Phật Nguyên Thủy, nên chúng tôi dạy cả hai phương pháp thứ nhất và thứ năm cho tiện.

Một lần nọ, tôn giả Ānanda sau khi đã hành pháp Duyên khởi theo bốn cách. Vào buổi chiều, ngài đi đến gặp đức Phật và bày tỏ: “Bạch Đức Thế Tôn, mặc dù pháp duyên khởi thâm sâu là vậy, nó cũng dễ đối với con.” Đức Phật trả lời.

Etassa cānanda, dhammassa ananubodhā, appaivedhā evamaya pajā tankākulakajāta, kulāgathikajāta, muñjapabbajabhūtā apāya duggati vinipāta sasāra nātivattati.”

Nghĩa là không hiểu rõ pháp duyên khởi xuyên qua Tùy giác trí (anubodha ñāa) và Thông đạt trí (paivedha ñāa), con người không thể thoát khỏi vòng luân lưu sanh tử (sasāra), và bốn ác đạo (apāya). Tùy giác trí ở đây là trí phân tích Danh Sắc (nāma rūpa pariccheda ñāa), và trí phân biệt (nắm bắt) Nhân Duyên (pacāya pariggaha ñaa). Còn Thông đạt trí (Paivedha ñāa) là tất cả các minh sát trí (vipassanā ñāa). Vì vậy, không hiểu rõ duyên khởi với tùy giác trí và thông đạt trí này, ta không thể đạt đến Niết-bàn. Từ đoạn kinh trên, chú giải nói rằng không hiểu rõ duyên khởi, không ai có thể thoát khỏi vòng luân lưu sanh tử, dù là trong giấc mơ.[26]

-ooOoo-

[1] D.II.9.; MN. I. 1.10.

[2] Cửa vào thuộc các kasia mầu đã đề cập trong Kinh Đại Niết-bàn (Mahā Parinibbāna Sutta D.II. 3.), Abhibhāyatana sutta – A. viii. V. ii.5). Cửa vào thuộc quán bất tịnh và không tánh (vô ngã) đã đựơc đề cập trong “Mahasatipaṭṭhāna sutta – Đại Niệm Xứ Kinh. D.II.9. phần niệm Thân.

[3] Vs. VIII “Kāyagatāsati kathā” B 214 (Mindfulness of the Body Explanation - Giải thích về NiệmThân

[4] Vbh. A. vii. I “Suttantabhājanīya kāyānupassanā Niddesa”.

[5] Vbh. Ti. ibid.

[6] Vbh, A. ibid

[7] A. X.I.iii.9. “Pahamakosala sutta” (First Kosala sutta“)

[8] M. II. iii7 Mahāsakuludāyī sutta (Đại kinh Sakuludāya) và Das I (Aṭṭhākasia soasakkattuka – Tám kasia và Mười sáu lần.)

[9] Vì lẽ hư không không phải là sắc, do đó kasin.a hư không không thể được dùng để vượt qua sắc kasin.a nhằm đạt đến một thiền chứng vô sắc nào đó.

[10] Điều này đã bàn đến ở trên, liên quan đến những tướng khác nhau trong niệm hơi thở (ānāpānasati).

[11] Chi tiết xem bản 1

[12] D.ii.2. “Mahānidāna sutta” (Kinh Đại Duyên).

[13] Vbh. A. vi. I “Suttantabhājaniya Vaṇṇanā” Vs. XVII.

[14] A.III.II.ii.I. “Titthāyatano sutta” (Sectarian Doctrines sutta).

[15] Muốn biết về thiền tứ đại và các chi tiết liên hệ, xem bài giảng số 4.

[16] Xem thêm ở phần “Giới thiệu”.

[17] Về điều tại sao và như thế nào hành giả phải bảo vệ thiền của mình, xem lại ở trên; chi tiết xem bải giảng số 3.

[18] Chi tiết thêm về Thiền tâm từ, xem “Làm cách nào để tu tập các Phạm Trú và Thiền Bảo hộ”

[19] A. X. I. iii.9 ” Pathama Kosal Sutta

[20] Ps. II. iv “Mettā Kathā” (Chú giải Thiền Tâm Từ).

[21] Chi tiết về cách tu tập các pháp môn thứ nhất và thứ năm của Duyên Khởi pháp, xem bài giảng số 6.

[22] Vs I. “Sīlappabhedakatha“.

[23] Vs. VIII “Ānāpānasati Kathā” B. 236

[24] Vbh. A. ii I. “Suttantabhājanya Vaṇṇanā

[25] Ps. I. i. 4. Dhammaṭṭhitiñāa Niddeso

[26] Chi tiết hơn, xem lại “Giới thiệu”

-ooOoo-

BÀI PHÁP THOẠI 3

Tu tập Bốn Phạm Trú và Bốn Thiền Bảo Hộ

Giới thiệu

Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về cách tu tập bốn Phạm trú (cattāro brahma vihāra), và bốn thiền bảo hộ (catura rakkha bhāvanā). Bốn phạm trú là những đề tài thiền thuộc về:

1. Từ (mettā)
2. Bi (Karuā)
3. Hỷ (muditā)
4. Xả (upekkhā)

Bốn thiền bảo hộ là những đề tài thiền thuộc về:

1. Từ (mettā)
2. Niệm ân đức Phật (Buddhānussati)
3. Thiền (quán) bất tịnh (asubha bhāvanā)
4. Niệm sự chết (Maraāsussati)

Tu tập Tâm Từ

Muốn tu tập tâm Từ hay Từ vô lượng tâm (mettā), trước hết hành giả cần phải biết rằng thiền này không nên tu tập đối với một người khác phái (lingavisabhāga), hoặc một người đã chết (kālākatapuggala).

Không nên dùng một người khác phái làm đối tượng (để rải tâm từ), vì dục tham đối với người (nam hay nữ) ấy có thể sẽ phát sinh. Tuy nhiên, sau khi hành giả đã đắc thiền thì có thể tu tập tâm từ đến người khác phái theo nhóm, chẳng hạn như “cầu mong tất cả nữ nhân đều được an lành”. Một người chết lại càng không nên dùng, vì hành giả không thể đắc thiền tâm từ với một người đã chết làm đối tượng.

Những người mà hành giả nên tu tập tâm từ đến họ là:

- Bản thân (atta)
- Người hành giả kính mến (piya puggala)
- Người hành giả không thương không ghét (majjhatta puggala)
- Người hành giả ghét (verī puggala)

Mặc dù vậy, lúc ban đầu hành giả chỉ nên tu tập tâm từ đến hai hạng người là bản thân và người mà hành giả kính mến. Điều này có nghĩa là lúc mới hành thiền tâm từ, hành giả không nên rải tâm từ đến những loại người sau:

- Người hành giả không thích (appiya puggala)
- Người rất thân với hành giả (atippiya sahāyaka puggala)
- Người hành giả không thương không ghét (majjhatta puggala)
- Người hành giả ghét (verī puggala)

Một người hành giả không thích là người không làm điều gì có lợi cho hành giả, hoặc có lợi cho những người mà hành giả quan tâm. Người hành giả ghét là người làm điều tổn hại đến hành giả, hoặc tổn hại đến những người mà hành giả quan tâm. Những người này rất khó cho hành giả rải tâm từ đến họ lúc ban đầu, vì sân hận có thể khởi lên (khi nghĩ đến họ). Buổi đầu cũng sẽ khó tu tập tâm từ đến một người mà hành giả không thương không ghét. Còn trường hợp của một người rất thân, hành giả có thể bị dính mắc vào người ấy, tức là quá lo lắng, ưu tư, thậm chí khóc than nếu nghe có điều gì xảy đến cho người nam hay nữ ấy. Vì vậy, bốn loại người này không nên dùng làm đối tượng rải tâm từ lúc ban đầu. Mặc dù sau đó, khi hành giả đã đắc thiền tâm từ rồi, hành giả có thể tu tập tâm từ đến với họ.

Hành giả không thể đắc thiền khi dùng chính bản thân mình làm đối tượng, cho dù có tu tập thiền ấy cả trăm năm. Như vậy, tại sao lại khởi đầu bằng việc tu tập tâm từ cho chính mình? Thực sự nó không đắc được dù chỉ là cận định, nhưng vì khi hành giả đã tu tập tâm từ cho bản thân mình, với ý nghĩ “Cầu mong cho tôi được an vui”, rồi hành giả mới có thể đồng hóa mình với mọi người; để thấy rằng nếu ta muốn được an vui, không muốn đau khổ, muốn được sống lâu, không muốn chết như thế nào, thì những người khác cũng muốn được an vui, không muốn khổ, muốn được sống lâu, không muốn chết như thế ấy.

Như vậy, hành giả có thể tu tập một cái tâm biết ước mong hạnh phúc và thịnh vượng cho tha nhân. Theo những lời đức Phật dạy[1]:

Sabbā disā anupaparigamma cetasā,
Nevajjhagā piyatara mattanā kvaci.
Eva
piyo puthu attā paresa
Tasmā na hi
se paramattakāmo.

Tâm ta đi cùng khắp
Tất cả mọi phương trời
Cũng không tìm thấy được
Ai thân hơn tự ngã
Tự ngã đối mọi người
Quán thân ái như vậy
Vậy ai yêu tự ngã,
Chớ hại tự ngã người

Như vậy, để đồng hóa mình với mọi người theo cách này, và làm cho tâm dịu dàng, thân ái, trước tiên hành giả phải tu tập tâm từ đối với chính mình với ý nghĩ như sau:

1. Cầu mong cho tôi thoát khỏi hiểm nguy (aha avero homi)
2. Cầu mong cho tôi thoát khỏi khổ tâm (abyāpajjho homi)
3. Cầu mong cho tôi thoát khỏi khổ thân (anīgho hoti)
4. Cầu mong cho tôi được an vui, hạnh phúc (sukhī attāna pariharāmi)

Nếu tâm chúng ta dịu dàng, nhân ái, hiểu biết, và có sự đồng cảm đối với tha nhân, chúng ta sẽ tu tập tâm từ đến người khác không mấy khó khăn. Vì vậy, tâm từ mà hành giả tu tập cho bản thân mình được mạnh mẽ và có năng lực thật là quan trọng. Một khi tâm hành giả đã trở nên dịu dàng, nhân ái, hiểu biết và có sự đồng cảm đối với tha nhân, lúc ấy hành giả có thể tu tập tâm từ đối với họ.

Làm cách nào để tu tập tâm Từ đến từng hạng Người

Nếu hành giả đã đắc tứ thiền hơi thở, hoặc kasia trắng, hành giả nên lập lại định ấy để cho ánh sáng bừng tỏ và tỏa chiếu. Đặc biệt là với ánh sáng của tứ thiền kasia trắng hành giả thực sự sẽ rất dễ tu tập thiền tâm Từ. Lý do là vì với định của tứ thiền tâm được thanh lọc khỏi tham, sân, si và những phiền não khác. Sau khi xuất khỏi tứ thiền kasia trắng, tâm dễ uốn nắn, dễ sử dụng, thuần tịnh, trong sáng và tỏa chiếu, nhờ những điều kiện này, hành giả trong một thời gian rất ngắn có thể tu tập tâm Từ thật mạnh mẽ và hoàn hảo.

Như vậy, với ánh sáng mạnh mẽ và chói sáng, hành giả nên hướng tâm đến một người cùng phái mà hành giả kính mến; có thể đó là thầy tổ hoặc bạn đồng tu của hành giả. Hành giả sẽ thấy rằng ánh sáng tỏa khắp mọi hướng chung quanh hành giả, và bất cứ người nào hành giả chọn làm đối tượng cũng đều trở nên rõ rệt. Kế đó hành giả bắt lấy hình ảnh của nguời đó, đang ngồi hoặc đang đứng, và chọn hình ảnh nào làm cho hành giả thích nhất và hạnh phúc nhất. Cố gắng hồi tưởng lại thời gian người ấy được hạnh phúc nhất mà hành giả đã từng thấy, và chọn hình ảnh đó. Làm cho hình ảnh ấy xuất hiện trước mặt hành giả cách khoảng chừng một mét. Khi hành giả đã có thể thấy hình ảnh người đó thật rõ ràng trước mặt, hãy tu tập tâm Từ đến người đó với bốn ý nghĩ:

1. Cầu mong con người hiền thiện này đựơc thoát khỏi hiểm nguy (aya sappuriso avero hotu)
2. Cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi khổ tâm (aya sappuriso abyāpajjo hotu)
3. Cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi khổ thân (aya sappuriso anīgho hotu)
4. Cầu mong con người hiền thiện này được an vui hạnh phúc (aya sappuriso sukhī attāna pariharatu).

Mở rộng tâm từ đến người ấy với cách như vậy khoảng ba hay bốn lần, rồi chọn một cách hành giả thích nhất, chẳng hạn, “Cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi mọi hiểm nguy”. Kế, với hình ảnh mới của người đó, mới ở đây là trường hợp thoát khỏi hiểm nguy, mở rộng tâm Từ bằng cách dùng một ý nghĩ tương xứng, trong trường hợp này, “Cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi hiểm nguy, cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi hiểm nguy”. Lặp đi lặp lại nhiều lần, cho tới khi tâm được an định và gắn chặt trên đối tượng, đồng thời hành giả có thể phân biệt các thiền chi. Rồi duy trì pháp hành cho đến khi hành giả đạt đến nhị thiền và tam thiền. Sau đó lấy một cách khác trong ba cách còn lại và tu tập tâm từ cho đến tam thiền. Mỗi lần như vậy hành giả phải có một hình ảnh tương xứng cho cách đã chọn, tức là, khi nghĩ “Cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi hiểm nguy”, thì hành giả phải có một hình ảnh đặc biệt của người đó như vừa được thoát khỏi hiểm nguy, khi nghĩ “Cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi khổ tâm”, hành giả phải có hình ảnh khác, một trong những hình ảnh về nguời đó không có khổ tâm hay ưu sầu v.v… Bằng cách này, hành giả tu tập ba bậc thiền, và nhớ rằng ở mỗi trường hợp cần phải thực hành năm pháp thuần thục (vasī bhāva).

Khi hành giả đã thành công trong việc rải tâm từ đến nguời mình kính mến rồi, hãy lập lại điều đó với một người cùng phái mà hành giả kính mến khác. Cứ thử làm như vậy với khoảng mười người thuộc loại đó, cho đến khi hành giả có thể đạt đến tam thiền lấy bất cứ ai trong họ làm đề mục cũng được. Đến giai đoạn này hành giả có thể tiến hành một cách an toàn tới những người rất thân với hành giả (atippiyasahāyaka), song vẫn phải cùng phái. Lấy khoảng mười người thuộc loại đó và tu tập tâm từ đến họ từng ngừơi một, theo cách đã nói, cho tới khi đạt đến tam thiền.

Lúc này hành giả kể như đã thuần thục thiền tâm từ đến mức độ có thể tu tập nó đối với khoảng mười người cùng phái mà hành giả ghét, theo cách như trên. Nếu hành giả thuộc hạng Đại nhân giống như đức Bồ tát khi Ngài làm khỉ chúa Mahākapi, không bao giờ oán ghét người làm hại mình, và hành giả thực sự không sân hận hay oán ghét một người nào, thì không cần phải tìm một người (loại sân hận) để dùng làm đề mục thiền ở đây. Chỉ những ai có người mình oán ghét hay ác cảm mới có thể tu tập tâm từ đối với loại người đó.

Cứ thực hành thiền tâm từ theo cách này, tức là theo cách tu tập định cho đến tam thiền trên mỗi loại người, tiến dần từ người này đến người kế, từ dễ nhất đến khó nhất, làm cho tâm hành giả càng lúc càng trở nên dịu dàng, nhân ái và nhu nhuyến, đến cuối cùng, khi hành giả có thể đắc thiền trên bất kỳ loại người nào trong bốn loại: người hành giả kính mến, người rất thân với hành giả, người hành giả không thương không ghét vàngười hành giả oán ghét.

Làm thế nào để phá bỏ ranh giới (Sīmāsambheda)

Khi hành giả tu tập tâm từ liên tục như vậy, hành giả sẽ thấy rằng tâm từ của mình đối với những người mình kính mến, và những người thân thiết trở nên bằng nhau, và hành giả có thể xem họ như một, tức như chỉ là người mình thích. Lúc đó hành giả sẽ chỉ còn bốn loại người này:

1. Bản thân.
2. Người hành giả thích.
3. Người hành giả không ưa không ghét.
4. Người hành giả oán ghét.

Hành giả cần tu tập tâm từ liên tục đối với bốn loại người này, cho tới khi tâm từ đối với họ trở nên quân bình, không có sự phân biệt. Mặc dù hành giả không thể đắc thiền tâm từ với chính bản thân mình làm đối tượng, song vẫn cần phải kể chung vào đấy để quân bình bốn loại.

Muốn làm điều này, hành giả cần lập lại tứ thiền hơi thở hoặc kasia trắng. Với ánh sáng mạnh mẽ và chói sáng của định, hành giả mở rộng tâm từ đối với bản thân mình trong khoảng một phút hoặc vài giây; rồi hướng về người hành giả thích, kế đến một người hành giả không ưa không ghét, và rồi đến một người hành giả oán ghét, với mỗi người như vậy phải đạt cho đến tam thiền. Rồi lại rải tâm từ đến bản thân một cách ngắn gọn, tuy nhiên, đối với ba loại kia, lúc này mỗi loại phải là một người khác. Hãy nhớ tu tập chúng với từng cách như đã nói: “Cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi hiểm nguy”, rồi “Cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi khổ tâm”, v.v… với mỗi đối tượng, cho đến tam thiền.

Như vậy mỗi lần hành giả phải thay đổi người ở mỗi trong ba loại: người hành giả thích, người không ưa không ghét và người hành giả oán ghét. Cứ làm đi làm lại như vậy nhiều lần với các nhóm bốn khác nhau, sao cho tâm hành giả phát triển lòng từ liên tục không gián đoạn, và không có những sự phân biệt. Khi đã có thể tu tập thiền tâm từ đối với bất kỳ loại người nào trong bốn loại này không có sự phân biệt, hành giả kể như đã thành tựu những gì được gọi là “sự phá bỏ ranh giới” (simāsambheda). Khi ranh giới giữa những người đã được phá bỏ, hành giả có thể tu tập thêm thiền tâm từ này, bằng cách thọ trì pháp môn mà Tôn giả Xá Lợi Phất dạy và được ghi lại trong bộ Paisambhidāmagga – Vô Ngại Giải Đạo.[2]

Hai Mươi Hai Phạm Trù Mở Rộng Tâm Từ

Pháp môn đề cập trong Vô Ngại Giải Đạo bao gồm hai mươi hai phạm trù qua đó hành giả mở rộng tâm từ của mình: năm phạm trù mở rộng tâm từ không nêu rõ (anodhiso pharaā), bảy phạm trù mở rộng tâm từ có nêu rõ (odhiso pharaā), và mười phạm trù mở rộng tâm từ theo phương hướng (disā pharaā)

Năm phạm trù không nêu rõ gồm:

1. Tất cả chúng sinh (sabbe sattā)
2. Tất cả loài có hơi thở (sabbe pāā)
3. Tất cả sinh vật (sabbe bhūtā)
4. Tất cả mọi người (sabbe puggalā)
5. Tất cả các cá thể (sābbe attabhāva pariyapannā)

Bảy phạm trù có nêu rõ gồm:

1. Tất cả nữ nhân (sabbā itthyo)
2. Tất cả nam nhân (sabbe purisā)
3. Tất cả thánh nhân (sabbe ariyā)
4. Tất cả phàm nhân (sabbe anāriya)
5. Tất cả chư thiên (sabbe devā)
6. Tất cả nhân loại (sabbe munussā)
7. Tất cả chúng sanh trong các cảnh giới thấp (sabbe vinipātikā)

Mười phạm trù theo phương hướng gồm:

1. Hướng Đông (puratthimāya disāya)
2. Hướng Tây (pacchimāya disāya)
3. Hướng Bắc (uttarāya disāya)
4. Hướng Nam (dakkiāya disāya)
5. Hướng Đông Nam (puratthimāya anudhisāya)
6. Hướng Tây Bắc (pacchimāya anudisāya)
7. Hướng Đông Bắc (uttarāya anudisāya)
8. Hướng Tây Nam (dakkhināya anudisāya)
9. Hướng dưới (heṭṭhimāya disāya)
10. Hướng trên (uparimāya disāya).

Tu tập Năm Phạm Trù Không Nêu Rõ như thế nào

Muốn tu tập pháp môn thiền tâm từ này, hành giả cũng phải lập lại tứ thiền hơi thở hoặc kasia trắng như trước, rồi tu tập tâm từ đối với bản thân, một người hành giả kính mến hoặc thân thiết, một người không thương không ghét, và một người hành giả oán ghét, cho đến khi không còn những ranh giới giữa họ và hành giả.

Kế đó dùng ánh sáng sáng chói, rực rỡ của định để thấy tất cả chúng sanh trong một vùng rộng lớn quanh hành giả, quanh nhà ở hay tu viện. Khi các chúng sanh ấy được thấy rõ ràng rồi, hành giả có thể tu tập tâm từ đến họ theo năm phạm trù không nêu rõ, và bảy phạm trù có nêu rõ, tổng cộng là mười hai. Ở mỗi phạm trù hành giả nên rải tâm từ theo bốn cách:

1. Cầu mong họ thoát khỏi hiểm nguy
2. Cầu mong họ thoát khỏi khổ tâm
3. Cầu mong họ thoát khỏi khổ thân
4. Cầu mong họ được an vui, hạnh phúc…

“Họ” ở đây là một trong mười hai phạm trù đã kể, như tất cả chúng sanh, tất cả chư thiên v… Như vậy hành giả sẽ rải tâm từ tổng cộng bốn mươi tám cách [(7+5)4)=48].

Những chúng sanh trong mỗi phạm trù phải được thấy rõ ràng trong ánh sáng của định và sự hiểu biết. Chẳng hạn như, khi hành giả mở rộng tâm từ đến tất cả nữ nhân, thì hành giả phải thực sự thấy những nữ nhân trong vùng đã xác định với ánh sáng của định. Đối với các phạm trù khác cũng phải thấy thực sự như vậy. Hành giả phải tu tập mỗi phạm trù cho đến tam thiền trước khi chuyển sang phạm trù kế tiếp, và phải hành theo cách này cho tới khi trở nên thành thạo trong việc rải tâm từ theo tất cả bốn mươi tám cách.

Một khi đã thành thạo, hành giả nên mở rộng vùng đã ấn định ấy ra toàn chùa, toàn làng, toàn tỉnh, toàn bang, toàn nước, toàn thế giới, toàn thái dương hệ, toàn giải ngân hà, và toàn vũ trụ vô biên. Mỗi trong những vùng mở rộng này, hành giả tu tập theo bốn mươi tám cách đã nói cho đến tam thiền.

Khi thành thạo rồi hành giả có thể tiến hành sang phạm trù mười hướng.

Tu tập Phạm Trù Theo Mười Hướng

Các phạm trù rải tâm từ theo mười hướng bao gồm bốn mươi tám phạm trù đã bàn đến trước đó ở mỗi trong mười hướng.

Hành giả phải thấy tất cả chúng sanh trong toàn thể vũ trụ vô biên theo hướng Đông của hành giả, và mở rộng tâm từ đến họ theo bốn mươi tám cách. Rồi cũng làm y vậy đối với hướng Tây của hành giả và các hướng khác.

Điều này đưa tổng số lên bốn trăm tám mươi cách mở rộng tâm từ (10×48=480). Nếu thêm bốn mươi tám phạm trù biến mãn tâm từ ban đầu vào, chúng ta có năm trăm hai mươi tám cách mở rộng tâm từ (480+48=528).

Khi hành giả thuần thục năm trăm hai mươi tám cách rải tâm từ này, hành giả sẽ kinh nghiệm mười một lợi ích của việc hành tâm từ mà đức Phật đã dạy trong Kinh Tăng Chi (Anguttara Nikāya)[3]:

“Này các Tỳ khưu, khi từ tâm giải thoát được trau dồi, được tu tập, được thực hành, được làm thành cỗ xe, được làm thành nền tảng, đựơc an trú, được củng cố, và thọ trì đúng cách, thời mười một lợi ích có thể trông đợi. Thế nào là mười một? (1) Người ấy ngủ an lạc; (2) thức an lạc; (3) không ác mộng; (4) được loài người thân ái (5); các hàng phi nhân thân ái; (6) chư thiên bảo hộ; (7) không bị lửa, thuốc độc, binh khí xúc chạm; (8) tâm dễ đắc định; (9) sắc mặt trong sáng; (10) lúc chết không rối loạn; và (11) nếu không đắc cao hơn, người ấy sẽ tái sanh Phạm Thiên giới.”

Tu tập Tâm Bi

Một khi hành giả đã tu tập tâm từ như vừa mô tả ở trên được rồi thì việc tu tập phạm trú Bi vô lượng sẽ không khó. Để tu tập tâm bi, trước hết hành giả phải chọn một người cùng phái với mình đang chịu đau khổ. Hành giả phải làm khơi dậy lòng bi mẫn đối với họ bằng cách suy xét đến nỗi khổ đau mà họ đang gánh chịu.

Kế đó lập lại tứ thiền với kasia mầu trắng, nhờ vậy ánh sáng sẽ trong sáng hơn, và dùng ánh sáng đó để thấy người ấy, rồi tu tập tâm từ cho đến tam thiền. Xuất khỏi tam thiền, hành giả tu tập tâm bi đối với người đang đau khổ đó với ý nghĩ “Cầu mong con người hiền thiện này thoát khỏi khổ đau” (aya sappuriso dukkhā muccatu). Làm vậy nhiều lần, lập đi lập lại cho tới khi hành giả đắc sơ thiền, rồi nhị thiền, và tam thiền cùng với năm pháp thuần thục cho mỗi bậc thiền chứng. Sau đó, hành giả sẽ tu tập tâm bi như đã làm với tâm từ, đó là, tu tập cho bản thân, cho một người hành giả thích, một người hành giả không thích cũng không ghét, và một người hành giả oán ghét, cho đến tam thiền, tới khi các ranh giới được phá bỏ.

Muốn tu tập tâm bi đối với những chúng sanh không có phương diện đau khổ nào rõ ràng cả, hành giả phải suy tư trên sự kiện rằng mọi chúng sanh chưa giác ngộ đều phải cảm thọ những kết quả của điều ác mà họ đã làm trong quá trình lang thang qua vòng từ sanh luân hồi, vì vậy có lúc phải tái sanh trong bốn ác đạo (địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh và atula). Hơn nữa, mọi chúng sanh đều đáng thương tâm, vì họ chắc chắn không thoát khỏi cái khổ của già, đau và chết.

Sau khi suy xét như vậy, hành giả cũng tu tập tâm bi như đã tu tập tâm từ, tức là tu tập tâm bi đối với chính bản thân mình và hai loại người thông thường cho đến tam thiền, tới khi các ranh giới được phá bỏ.

Sau đó hành giả còn phải tu tập tâm bi theo cùng một trăm ba mươi hai cách mà hành giả đã tu tập tâm từ, đó là: năm phạm trù không nêu rõ, bảy phạm trù có nêu rõ, và một trăm hai mươi phạm trù theo phương hướng [5+7+(10x12)=132].

Tu tập Tâm Hỷ

Muốn tu tập tâm Hỷ vô lượng hay Hỷ phạm trú (muditā), hành giả phải chọn một người cùng phái với mình và đang hạnh phúc, người mà hình ảnh của họ làm cho hành giả sung sướng, và người mà hành giả rất thích được thân thiện với họ.

Kế tiếp hành giả lập lại tứ thiền trên kasia trắng, nhờ vậy ánh sáng sáng tỏ rõ ràng hơn, rồi dùng ánh sáng ấy để thấy người đó, và tu tập tam thiền trên đề mục tâm từ. Xuất khỏi tam thiền và tu tập tam thiền tâm bi. Xuất khỏi tam thiền tâm bi và tu tập tâm hỷ đến người đang hạnh phúc ấy với ý nghĩ: “Cầu mong con người hiền thiện này không phải xa lìa những thành công y đã đạt được” (aya sappuriso yathāladdhasampattito māvigacchatu). Lập đi lập lại như vậy nhiều lần cho đến hành giả đạt đến sơ thiền, nhị thiền, và tam thiền, cùng với năm loại thuần thục cho mỗi thiền chứng.

Kế tiếp hành giả tu tập thiền tâm hỷ cho chính bản thân mình và ba loại người thông thường lên đến tam thiền, cho tới khi các ranh giới đã được phá bỏ. Cuối cùng hành giả tu tập tâm hỷ đối với tất cả chúng sanh trong vũ trụ vô biên theo một trăm ba mươi hai cách.

Tu tập Tâm Xả

Muốn tu tập tâm Xả vô lượng hay Xả phạm trú (upekkhā), trước hết hành giả phải thiết lập lại tứ thiền trên kasia trắng. Sau đó chọn một người cùng phái với hành giả và còn sống, đối với người này hành giả không thương cũng không ghét (có thái độ dửng dưng), và tu tập tâm từ, bi và hỷ đến họ cho đến tam thiền. Rồi xuất khỏi tam thiền và suy xét đến những bất lợi của ba phạm trú (từ, bi, hỷ) đó, nghĩa là thấy chúng gần với lòng thương yêu, với ưa và ghét, với hãnh diện và mừng vui. Sau đó suy xét đến tứ thiền y cứ trên xả là an tịnh hơn. Rồi hành giả tu tập tâm xả đối với người mình không ưa không ghét ấy với ý nghĩ: “Con người hiền thiện này là kẻ thừa tự của nghiệp riêng của y (aya sappuriso kammassako)”. Lập đi lập lại điều này nhiều lần cho tới khi hành giả đạt đến tứ thiền và năm loại thuần thục của nó. Với sự hỗ trợ của tam thiền thuộc từ, bi và hỷ, không bao lâu hành giả sẽ phát triển được tứ thiền thuộc xả này.

Sau đó tu tập xả đến một người hành giả kính mến hoặc thân ái với hành giả, đến một người rất thân, và đến một người hành giả thù ghét. Rồi lại đến chính bản thân hành giả, đến một người kính mến hoặc thân ái, một người không thương không ghét, và một người hành giả thù ghét, cho tới khi phá bỏ được ranh giới giữa hành giả (và mọi người).

Cuối cùng tu tập tâm xả vô lượng này tới tất cả chúng sanh trong vũ trụ vô biên theo một trăm ba mươi hai cách đã nói ở trên.

Đến đây hoàn tất việc tu tập Bốn phạm trú hay Tứ Vô Lượng Tâm.

Tu tập Bốn Thiền Bảo Hộ

Bốn đề tài thiền tâm Từ, niệm ân đức Phật, quán Bất tịnh và niệm Sự Chết được gọi là “Bốn thiền Bảo Hộ”. Sở dĩ gọi là “Bốn Thiền Bảo Hộ” vì chúng bảo vệ cho người hành thiền (hành giả) khỏi các loại hiểm nguy. Chính vì lý do này mà việc học và tu tập chúng trước khi tiến hành tu tập thiền Minh Sát (vipassanā) là điều đáng phải làm. Ở trên chúng ta đã thảo luận về cách làm thế nào để tu tập tâm từ rồi, vì vậy bây giờ chúng ta sẽ chỉ bàn về việc tu tập ba loại thiền bảo hộ khác còn lại. Chúng ta hãy bắt đầu với niệm ân đức Phật.

Tu tập Niệm Ân Đức Phật

Tùy niệm Phật hay niệm Ân Đức Phật (buddhānussati) có thể đựơc tu tập bằng cách nhìn vào chín ân đức của đức Phật, dùng công thức mà Ngài (đức Phật) đã thường xuyên đưa ra trong các bản kinh[4]:

Itipiso Bhagavā (Đức Thế Tôn là như vậy):

1. Araha
2. Sammā Sambuddho
3. Vijjā caraa sampanno
4. Sugato
5. Lokavidū
6. Anuttaro Purisadamma Sārathi
7. Satthā Deva Manusāna
8. Buddho
9. Bhagavā’ti

Những ân đức này có thể được giải thích tóm tắt như sau:

1. Đức Thế Tôn này, sau khi đã diệt tận mọi phiền não, là bậc đáng cúng dường: Araha (Ứng cúng).

2. Ngài đã tự mình đạt đến sự giác ngộ viên mãn: Sammāsambuddho (Chánh biến tri).

3. Ngài toàn hảo cả minh lẫn hạnh: Vijjācarana sampanno (Minh hạnh túc).

4. Ngài chỉ nói những gì đem lại lợi ích và chơn chánh: Sugato (Thiện thệ).

5. Ngài biết rõ các thế gian: Lokavidū (Thế gian giải).

6. Ngài là bậc điều phục những người đáng được điều phục không ai bằng được: Anuttaro Purisadamma Sārathi (Vô thượng sĩ điều ngự trượng phu).

7. Ngài là Thầy của chư Thiên và nhân loại: Satthā Deva Manussāna (Thiên nhân sư).

8. Ngài là bậc giác ngộ: Buddho (Phật).

9. Ngài là bậc sở hữu may mắn nhất những quả nghiệp công đức đã làm trước đây: Bhagavā (Thế Tôn).

Bây giờ chúng ta sẽ nói đến cách tu tập định, chẳng hạn như, với ân đức thứ nhất: Araha (Ứng cúng). Theo Visuddhi-magga (Thanh tịnh đạo), từ i: Araha có năm cách định nghĩa:

1. Vì Ngài đã hoàn toàn tiêu diệt, không còn dư tàn, mọi phiền não và những tiền khiên tật (khuynh hướng quen thuộc), nhờ vậy đã tự mình xa lìa chúng, nên đức Phật là bậc đáng cúng dường: Araha (Ứng cúng).

2. Vì Ngài đã cắt đứt mọi cấu uế với gươm Thánh đạo A-la-hán, nên đức Phật là bậc đáng cúng dường: Araha.

3. Vì Ngài đã bẻ gãy và tiêu diệt mọi cây căm của bánh xe duyên khởi, bắt đầu với vô minh và tham ái, nên đức Phật là bậc đáng cúng dường: Araha.

4. Vì giới, định, tuệ của Ngài không ai sánh bằng, nên đức Phật được các hàng Phạm thiên, chư thiên và loài người vô cùng kính trọng, do đó Ngài là bậc đáng cúng dường: Araha.

5. Vì Ngài không bao giờ làm những điều ác bằng thân, khẩu và ý dù ở nơi vắng vẻ, kín đáo, nên đức Phật là bậc đáng cúng dường: Araha.

Muốn tu tập thiền này, hành giả phải ghi nhớ năm định nghĩa này thật đầy đủ để tụng đọc. Sau đó lập lại tứ thiền kasia trắng hay tứ thiền hơi thở, nhờ vậy ánh sáng bừng tỏ rõ ràng hơn.

Sau đó lập lại tứ thiền hơi thở hoặc kasia trắng, nhờ vậy ánh sáng bừng tỏ rõ ràng hơn. Rồi dùng ánh sáng ấy để mường tượng một hình ảnh của Đức Phật mà hành giả nhớ được với lòng yêu mến và kính trọng. Khi hình ảnh Phật được rõ ràng rồi, hành giả hãy xem đó như Đức Phật thực sự và tập trung tâm trên đấy.

Nếu trong quá khứ hành giả đã may mắn gặp Đức Phật, thì hình ảnh của Ngài có thể tái hiện. Trong trường hợp này, hành giả cũng phải tập trung vào những ân đức của Phật, chứ không chỉ hình ảnh Ngài mà thôi. Nếu hình ảnh của Đức Phật thực không xuất hiện, thì trước tiên hãy xem hình ảnh mường tượng đó như Đức Phật thực, rồi hồi tưởng lại những ân đức của Ngài. Hành giả có thể chọn một định nghĩa về Araha nào mà mình thích nhất, lấy ý nghĩa (của ân đức ấy) làm đối tượng, và hồi tưởng đi hồi tưởng lại nhiều lần ý nghĩa ấy kể như Araha (A-la-hán).

Khi định tâm của hành giả phát triển và mỗi lúc một mạnh hơn, hình ảnh của Đức Phật sẽ biến mất và lúc này hành giả sẽ chỉ duy trì định tâm trên ân đức đã chọn. Cứ tiếp tục tập trung vào ân đức đó cho tới khi các thiền chi sanh lên, mặc dù với thiền này hành giả chỉ có thể đạt đến cận định (upacāara-jhāna). Hành giả cũng có thể tập trung vào những ân đức Phật còn lại, theo cách như trên nữa.

Tu tập Quán bất tịnh

Thiền bảo hộ thứ hai là quán bất tịnh (asubha bhāvanā) trên một tử thi. Muốn tu tập thiền này hành giả cũng phải thiết lập lại tứ thiền hơi thở hoặc kasia trắng, nhờ vậy ánh sáng sáng tỏ rõ ràng hơn. Rồi dùng ánh sáng ấy để mường tượng một xác chết khủng khiếp nhất, cùng phái (với hành giả), mà hành giả nhớ đã từng thấy. Dùng ánh sáng để thấy xác chết đó chính xác như khi hành giả đã thực sự thấy nó trong quá khứ. Khi đã thấy nó rõ rồi, hãy làm cho nó xuất hiện thực ghê tởm đến mức có thể được. Tập trung vào đó và ghi nhận “bất tịnh, bất tịnh” (patikkūla, patikkūla)[5]. Tập trung trên đối tượng bất tịnh của tử thi cho đến khi học tướng (uggaha-nimitta) trở thành tợ tướng (patibhāga-nimitta). Học tướng là hình ảnh của tử thi giống như khi hành giả thực sự thấy trong quá khứ, và là một cảnh tượng kinh dị, đáng sợ và gớm ghiếc, nhưng tợ tướng lại giống như một người tay chân to lớn đang nằm đấy sau khi đã ăn uống đầy bụng. Tiếp tục tập trung vào tợ tướng (nimitta) ấy cho tới khi hành giả đạt đến sơ thiền, và rồi tu tập năm loại thuần thục (của sơ thiền).

Tu tập Niệm sự chết

Thiền bảo hộ thứ ba là niệm sự chết (maranā nussati). Theo kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipatthāna) và bộ Thanh tịnh Đạo, niệm sự chết cũng có thể được tu tập bằng cách dùng một tử thi mà hành giả nhớ đã thấy. Do đó, hành giả nên lập lại sơ thiền với tính chất bất tịnh của một tử thi, và với tử thi bên ngoài ấy kể như đối tượng, suy xét: “Thân này của ta đây cũng có cùng bản chất phải chết như vậy. Quả thực, nó sẽ chết giống như tử thi này. Không thể nào tránh khỏi trở thành như thế này.” Bằng cách giữ cho tâm tập trung trên (tử thi ấy) và niệm tưởng cái chết của chính hành giả, hành giả sẽ thấy rằng ý nghĩa kinh cảm (savega)[6] được đánh thức dậy (hay phát triển). Với trí (kinh cảm) này, có thể hành giả sẽ thấy thân của mình như một xác chết bất tịnh như vậy. Tưởng tri rằng mạng căn (life-faculty) trong tử thi ấy đã bị cắt đứt, hành giả tập trung vào sự vắng mặt của mạng căn (tuổi thọ) với một trong những ý tưởng sau đây:

1. Cái chết của ta là chắc chắn, còn mạng sống là không chắc (maraa me dhuva, jīvita me adhu va)
2. Chắc chắn ta sẽ chết … (marana me bhavissati)
3. Mạng sống của ta sẽ chấm dứt trong cái chết. (maraapariyosāna me jīvita)
4. Chết … chết (maraa maraa)

Hãy chọn một trong bốn câu trên và niệm tưởng bằng bất kỳ ngôn ngữ nào cũng được. Tiếp tục tập trung vào hình ảnh vắng mặt mạng căn (thọ mạng) trong chính xác chết của hành giả, cho tới khi các thiền chi khởi lên, mặc dù với đề mục thiền này hành giả chỉ có thể đạt đến cận định.

Tóm tắt

Như ở trên đã đề cập, bốn đề mục thiền: tâm từ, niệm ân đức Phật, quán bất tịnh và niệm sự chết được gọi là Bốn thiền Bảo hộ, bởi vì chúng bảo vệ người hành thiền khỏi những hiểm nguy.

Trong “Kinh Meghiya” một bài kinh thuộc Tiểu bộ (Khuddaka Nikāya) có nói:

Asubhā bhavetabbā rāgassa pahānāya, mettā bhāvetabbā byāpādassa pahānāya; ānāpanassati bhāvetabbā vitakkupacchedāya.
(Muốn loại trừ dục tham, quán bất tịnh phải được tu tập; loại trừ sân, tâm từ phải được tu tập; và niệm hơi thở cần phải được tu tập để cắt đứt những tư duy lan man).

Theo bài kinh này, quán bất tịnh được xem là vũ khí tốt nhất để loại trừ dục tham. Nếu hành giả lấy một tử thi làm đối tượng, và xem đó như là bất tịnh, thì đó gọi là “tính chất bất tịnh của một thể xác vô thức” (aviññāaka asubha). Còn nếu lấy ba mươi hai thể phần của một chúng sanh, và thấy chúng là bất tịnh (như kinh Girimānanda trong Tăng chi bộ kinh đã mô tả) thì gọi là “tính chất bất tịnh của một thân sống, hay hữu thức ” (saviññāaka asubha). Cả hai hình thức quán bất tịnh này đều là lợi khí cho việc loại trừ dục tham.

Vũ khí tốt nhất để loại trừ sân hận là tu tập tâm từ, và để loại trừ tư duy tán loạn là niệm hơi thở.

Hơn nữa, khi tín căn trong thiền lơi lỏng, và tâm cùn nhụt, vũ khí tốt nhất là tu tập niệm ân đức Phật. Khi tâm kinh cảm lơi lỏng, và hành giả cảm thấy chán với việc hành thiền, thì vũ khí tốt nhất là niệm sự chết.

Hôm nay chúng ta đã bàn về cách tu tập bốn Phạm Trú và bốn Thiền Bảo Hộ. Trong bài giảng kế, chúng ta sẽ bàn đến cách tu tập thiền Minh sát, bắt đầu với pháp hành thiền tứ đại, và phân tích về các loại sắc khác nhau.

Các lợi ích của Thiền Chỉ (Samatha)

Trước khi chấm dứt bài giảng này, tôi muốn đề cập một cách tóm tắt mối liên hệ giữa Thiền Chỉ và Thiền Minh Sát.

Trong Tương ưng Kinh, Đức Phật có nói:

Samādhi, bhikkhave, bhāvetha; samāhito, bhikkhave, bhikkhu yathābhūta pajānāti. Kiñca yathābhūta pajānāti? Rūpassa samudayañca atthagamañca, vedānaya samudayañca atthagamañca, sannāya samudayañca atthagamañca, sakhārāna samu dayañca atthagamañca, viññāassa, samudayañca atthagamañca.
(Này các tỳ khưu, các ông nên tu tập định. Vị tỳ khưu có định sẽ tuệ tri các pháp như chúng thực sự là. Và thế nào (là các pháp) vị ấy tuệ tri như chúng thực sự là? Sự sanh khởi của sắc và sự hoại diệt của nó; sự sanh khởi của các cảm thọ, của các tưởng, của các hành, và sự hoại diệt của các cảm thọ, của tưởng và các hành ấy; sự sanh khởi của thức và sự hoại diệt của thức ấy.)

Do đó vị tỳ khưu có định sẽ tuệ tri năm uẩn, các nhân của năm uẩn, cũng như sự sanh khởi và hoại diệt của chúng. Vị ấy thấy rõ rằng do sự sanh khởi của các nhân (của chúng) mà năm uẩn sanh, và do sự diệt hoàn toàn của các nhân ấy mà năm uẩn cũng diệt hoàn toàn.

Thiền Chỉ (Samatha) mà chúng ta đã bàn luận trong hai bài giảng đầu và bài giảng hôm nay tạo ra năng lực định mạnh. Chính ánh sáng của định này sẽ cho phép hành giả thấy được danh-sắc chân đế để hành Minh Sát. Với năng lực định thâm sâu, mạnh mẽ ấy, hành giả có thể thấy rõ tính chất vô thường, khổ, và vô ngã của Danh-sắc và các nhân của chúng. Sự trong sáng rõ ràng này là một lợi ích lớn xuất phát từ Thiền Chỉ.

Hơn nữa, Thiền Chỉ còn cho hành giả một nơi nghỉ ngơi. Trong thiền Minh Sát, do phân biệt quá nhiều nên mệt mỏi có thể phát sanh. Trường hợp như vậy, hành giả có thể trú vào một bậc thiền nào đó một thời gian để nghỉ ngơi. Sự nghỉ ngơi này sẽ làm cho tâm hành giả được tươi tỉnh trở lại, và sau đó có thể trở lại với công việc minh sát. Như vậy, bất cứ khi nào mệt mỏi phát sinh, hành giả có thể nhập thiền để an dưỡng trở lại.

Đây là những lợi ích của Thiền Chỉ mà hành giả cần phải nhớ, khi chúng ta bước sang bài giảng sau về thiền Minh sát.

***

HỎI ĐÁP 3

Hỏi 3.1: Trong niệm hơi thở (ānāpānasati) có chuẩn bị tướng (parikamma-nimitta), học tướng (uggaha-nimitta) và tợ tướng (patibhāga-nimitta). Thế nào là chuẩn bị tướng? Có phải chuẩn bị tướng luôn luôn có màu xám không? Gì là sự khác nhau giữa chuẩn bị tướng và học tướng?

Đáp 3.1: Trong niệm hơi thở có ba loại tướng (nimitta), ba loại định (samadhi), ba loại thiền hay tu tập (bhāvana).

Ba loại tướng là:

1. Chuẩn bị tướng – parikamma-nimitta
2. Học tướng – uggaha-nimitta
3. Tợ tướng – paibhāga-nimitta

Ba loại định là:

1. Chuẩn bị định – parikamma-samādhi. Đôi khi định này còn được gọi là sát-na định (khaika-samādhi)
2. Cận định – upacāra-samādhi
3. An chỉ định – appanā-samādhi

Cũng còn gọi là định của bậc thiền như tám thiền chứng[7]

Ba loại tu tập là:

1. Tu tập chuẩn bị (parikamma bhāvanā)
2. Tu tập cận hành (upacāra bhāvanā)
3. Tu tập an chỉ (appanā bhāvanā)

Đối tượng của chuẩn bị định có thể là chuẩn bị tướng, học tướng, và đôi khi cũng có thể là tợ tướng. Tu tập chuẩn bị cũng giống như chuẩn bị định vậy.

Cận định thực thụ, và tu tập cận định thực thụ rất gần với An chỉ định hay bậc thiền (jhāna); đây là lý do tại sao chúng được gọi là cận (access = gần). Song có khi định thâm sâu và mạnh mẽ trước định an chỉ, với tợ tướng (pātibhāga nimitta) làm đối tượng, cũng được gọi là “cận định” hoặc “cận thiền” như một lối ẩn ý. Khi chuẩn bị định hoặc sát-na định được phát triển đầy đủ sẽ dẫn đến cận định. Khi cận định được tu tập sung mãn sẽ đưa đến an chỉ định (jhāna).

Trong các buổi giảng trước chúng ta đã bàn luận về tướng (nimitta) rồi. Như đã nói, tướng có ba loại là: chuẩn bị tướng, học tướng và tợ tướng.

1. Chuẩn bị tướng (parikamma nimitta): chúng ta biết hơi thở tự nhiên là một nimitta (tướng). Điểm xúc chạm cũng là tướng. Ở đây nimitta là đối tượng của sự tập trung hay sự định tâm. Chú giải nói rằng tướng ở mũi (nāsika nimitta), và tướng ở môi trên (mukha nimitta) là những parikamma nimitta (chuẩn bị tướng) cho hành giả mới thực hành. Khi sự định tâm mạnh hơn một chút, một màu xám như khói thường xuất hiện quanh lỗ mũi. Màu xám như khói này cũng là chuẩn bị tướng. Nó cũng có thể có màu khác nữa. Sự định tâm và tu tập ở giai đoạn chuẩn bị tướng được xem là bước sơ khởi.

2. Học tướng (uggaha nimitta): Khi chuẩn bị định tăng cường sức mạnh và năng lực thì cái màu xám như khói ấy thường chuyển sang màu trắng, trắng như bông gòn vậy. Nhưng nó cũng có thể trở thành màu khác, do một chuyển đổi nào đó trong tưởng[8]. Khi tưởng thay đổi, màu sắc và hình dáng của tướng cũng có thể thay đổi. Nếu màu sắc và hình dáng thay đổi thừơng xuyên quá, thì định tâm sẽ dần dần suy giảm. Điều này xảy ra là vì khi tưởng của hành giả thay đổi, đối tượng của hành giả cũng thay đổi theo cách tưởng tri ấy và như vậy có nghĩa là hành giả có những đối tượng khác nhau. Do đó, hành giả phải bỏ qua màu sắc và hình dạng của tướng và nên tập trung vào nó chỉ như một tướng hơi thở (ānāpāna-nimitta) mà thôi. Sự tập trung và tu tập trên học tướng (uggaha nimitta) cũng là bước sơ khởi.

3. Tợ tướng (paibhāga-nimitta): Khi sự định tâm trở nên mạnh mẽ và vững chắc hơn nữa, học tướng sẽ chuyển sang tợ tướng. Thường thường tợ tướng sẽ trong sáng và tỏa chiếu giống như sao mai. Tuy nhiên, trong trường hợp này cũng vậy, nếu tưởng thay đổi thì nimitta cũng có thể thay đổi. Chẳng hạn, khi định tâm vững chắc và mạnh mẽ, hành giả muốn tướng là dài nó sẽ trở thành dài; muốn ngắn nó sẽ trở thành ngắn; muốn màu đỏ như hồng ngọc nó sẽ trở thành đỏ như hồng ngọc. Thanh Tịnh Đạo khuyên hành giả không nên làm như vậy[9]. Vì nếu làm, thì dù cho định có thâm sâu mấy đi chăng nữa, nó cũng sẽ dần dần suy giảm. Điều này là do hành giả có những tưởng khác nhau, và do đó những đối tượng cũng khác nhau. Vì vậy, hành giả không nên đùa chơi với tướng (nimitta). Nếu đùa chơi với tướng thì hành giả sẽ không thể nào đắc thiền (jhāna) được.

Giai đoạn ban đầu của định và tu tập (Thiền) trên tợ tướng cũng còn là giai đoạn chuẩn bị. Nhưng khi gần với bậc thiền (jhāna) thì chúng là cận định và tu tập cận hành. Khi an chỉ khởi lên, nimitta vẫn là tợ tướng (patibhāga nimitta), nhưng định bây giờ là an chỉ định, và tu tập là tu tập an chỉ (appanā bhāvanā).

Hỏi 3.2: Thế nào là sự khác nhau giữa cận định và an chỉ định?

Đáp 3.2: Khi tợ tướng xuất hiện, định sẽ rất mạnh và vững chắc. Nhưng ở giai đoạn này, tức giai đoạn cận định này các thiền chi chưa được phát triển sung mãn và tâm hữu phần (bhavaga = tâm duy trì đời sống) vẫn khởi lên; hành giả rơi vào hữu phần. Trong trạng thái này hành giả sẽ cho rằng mọi thứ đã dừng lại, hoặc có thể nghĩ đó là Niết-bàn, và nói: “lúc ấy tôi không còn biết gì hết”. Nếu như hành giả thực hành theo cách này, cuối cùng hành giả có thể trú trong hữu phần (bhavaga) một thời gian khá dài.

Trong bất kỳ loại pháp hành nào, dù tốt hay xấu, nếu thực hành thường xuyên, người ta sẽ thành tựu mục đích của mình. “Thực hành làm cho hoàn thiện là vậy”. Trong trường hợp này cũng thế, nếu hành giả hành đi hành lại nhiều lần theo cách như vậy, hành giả có thể rơi vào hữu phần trong thời gian khá lâu. Tại sao họ nói họ không biết gì hết? Bởi vì đối tượng của bhavaga (Hữu phần tâm) là đối tượng của tâm cận tử trong kiếp trước. Đối tượng đó có thể là nghiệp (kamma), nghiệp tướng (kamma nimitta) hoặc thú tướng (gati nimitta). Song hành giả không thể thấy điều này, vì hành giả chưa phân biệt được duyên khởi tánh. Chỉ khi nào hành giả phân biệt được Duyên khởi thì lúc đó hành giả mới thấy được tâm bhavaga (Hữu phần) ấy bắt lấy một trong ba đối tượng vừa nêu vào lúc cận tử.

Nếu một vị hành giả nghĩ rằng trạng thái đó là Niết-bàn thì đây là một “tảng đá” rất lớn cản lối vào Niết-bàn. Và nếu không giải tỏa được “khối đá” ấy, hành giả không thể nào đạt đến Niết-bàn. Vì sao ý niệm này khởi lên? Rất nhiều hành giả nghĩ rằng vị thinh văn đệ tử Phật có thể không hiểu Danh-sắc như lời Đức Phật dạy. Vì thế họ không nghĩ rằng việc phát triển định thâm sâu để phân biệt Danh-sắc và các nhân của chúng như lời Đức Phật dạy là cần thiết. Hậu quả là định tâm của họ yếu kém và tâm hữu phần vẫn khởi lên do các thiền chi quá yếu. Định tâm của họ không thể duy trì lâu. Còn nếu hành giả cố tình hành để rơi vào hữu phần (bhavaga), hành giả sẽ thành tựu mục đích của mình, nhưng đó không phải là Niết-bàn. Muốn đạt đến Niết-bàn chúng ta phải hành bảy giai đoạn thanh tịnh theo tuần tự từng bước một; không biết danh sắc chân đế và các nhân của chúng, không ai có thể đắc Niết-bàn được.

Vấn đề cho rằng chứng cái vô tri (không biết gì) là Niết-bàn có lẽ cũng cần phải được giải thích thêm nữa ở đây (để tránh ngộ nhận).

Chúng ta biết Niết-bàn là Visakhāra (Vô hành) tức là “không có các hành”. Các hành (sakhāra) là danh sắc và các nhân của chúng, còn Niết-bàn thì không có cả hai. Tâm biết Niết-bàn được gọi là tâm không có các hành sanh – visakhāragara citta (vô hành sanh tâm). Nhưng tự thân nó không phải là visakhāra (vô hành); vì hành vi thấy Niết-bàn đòi hỏi phải có sự hình thành của tâm vậy.

Tâm đó được hình thành, chẳng hạn như khi Đức Phật hoặc vị A-la-hán nhập thánh quả định và thấy Niết-bàn, thì được gọi là tâm quả A-la-hán (arahattaphala citta) cùng với các tâm sở đồng sanh. Nếu tâm quả A-la-hán được nhập vào từ căn bản sơ thiền, như vậy đó là một tâm A-la-hán thánh quả sơ thiền (hay tâm tứ quả sơ thiền) và có ba mươi bảy tâm hành (đồng sanh). Nguyên tắc này cũng được áp dụng cho các Đạo-Quả tuệ khác. Cùng với các tâm sở phối hợp của chúng, các tâm này lấy Niết-bàn làm đối tượng; và Niết-bàn thì có đặc tính của sự tịnh lạc (peaceful bliss).

Bất cứ khi nào một bậc Thánh (ariya) nhập vào Thánh quả định, vị ấy phải biết Niết-bàn, và với trí thuộc thánh quả (quả tuệ) này vị ấy thọ hưởng sự tịnh lạc, tức Niết-bàn.

Chính vì thế, không thể có chuyện nhập vào một trong những thiền quả này mà lại nói về nó: “Mọi thứ đều dừng lại: lúc ấy tôi không biết gì hết”. Trước khi nhập một thánh quả định (Thiền quả), vị thánh đệ tử quyết định nó sẽ kéo dài trong bao lâu, chẳng hạn trong một hoặc hai giờ. Và trong suốt thời hạn đó, Niết-bàn được biết một cách liên tục như một trạng thái tịnh lạc (santisukha) vậy.

Vì thế, rõ ràng là khi một hành giả nói không biết gì cả, thì trạng thái đó không phải do vị ấy đạt đến Niết-bàn, mà chính vì định tâm của hành giả vẫn còn yếu.

Khi tợ tướng hơi thở (ānāpāna paibhaga nimitta) xuất hiện, tâm hành giả có thể rơi vào hữu phần, vì các thiền chi chưa đủ mạnh. Cũng như một đứa bé yếu ớt, khi học đi, không tự mình đứng được, cứ phải ngã lên ngã xuống hoài. Ở giai đoạn cận định cũng vậy, các thiền chi vẫn chưa được phát triển đầy đủ, vì thế hành giả có thể rơi vào hữu phần, chứ đó không phải Niết-bàn.

Để tránh rơi vào hữu phần, và để phát triển định tâm sâu thêm, hành giả cần có sự trợ giúp của ngũ căn: tín, tấn, niệm, định và tuệ[10] nhằm nhấn tâm vào và gắn chặt nó trên tợ tướng. Phải lấy tinh tấn để làm cho tâm biết rõ tợ tướng thường xuyên, lấy niệm để không quên nó, và lấy tuệ để tuệ tri nó (tợ tướng).

Ở giai đoạn an chỉ (hay bậc thiền), các thiền chi đã phát triển sung mãn. Cũng như một người đàn ông khoẻ mạnh có thể đứng thẳng người suốt cả ngày như thế nào, hành giả cũng vậy, lấy tợ tướng làm đối tượng, có thể trú trong thiền thuộc an chỉ định trong một thời gian dài mà không rơi vào hữu phần đựơc. Sự an chỉ toàn triệt và không gián đoạn này có thể liên tục trong một, hai, ba tiếng hoặc hơn nữa. Vào lúc ấy, vị này không còn nghe âm thanh. Tâm vị ấy không đi qua các đối tượng khác. Ngoài tợ tướng ra, vị ấy không còn biết gì nữa cả.

Hỏi 3.3: Dưới những điều kiện thế nào, hoặc trong trạng thái như thế nào, chúng ta có thể nói rằng một kinh nghiệm thiền thế này là cận định hoặc an chỉ định?

Đáp 3.3: Nếu có nhiều tâm hữu phần khởi lên trong suốt lúc định tâm, hành giả có thể nói đó là cận định. Nhưng nimitta (tướng) vẫn phải là tợ tướng. Chỉ khi nào hành giả có thể trú trong sự an chỉ toàn triệt một thời gian lâu không gián đoạn, cũng với tợ tứơng ấy làm đối tượng thì hành giả mới có thể nói đó là an chỉ định.

Làm thế nào hành giả biết được tâm mình rơi vào hữu phần?

Khi người ấy để ý thấy rằng mình thường xuyên không biết về tợ tướng (patibhāga nimitta) thì họ biết ngay rằng mình có những tâm hữu phần rồi. Tâm người ấy cũng có thể có ý nghĩ về một đối tượng nào đó ngoài tợ tướng, dù trong những khoảnh khắc ngắn ngủi. Điều này không xảy ra trong an chỉ định. Trong an chỉ định chỉ có sự an chỉ hoàn toàn không gián đoạn mà thôi.

Hỏi 3.4: Ở mỗi bậc thiền trong bốn thiền đều có cận định cũng như an chỉ định phải không? Các đặc tính của chúng là gì?

Đáp 3.4: Chúng ta hãy lấy ví dụ về các thiền chứng thuộc hơi thở (ānāpāna-jhāna) vốn lấy tợ tướng hơi thở làm đối tượng. Có bốn cấp độ cận định và bốn cấp độ an chỉ định. Ở mỗi cấp độ có cận thiền (jhāna) trước, rồi an chỉ thiền tiếp theo. Cả hai đều lấy cùng tợ tướng hơi thở (ānāpāna patibhāga nimitta) làm đối tượng. Vì vậy chính mức độ định làm nên sự khác biệt này.

Trong cận sơ thiền, cận nhị thiền và cận tam thiền, có năm thiền chi. Nhưng trong cận tứ thiền không có thiền chi lạc (sukha), chỉ có tầm (vitakha), tứ (vicāra), xả (upekkhā) và nhất tâm (ekaggatā). Mặc dù chúng lấy cùng nimitta làm đối tượng, các thiền chi vẫn trở nên mạnh mẽ hơn ở mỗi cấp độ cận thiền.

Các thiền chi ở cận sơ thiền đè nén thọ khổ thuộc thân (kāyika dukkha vedanā); ở cận nhị thiền, đè nén khổ tâm hay thọ ưu (domanassa vedanā); ở cận tam thiền, đè nén thọ lạc thuộc thân (kāyika sukkha vedanā); và ở cận tứ thiền, đè nén thọ hỷ (somanassa vedanā). Đây là cách làm thế nào để chúng ta phân biệt sự khác nhau giữa các cấp độ cận định, đặc biệt là ở tứ thiền. Ở tứ thiền, hơi thở vi tế nhất, và gần như dừng hẳn. Nó dừng lại hoàn toàn ở thiền an chỉ thứ tư này.

Chúng ta cũng có thể phân biệt được giữa các an chỉ thiền này bằng cách nhìn vào các thiền chi. Trong an chỉ sơ thiền, năm thiền chi có mặt: tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm; trong nhị thiền có ba: hỷ, lạc, và nhất tâm; trong tam thiền có hai: lạc và nhất tâm, trong tứ thiền cũng có hai: xả và nhất tâm. Bằng cách nhìn vào các thiền chi, chúng ta có thể nói “Đây là an chỉ sơ thiền”, “Đây là an chỉ nhị thiền” vv… Lại nữa, ở đây định tăng trưởng theo từng cấp độ. Định tứ thiền là cao nhất. Nó cao nhất như thế nào? Điều này hành giả phải tự mình thử mới biết được. Nhiều hành giả trình bày rằng tứ thiền là tốt nhất và an tịnh nhất.

Hỏi 3.5: Do những điều kiện nào một hành giả từ an chỉ định rơi xuống hay thối lui cận định?Do những điều kiện nào người hành thiền đang ở cận định đạt đến an chỉ?

Đáp 3.5: Nếu người hành thiền không tôn trọng pháp hành của mình, mà chú trọng các đối tượng khác ngoài tợ tướng thì các triền cái (nivārana) sẽ khởi sanh. Các triền cái này có mặt là do phi lý tác ý (ayoniso manasikāra). Những đối tượng khác làm giảm định, vì chúng ta biết thiện pháp và bất thiện pháp luôn luôn đối nghịch. Khi các thiện pháp mạnh và có năng lực thì những bất thiện pháp sẽ dạt ra xa, còn khi, do phi lý tác ý, các bất thiện pháp mạnh hơn thì thiện pháp cũng dạt ra vậy. Thiện pháp và bất thiện pháp không thể khởi lên một lần trong một sát-na tâm hay tiến trình nhận thức.

Ở đây chúng ta cần hiểu rõ như lý tác ý (yoniso manasikāra) và phi lý tác ý (ayoniso manasikāra) là thế nào. Khi người hành thiền tu tập niệm hơi thở (ānāpānasati), và tập trung vào hơi thở tự nhiên, tác ý của người ấy là như lý tác ý. Khi học tướng hay tợ tướng xuất hiện, vì hành giả tập trung trên đó, tác ý của hành giả là như lý tác ý. Trường hợp, trong thiền Minh sát, hành giả thấy “Đây là sắc”, “Đây là Danh”, “Đây là nhân”, “Đây là quả”, “Đây là vô thường”, “Đây là khổ”, hoặc “Đây là vô ngã”, tác ý của hành giả cũng là như lý tác ý.

Tuy nhiên nếu người ấy thấy “Đây là đàn ông, đàn bà, con trai, con gái, cha, mẹ, chư thiên, phạm thiên, thú vật v.v..”; hoặc “Đây là vàng, bạc, tiền v.v…” Khi ấy tác ý của hành giả là phi lý tác ý. Nói chung, chúng ta có thể nói rằng do như lý tác ý các thiện pháp khởi lên, và do phi lý tác ý các bất thiện pháp khởi lên. Nếu, trong khi hành giả đang hành thiền, phi lý tác ý khởi lên, thì các triền cái và phiền não chắc chắn sẽ theo sau; chúng là những bất thiện pháp. Các bất thiện pháp ấy làm giảm định, hoặc khiến cho định thối chuyển và rơi xuống.

Nếu hành giả nhìn vào đối tượng thiền của mình với như lý tác ý thường xuyên, các pháp thiện sẽ sanh và tăng trưởng. Chẳng hạn như ở đây các pháp thiện thuộc bậc thiền nằm trong số các thiện pháp ấy. Vì vậy, nếu hành giả tập trung vào tướng (nimitta), như tợ tướng hơi thở chẳng hạn, đó là như lý tác ý. Nếu hành giả phát triển như lý tác ý này đến sức mạnh đầy đủ của nó, thì từ cận định hành giả sẽ đạt đến an chỉ định.

Hỏi 3.6: Khi một người chết, một nghiệp tướng (kamma nimitta) có thể khởi lên do nghiệp thiện hoặc bất thiện ở quá khứ. Hiện tượng này có giống như hiện tượng xảy ra trong lúc đang thiền, khi hình ảnh của những sự kiện quá khứ mà hành giả đã quên, xuất hiện không?

Đáp 3.6: Có thể có một sự giống nhau nào đó, nhưng chỉ trong vài trường hợp thôi. Tức là nó có thể tương tự như sự khởi lên của một nghiệp tướng nơi những người mà cái chết của họ xảy ra nhanh chóng.

Hỏi 3.7: Trong lúc hành thiền, những hình ảnh thuộc các sự kiện từ hơn 30 năm đổ lại, mà hành giả đã quên, xuất hiện. Đây có phải là do thiếu nhất niệm để cho tâm rời xa đối tượng không?

Đáp 3.7: Có thể là vậy, nhưng nó cũng có thể là do tác ý (manāsikara). Nhiều hành giả không biết về tác ý này. Chỉ khi nào họ đã hành thiền trên “danh” rồi họ mới hiểu được nó. Tiến trình nhận thức xảy ra rất nhanh, vì thế họ không hiểu rằng những hình ảnh này xuất hiện là do tác ý. Tuy nhiên không có “hành”nào khởi lên một mình mà không có nhân cả. Điều này là do tất cả các hành là hữu vi (tức do duyên tạo thành).

Hỏi 3.8: Trường hợp một người sắp chết, nếu có chánh niệm mạnh mẽ, họ có thể ngăn một nghiệp tướng (kamma nimitta) thuộc bất thiện nghiệp hay thiện nghiệp trước đó không cho khởi lên được không?

Đáp 3.8: Niệm mạnh và vững chắc có thể ngăn các nimitta (tướng) như vậy không cho khởi lên; nhưng niệm mạnh và vững chắc là như thế nào? Nếu một hành giả nhập thiền (jhāna), và duy trì thiền ấy hoàn toàn vững chắc cho đến thời điểm chết, hành giả có thể nói rằng niệm thuộc thiền ấy là mạnh và vững chắc. Loại niệm đó có thể ngăn một tướng bất thiện hoặc một tướng thuộc thiện dục giới không cho khởi lên. Nó chỉ bắt lấy đối tượng thiền, như tợ tướng hơi thở hoặc tợ tướng kasia trắng chẳng hạn.

Một loại niệm mạnh và vững chắc khác là niệm kết hợp với Minh Sát Tuệ. Nếu Minh Sát Tuệ của hành giả là Hành Xả Tuệ (sankhārupekkhañāa), và nếu hành giả hành Minh sát (vipassanā) cho đến sát-na cận tử, thì tốc hành tâm cận tử của hành giả là minh sát tuệ kết hợp với niệm mạnh và vững chắc. Loại niệm đó cũng có thể ngăn các tướng bất thiện không cho xuất hiện, cũng như ngăn các tướng thiện khác xen vào thay thế tướng Minh sát của hành giả. Tướng Minh sát ở đây là tính chất vô thường, khổ và vô ngã của một “hành” (sankhāra) đã chọn. Hành giả có thể chết với một tướng như vậy làm đối tượng cho tốc hành tâm cận tử (maranasanna javana) của mình. Nó có thể tạo ra một kiết sanh thức thuộc chư thiên (deva paisandhicitta) nhờ vậy hành giả được tái sanh tức thời như một vị chư thiên. Liên quan đến những lợi ích mà loại hành giả này có thể có được trong kiếp sống tương lai như là một vị chư thiên, Đức Phật nói trong kinh “Sotānugata” (Người Nghe Kinh)[11] :

So muṭṭhassati kāla kurumāno aññatara devanikāya upapajjhati. Tassa tattha sukhino dhammapadā plavanti. Dandho bhikkhave satuppāto, atha so sutto khippameva visesagāmīhoti.
(Này các tỳ khưu, một kẻ phàm phu (puthujjana) được nghe Pháp, thường lập lại Pháp, suy tư về Pháp, thể nhập trọn vẹn Pháp với minh sát tuệ, nếu người ấy chết, người ấy có thể tái sanh vào một trong những cảnh giới chư thiên, ở đấy các hành xuất hiện rõ ràng trong tâm vị ấy. Người ấy có thể suy xét về Pháp hoặc hành Minh sát chậm nhưng đắc Niết-bàn rất nhanh (hành nan đắc cấp).

Tại sao các hành xuất hiện rõ ràng trong tâm người ấy? Vì tốc hành tâm cận tử của kiếp làm người trước đó, và tâm hữu phần (bhavaga citta) của kiếp làm chư thiên sau đó lấy cùng một đối tượng, trong trường hợp này là tính chất vô thường, khổ, hoặc vô ngã của các hành. Tâm “chủ”, tức hữu phần, đã biết đối tượng Minh sát (vipassanā), là lý do tại sao minh sát tuệ có thể dễ dàng được phát triển. Vì thế theo bài kinh này, niệm mạnh kết hợp với minh sát tuệ có thể ngăn các tướng bất thiện không cho khởi lên, cũng như ngăn các tướng thiện khác có thể xen vào thay thế tướng minh sát của vị ấy. Do đo, hành giả nên cố gắng để có được loại niệm này trước khi cái chết xảy ra.

Một điển hình của sự kiện này nằm ở bài kinh “Đế Thích sở vấn” (sakkapañha) nói về ba vị tỳ khưu đã hành Thiền Chỉ và Thiền Minh Sát[12]. Cả ba vị có giới hoàn hảo và định hoàn hảo, nhưng tâm của họ lại có khuynh hướng muốn sống như các nữ càn thác bà[13] (gandhabbas). Khi họ chết, họ tái sanh về cõi chư thiên. Cả ba vị đều hóa sanh làm các nữ càn thác bà rất xinh đẹp và sáng láng độ khoảng mười sáu tuổi. Trong kiếp làm tỳ khưu của họ, ba vị hàng ngày thường đi đến nhà của một nữ cư sĩ để khất thực, và dạy Pháp cho cô ta. Nữ chủ này trở thành một vị Thánh nhập lưu và khi thân hoại mạng chung nàng tái sanh làm Thiên tử Gopaka, con của đức trời Đế thích. Ba thiên nữ càn thác bà này phục vụ âm nhạc cho con trai của vua trời Đế thích, vị này để ý thấy họ là những thiên nữ rất xinh đẹp và sáng láng. Vị ấy thầm nghĩ: “Các thiên nữ này thật xinh đẹp và sáng láng. Họ đã làm được nghiệp gì?” Vị ấy thấy (bằng thiên nhãn) họ là ba vị tỳ khưu đã từng đến nhà mình khi mình còn là một nữ cư sĩ. Vị ấy biết rằng giới, định, và tuệ của họ đã được tu tập rất nghiêm túc. Do đó vị ấy nhắc cho họ nhớ lại tiền kiếp của mình. Thiên tử Gokapa nói “Khi các vị nghe Pháp và thực hành Pháp (Dhamma) mắt và tai của các vị hướng về cái gì?” Hai trong số ba nữ càn-thác-bà nhớ lại tiền kiếp của mình và cảm thấy hổ thẹn. Họ phát triển Chỉ-Quán trở lại và nhanh chóng đạt đến đạo quả bất lai, và nhập diệt. Họ hoá sanh vào cõi Brahma Parohitā (Phạm Phụ Thiên – cõi sơ thiền sắc giới)[14], và nhập Niết-bàn ở đó. Vị tỳ khưu thứ ba không hổ thẹn, và ở lại làm nữ càn thác bà như cũ.

Như vậy, đâu cần phải nhờ đến một công ty bảo hiểm nhân thọ mà làm gì. Loại chánh niệm này là công ty bảo hiểm tốt nhất rồi có phải không !

Hỏi 3.9: Khi phân biệt mười hai đặc tính trong thiền tứ đại có nhất thiết phải khởi đầu với đặc tính cứng, thô, và nặng theo trình tự không? Hay hành giả có thể chọn bất cứ một đặc tính nào làm điểm khởi đầu cũng được?

Đáp 3.9: Lúc đầu chúng ta có thể khởi sự với một đặc tính nào đó được xem là dễ phân biệt nhất. Nhưng một khi chúng ta đã có thể phân biệt tất cả các đặc tính thật dễ dàng và rõ nét, chúng ta phải theo đúng trình tự đức Phật đã đưa ra như đất (pathāvi-dhātu), nước (āpo-dhātu), lửa (tejo dhātu), và gió (vāyo dhātu). Điều này là vì trình tự đó tạo ra sự định tâm mạnh mẽ, chắc chắn hơn. Khi chúng ta thấy các rūpa kalāpas – tổng hợp sắc, và có thể dễ dàng phân biệt bốn đại này trong mỗi tổng hợp sắc ấy rồi thì trình tự không quan trọng nữa, mà điều rất quan trọng lúc ấy là làm sao phân biệt được chúng cùng một lúc.

Tại sao? Tuổi thọ của một tổng hợp sắc (rūpa-kālapa) rất ngắn. Có thể chưa đầy một phần tỷ giây. Khi phân biệt bốn đại trong một tổng hợp sắc không có thì giờ đâu mà đọc “đất, nước, lửa, gió” vì thế chúng ta phải phân biệt chúng cùng một lúc vậy.

Hỏi 3.10: Hành thiền tứ đại có thể cho hành giả khả năng quân bình bốn đại trong thân. Con người ta thỉnh thoảng bị bệnh là do tứ đại bất hoà. Khi bị bệnh như vậy, liệu hành giả hành thiền tứ đại với niệm mạnh có thể chữa được bệnh không?

Đáp 3.10: Có nhiều loại bệnh (khổ). Một số do tiền nghiệp sanh, như bệnh đau lưng của Đức Phật. Một số do các đại bất hòa sanh. Những bệnh do tiền nghiệp sanh thì không thể chữa bằng việc quân bình tứ đại được. Tuy nhiên một số các bệnh khởi lên do tứ đại bất hòa có thể biến mất khi vị hành giả cố gắng quân bình chúng.

Cũng có những thứ bệnh khởi lên do thức ăn, thời tiết (utu) hoặc do tâm (citta). Nếu một loại bệnh khổ phát sanh do tâm, và chúng ta có thể chữa tâm thì bệnh có thể biến mất; nếu bệnh phát sanh do thời tiết, ở đây là hỏa đại hay yếu tố lửa, chẳng hạn như ung thư, sốt rét vv… chỉ có thể chữa khỏi bằng cách uống thuốc, chứ không quân bình các đại được. Đối với những bệnh do thức ăn không thích hợp sanh cũng vậy.

Hỏi 3.11: Trước khi chúng ta đạt đến tứ thiền[15] đoạn trừ “vô minh” (avijjā), nhiều tư duy bất thiện vẫn khởi lên do những thói quen xấu. Chẳng hạn, trong đời sống hàng ngày của chúng ta (ngoài khoá thiền) chúng ta biết rằng tham hoặc sân khởi lên, chúng ta có thể dùng thiền bất tịnh (asubha), hoặc thiền tâm từ (mettā bhāvanā) để loại chúng được không? Hay chúng ta nên phớt lờ chúng và chỉ tập trung vào đề tài thiền của mình, cứ để cho chúng tự động biến mất?

Đáp 3.11: Đối với các nghiệp bất thiện, vô minh (avijjā) kể như một nhân tiềm ẩn, và phi như lý tác ý là nhân gần. Do đó phi lý tác ý rất có hại. Nếu hành giả có thể thay thế phi lý tác ý này bằng như lý tác ý, thì tham và sân sẽ biến mất trong thời gian ấy hoặc có thể mãi mãi, nếu như lý tác ý vững mạnh. Trong câu hỏi trước chúng ta đã bàn về như lý tác ý và phi lý tác ý rồi.

Hành giả có thể dùng quán bất tịnh hoặc thiền tâm từ để loại bỏ tham và sân. Những thiền này cũng là như lý tác ý. Song vipassanā (minh sát) được xem là vũ khí tốt nhất để tiêu diệt các phiền não. Như vậy nó là loại như lý tác ý thù thắng nhất.

Hỏi 3.12: Tâm hữu phần (bhavaga) làm nhiệm vụ như thế nào trong các cõi dục giới, sắc giới, vô sắc giới và siêu thế (siêu xuất tam giới)? Xin Ngài (Sayadaw) hoan hỷ giải thích với những ví dụ được không?

Đáp 3.12: Trong ba cõi đầu – dục, sắc, và vô sắc – nhiệm vụ của tâm bhavaga là như nhau[16]. Nó khởi lên để cho các sát-na tâm trong một kiếp sống không dừng lại; và nó duy trì “Danh”, vốn là dòng hữu phần hay luồng hộ kiếp. Điều này là vì nghiệp (kamma) tạo ra kiếp sống này vẫn chưa cạn kiệt. Bởi lẽ có Danh-sắc (nāma-rūpa) trong các cõi dục và sắc, và có danh trong các cõi vô sắc, nên cũng phải có bhavanga ở đó vậy.

Trong các cõi dục giới (kāmāvacara bhūmi), bhavaga (hữu phần) có thể có đối tượng là một nghiệp, nghiệp tướng (kamma nimitta) hoặc thú tướng (gati nimitta). Chẳng hạn, bhāvaga (hữu phần) của người này có thể đối tượng là tháp Kyaikthiyo, trong khi bhāvaga của người khác có thể có đối tượng là ngôi tháp Shwedagon[17], những đối tượng này là những khái niệm thôi.

Trong cõi sắc giới (rūpavacara bhūmi), bhāvaga (hữu phần) có đối tượng chỉ là một nghiệp tướng chứ không có nghiệp và thú tướng như ở dục giới. Bhāvaga của một người trong cõi sắc giới được gọi là “thiền quả sắc giới” – (rūpāvacara vipāka jhāna), bởi vì nó là kết quả của việc chứng thiền vào lúc chết trong kiếp trước đó. Như vậy, vì đối tượng của hữu phần giống hệt như đối tượng của thiền chứng, cho nên đối tượng của hữu phần (bhāvaga) sẽ tùy thuộc vào bậc thiền (jhāna). Chẳng hạn, hữu phần của một người đạt đến cõi sắc giới do thiền hơi thở (ānāpāna-jhāna) sẽ có tợ tướng hơi thở (ānāpāna-paibhāga nimitta) kể như đối tượng, trong khi hữu phần của một người do thiền tâm từ (metta-jhāna) thì sẽ có đối tượng là tất cả chúng sanh trong vũ trụ vô biên; cả hai đối tượng này đều là những khái niệm.

Trong các cõi vô sắc (arūpāvacara bhūmi), đối tượng của bhāvaga chỉ là kamma (nghiệp) hoặc một nghiệp tướng, không có thú tướng. Chẳng hạn, trong cõi không vô biên xứ hữu phần của một người sẽ có hư không vô biên kể như đối tượng, và trong cõi vô sở hữu xứ, nó sẽ có sự vắng mặt hay phi hữu của thức thuộc không vô biên xứ là đối tượng; cả hai đối tượng này đều là những khái niệm.

Trong cõi thức vô biên xứ, hữu phần của một người sẽ có thức thuộc hư không vô biên là đối tượng, còn trong cõi phi tưởng, phi phi tưởng xứ, nó sẽ có thức thuộc vô sở hữu xứ là đối tượng, những đối tượng này là nghiệp (kamma).

Khi chúng ta nói “các cõi dục”, “các cõi sắc ” và “các cõi vô sắc”, chúng ta đang ám chỉ các cõi có thực, những nơi có thực. Nhưng khi chúng ta nói “cõi siêu thế” (lokuttara būmi), chữ “cõi” ở đây chỉ là phép ẩn dụ. Thực tế, đó hoàn toàn không phải một nơi nào cả. Khi chúng ta nói “cõi siêu thế”, chúng ta chỉ muốn nói đến bốn đạo, bốn quả và Niết-bàn; chứ không phải là nơi. Chính vì vậy, không có bhāvaga (hữu phần) trong cõi siêu thế. Cũng không có hữu phần trong bốn tâm đạo và bốn tâm quả, vì lẽ không có Danh-sắc (nāma-rūpa) trong Niết-bàn, nên cũng không có “danh” để cho hữu phần duy trì (làm nhiệm vụ của nó), điều này có nghĩa không thể có bất kỳ tâm bhāvaga nào trong Niết-bàn cả.

Hỏi 3.13: Thế nào là sự khác nhau giữa thiền hiệp thế (lokiya jhāna) và thiền siêu thế (lokuttara jhāna)?

Đáp 3.13: Các thiền (jhāna) hiệp thế là bốn thiền sắc giới và bốn thiền vô sắc, thường gọi chung là tám thiền chứng (samāpatti). Còn thiền siêu thế là các thiền chi kết hợp với các Đạo-Quả Tuệ. Chẵng hạn, khi hành giả phân biệt các tâm hành của sơ thiền sắc giới hiệp thế kể như vô thường, khổ hoặc vô ngã và nếu hành giả thấy Niết-bàn thì Đạo Tuệ của hành giả thuộc về sơ thiền. Đây là một bậc thiền siêu thế.

Tại sao? Trong sơ thiền sắc giới hiệp thế, thiền này trở thành đối tượng của Minh sát (vipassanā), có năm thiền chi tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Trong sơ thiền thuộc siêu thế cũng có năm thiền chi như vậy. Đây là cách làm thế nào đạo và quả có thể là đạo thuộc sơ thiền và quả thuộc sơ thiền. Đối với các bậc thiền khác cũng có thể trở thành thiền siêu thế theo cách như vậy.

-ooOoo-

[1] S.I.III.i B “Mallikā sutta

[2] Ps. II. iv “Metta kathā

[3] A. XI. ii.5 “Metta Sutta

[4] D. III.1 “Paika Sutta” (Kinh Ba – Lê – 24), Vinaya I.1 Vs, VII “Buddhānussati Kathā” B125 – 130 (Tùy niệm Ân Đức Phật).

[5] Ở đây, asubba (bất tịnh) và paikkūla (đáng tởm) đồng nghĩa với nhau.

[6] Savega: “The sources of emotion, or of a sense of urgencies”(“những căn nguyên làm phát sanh sự động tâm hay kinh cảm.”)

[7] Tám thiền chứng: Bốn thiền sắc giới và bốn thiền vô sắc giới

[8] Chi tiết thêm về mối tương quan giữa nimitta và tưởng

[9] Vs. III Giải thích về Bốn Mươi Đề Mục Thiền – P. 113

[10] i: saddhā, vīriya, sati, samadhi, paññā.

[11] A. iv.iv.1 “sotānugata sutta” (“one who has heard sutta” - Người nghe kinh)

[12] D.11.8. “Sakkapañha sutta“.

[13] Gandhabbas: càn-thác-bà là các nhạc công và vũ công trong cõi chư thiên – Tứ Đại Thiên vương.

[14] D.A.11.8. chú giải Trường Bộ, Bài kinh “Đế Thích sở vấn”.

[15] Tứ thiền thực ra không đoạn được vô minh, mà chỉ đè nén vô minh mà thôi. Xem thêm chi tiết ở câu trả lời 7.7. 7.8 trang…

[16] Tam giới: (1) (Kāmāvacara), gồm nhân giới, súc sanh, ngạ quỷ, a – tu – la, địa ngục và các cõi chư thiên. (2) Sắc giới (rūpavacara), gồm các cõi Phạm thiên, ở đây sắc rất vi tế. (3) Vô sắc giới (anīpavacara), nơi đây chỉ có danh.

[17] Tháp Kyaikthiyo và tháp Shwedagon là hai ngôi tháp nổi tiếng nhất ở Miến Điện (Myanmar).

-ooOoo-


Sự quán tưởng về giây phút hấp hối trên giường bệnh

Một quyển sách mang thông điệp khẩn cấp của Đức Phật

Cho những ai tầm cầu an lạc, hạnh phúc và tự do trên con đường tâm linh

Tác giả: Ngài Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayādaw U Āciṇṇa

Lời Nói Đầu

“Này các Tỳ-kheo, hãy luôn tinh tấn hành trì. Bởi khó khăn lắm mới có cơ hội gặp Phật ra đời trên thế gian, hiếm hoi lắm mới có cơ hội được sanh ra làm người, được gặp Giáo pháp, được làm người lành lặn có đầy đủ các căn, có niềm tin nơi Phật Bảo, Pháp Bảo, được xuất gia Tỳ-kheo và được cơ hội nghe giảng Pháp của các bậc Thánh, tất cả những điều này là các cơ hội độc nhất.”

Đức Thế Tôn đã nói những lời vô giá này, vào mỗi buổi sáng sau bữa điểm tâm trước tất cả hội chúng trong tinh xá, và toàn thể cận sự nam, cận sự nữ. Thông điệp của Đức Thế Tôn mang đầy tính cấp bách và nhấn mạnh đòi hỏi phải hành động ngay tức khắc. Nó cũng là lời nhắc nhở đầy lòng từ bi rằng chúng ta phải nắm bắt các cơ hội này và đánh giá đúng giá trị cuộc đời và các món quà kèm theo mà đối với nhiều người dường như xem đó là điều tầm thường. Ngoài ra, nó làm thấm nhuần trong chúng ta một ý thức sâu xa việc đánh giá cao sự hướng đến những cơ hội hiếm có mà chúng ta có trong tay. Nó đơn giản và mạnh mẽ truyền cảm hứng cho chúng ta để hành động.

Đức Phật đã thường nhắc nhở ngắn gọn những điều này hàng ngày chỉ với mục đích và ý định làm tăng trưởng và làm thánh thiện đời sống và tâm của các vị đệ tử Tỳ-kheo và các cận sự nam, cận sự nữ, bằng cách đó, dẫn dắt họ đi trên con đường Giác ngộ, giải thoát và hạnh phúc. Ngài mong muốn các đệ tử của mình sẽ trở thành những tấm gương sáng với nỗ lực hành trì trên con đường phát triển tâm linh. Bài thuyết giảng với mục đích và tác ý rõ ràng của Ngài thể hiện qua những lời lẽ như sau:

Phẩm A-tu-la
(Bài thuyết giảng về Ngạ Quỷ Sứ)

A-tu-la (Asura) tiếng Pāli nghĩa là ngạ quỷ sứ. Trong bài giảng này, được dùng phép ẩn dụ để ám chỉ hạng người ác giới đáng sợ chẳng khác nào loài A-tu-la. Ngược với A-tu-la là Devā (loài chư thiên có thần thông sống ở cõi cao hơn). Trong bài này, nó được liên hệ theo cách ẩn dụ tới hạng người có giới và theo pháp lành.

Này Tỷ-kheo, có bốn hạng người có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

1) Hạng thứ nhất: A-tu-la với quyến thuộc A-tu-la

2) Hạng thứ hai: A-tu-la với quyến thuộc chư Thiên

3) Hạng thứ ba: chư Thiên với quyến thuộc A-tu-la

4) Hạng thứ tư: chư Thiên với quyến thuộc chư Thiên

  1. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người A-tu-la với quyến thuộc A-tu-la?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ác giới, theo ác pháp, hội chúng của người ấy cũng ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người A-tu-la với quyến thuộc A-tu-la.

  1. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người A-tu-la với quyến thuộc chư Thiên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người ác giới, theo ác pháp, nhưng hội chúng của người ấy có giới, theo pháp lành. Như vậy này các Tỷ-kheo, là hạng người A-tu-la với quyến thuộc chư Thiên

  1. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người chư Thiên với quyến thuộc A-tu-la?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người giữ giới, theo pháp lành, còn hội chúng của người ấy ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người chư Thiên với quyến thuộc A-tu-la.

  1. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người chư Thiên với quyến thuộc chư Thiên?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người có giới, theo pháp lành, còn hội chúng của người ấy cũng có giới, theo pháp lành. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người chư Thiên với quyến thuộc chư Thiên.

Trong các loại người trên, Đức Phật hầu như ưa chọn hạng người thứ tư là hạng mà chính anh ta như chư Thiên và có nhiều thiện bằng hữu xung quanh. Trong bài thuyết giảng này, cho ta thấy phải có trách nhiệm đối với bản thân và những người chung quanh ta. Đức Phật còn nhấn mạnh trách nhiệm rèn luyện phẩm hạnh giới đức và pháp hành là nhiệm vụ cấp bách của mỗi người chúng ta trong đời sống hàng ngày. Hơn nữa, chúng ta hãy học Phẩm Định thứ hai (bài thuyết giảng thứ hai về phát triển định) được trích ra từ Tăng Chi Kinh, kinh điển Pāli.

Phẩm Định Thứ Hai
(Dutiya Samādhi Sutta)

Có bốn hạng người, này các Tỷ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được An chỉ định (Appanā Samādhi) và nội tâm an tịnh nhưng không được Tăng thượng Tuệ Pháp quán (Adhipañña dhamma) để có thể liễu tri bản chất của các pháp hữu vi.

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người được Tăng thượng Tuệ Pháp quán (Adhipañña dhamma) có thể liễu tri bản chất của các pháp hữu vi, nhưng lại chưa được An chỉ định (Appanā Samādhi) và nội tâm an tịnh.

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người chưa được An chỉ định (Appanā Samādhi) và nội tâm an tịnh, cũng chưa được Tăng thượng Tuệ Pháp quán (Adhipañña dhamma) để có thể liễu tri bản chất của các pháp hữu vi.

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người đã được An chỉ định (Appanā Samādhi) và nội tâm an tịnh và cũng được Tăng thượng Tuệ Pháp quán (Adhipañña dhamma), có thể liễu tri bản chất của các pháp hữu vi.

Trong bốn hạng trên, hạng người thứ nhất đã được An chỉ định, cần nỗ lực tu tập để phát triển Tuệ minh sát, thì sau đó sẽ được cả An chỉ định và Tuệ minh sát.

Với hạng người thứ nhì chỉ được Tuệ minh sát thì nên nỗ lực tu tập An chỉ định, thì sau đó sẽ được cả An chỉ định và Tuệ minh sát.

Với hạng người thứ ba chưa đạt được cả An chỉ định lẫn Tuệ minh sát, thì phải nỗ lực tu tập với ước nguyện mạnh mẽ, càng nỗ lực, càng tinh tấn với sức chịu đựng bền bỉ, không lay chuyển, có chánh niệm tỉnh giác và có tuệ phân tích để được các phẩm chất đại thiện của cả An chỉ định và Tuệ minh sát.

Ví như người mà y phục và đầu của anh ta bị lửa cháy thì phải dập tắt ngay ngọn lửa tức thì. Cũng tương tự vậy, người mà nỗ lực tu tập với ước nguyện mạnh mẽ, càng nỗ lực, càng tinh tấn với sức chịu đựng bền bỉ, không lay chuyển, có chánh niệm tỉnh giác, và có tuệ phân tích để đạt được các phẩm chất đại thiện của cả An chỉ định và Tuệ minh sát.

Với hạng người thứ tư, hạng mà đã phát triển được cả An chỉ định và Tuệ minh sát, an trú trong thiện pháp này, người đó cần tinh tấn nỗ lực hơn nữa để diệt trừ bốn lậu hoặc (các tâm ô nhiễm).

Này các Tỷ-kheo, bốn hạng người này có mặt, hiện hữu ở đời.

Trong bài thuyết giảng, Đức Phật đã đưa ra những lời chỉ dẫn sâu sát để phát triển và đạt được những phẩm chất cần thiết của một vị Tỷ-kheo. Những lời giáo huấn của Ngài cũng liên quan đến trách nhiệm và sự tinh cần tu tập của vị Tỷ-kheo, người mà đã từ bỏ đời sống thế tục để bước vào con đường Phạm hạnh.

Chúng ta hãy học một bài thuyết giảng khác của Đức Phật.

Phẩm Khúc Củi Cháy Dở (Chavalata Sutta)

Này, Tỷ-kheo, có bốn hạng người trên thế gian này là:

1/ Người mà không hướng đến lợi mình, lợi người.

2/ Người mà không hướng đến lợi mình nhưng hướng đến lợi người.

3/ Người mà hướng đến lợi mình nhưng không lợi người.

4/ Người mà hướng đến lợi mình và lợi người.

Này các Tỷ-kheo, ví như khúc gỗ được sử dụng cho buổi lễ hỏa táng, nó đã bị đốt cháy thành than ở hai bên mép, ở giữa bị dính phẩn uế, thì nó sẽ không còn được dùng làm củi đốt trong nhà hay làm vật liệu xây dựng nhà nữa. Cũng vậy, hạng người thứ nhất không hướng đến lợi ích bản thân và cũng không hướng đến lợi ích của người khác, Như Lai tuyên bố rằng: nó tương tự như khúc gỗ vô dụng kia”.

Này các Tỷ-kheo, hạng thứ hai chỉ hướng đến lợi ích của người khác mà không hướng đến lợi ích bản thân thì vi diệu hơn, thù thắng hơn hạng người thứ nhất”.

Ghi chú: Đây là hạng người hay giúp đỡ người khác trong việc phát triển tâm linh nhưng lại không nỗ lực phấn đấu cho chính mình.

Này các Tỷ-kheo, hạng thứ ba luôn làm lợi ích cho bản thân nhưng lại không quan tâm đến lợi ích của người khác thì vi diệu hơn, thù thắng hơn hai hạng người kia”.

Ghi chú: Hạng người này luôn nỗ lực phát triển tâm linh cho bản thân nhưng không nỗ lực giúp đỡ người khác.

Này các Tỷ-kheo, ví như sữa, phó mát, bơ và dầu bơ, tất cả đều cùng là sản phẩm sữa lấy từ con bò, nhưng nó vẫn có sự vượt trội khác nhau trong từng cái một. Tương tự vậy, hạng thứ tư luôn hướng đến lợi ích của bản thân và cũng như hướng đến lợi ích của người khác là hạng người tối thượng, tối thắng, thượng thủ, vô thượng.

Này Tỷ-kheo, cả bốn hạng trên đều hiện hữu trên thế gian này”.

Dưới ánh sáng của Giáo Pháp, chúng ta hãy tự hỏi làm thế nào để có thể làm lợi ích cho bản thân và cho người khác. Vì vậy, bài thuyết giảng này sẽ chỉ rõ cho chúng ta điều đó. Bây giờ, chúng ta hãy đi sâu vào bài giảng sau đây.

Phẩm Khả năng biết nhanh
(Khippanisanti Sutta)

Ghi chú: Tiếng Pāli Khippa có nghĩa là nhanh và Nisanti có nghĩa là khả năng biết

1/ “Này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người chỉ hướng đến lợi ích bản thân mà không hướng đến lợi ích của người khác? Trong Giáo Pháp của Như Lai, đó là hạng người mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, có khả năng tụng thuộc lòng các bài kinh đã học, có trí tuệ hiểu thấu đáo những gì học được. Biết cả ngữ và nghĩa của kinh điển, hạng người này thực hành thiền Định (Samatha) và thiền Quán (Vipassanā) và cùng với tuân thủ giới luật là tiền đề của Thánh đạo (Ariya Magga) (sự chứng ngộ Thánh đạo). Tuy nhiên, hạng người này không thiện ngôn, không khéo nói, không biết dùng những lời tao nhã, không phát âm chính xác, rõ ràng, không thể hướng dẫn, phấn khích và động viên các vị đồng Phạm hạnh. Này Tỷ-kheo, đó là hạng người chỉ hướng đến lợi ích của mình và không hướng đến lợi ích của người khác.

2/ Này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người hướng đến lợi ích của người khác và không hướng đến lợi ích bản thân? Trong Giáo Pháp của Như Lai, đó là hạng người không mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, không có khả năng tụng thuộc lòng các bài kinh đã học, không có trí tuệ hiểu thấu đáo những gì học được. Hạng người này không thực hành thiền Định (Samatha) và thiền Quán (Vipassanā) và giới luật là tiền đề của Thánh đạo (Ariya Magga) (sự chứng ngộ Thánh đạo). Tuy nhiên, hạng người này thiện ngôn, khéo nói, biết dùng những lời tao nhã, phát âm chính xác, rõ ràng, có thể hướng dẫn, phấn khích và động viên các vị đồng Phạm hạnh. Này Tỷ-kheo, đó là hạng người chỉ hướng đến lợi ích của người khác mà không hướng đến lợi ích của mình.

3/ Này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người không hướng đến lợi ích bản thân mà cũng không hướng đến lợi ích của người khác? Trong Giáo Pháp của Như Lai, đó là hạng người không mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, không có khả năng tụng thuộc lòng các bài kinh đã học, không có trí tuệ để hiểu thấu đáo những gì đọc được. Hạng người này không thực hành thiền Định (Samatha) và thiền Quán (Vipassanā) và giới luật là tiền đề của Thánh đạo (Ariya Magga) (sự chứng ngộ về Thánh đạo). Hơn nữa, hạng người này cũng không thiện ngôn, không khéo nói, không biết dùng những lời tao nhã, không phát âm chính xác, rõ ràng, không thể hướng dẫn, phấn khích và động viên các vị đồng Phạm hạnh. Này Tỷ-kheo, đó là hạng người không hướng đến lợi ích của mình và cũng không hướng đến lợi ích của người khác.

4/ Này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người biết hướng đến lợi ích bản thân và cũng hướng đến lợi ích của người khác? Trong Giáo Pháp của Như Lai, đó là hạng người mau mắn nhận xét trong các thiện pháp, có khả năng tụng thuộc lòng các bài kinh đã học, có trí tuệ để hiểu thấu đáo những gì học được. Biết cả ngữ và nghĩa của kinh điển, hạng người này thực hành thiền Định (Samatha), thiền Quán (Vipassanā) và cùng với tuân thủ giới luật là tiền đề của Thánh đạo (Ariya Magga) (sự chứng ngộ Thánh đạo). Hơn nữa, hạng người này thiện ngôn, khéo nói, biết dùng những lời tao nhã, phát âm chính xác, rõ ràng, có thể hướng dẫn, phấn khích và động viên các vị đồng Phạm hạnh. Này Tỷ-kheo, đó là hạng người biết hướng đến lợi ích của mình và cũng hướng đến lợi ích của người khác.”

Atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammapaipanno hoti

(Tăng Chi kinh bản Pāli, q 1, tr. 410)

Atthamaññāya dhammamaññāya: nghĩa là có sự hiểu thấu suốt cả hai Kinh điển Pāli và Chú giải.

Dhammānudhammapaipanno hoti: nghĩa là thực hành thiền Định (Samatha) và thiền Quán (Vipassanā) bao gồm tuân thủ Giới luật (Sīla) mà nó là tiền đề cho sự chứng ngộ chín Pháp siêu thế.

Để hướng dẫn thực hành những phần trên, vị nào có thiện nguyện làm lợi ích cho bản thân và cho người khác thì bước đầu tiên cần phải học Giáo Pháp của Đức Phật. Điều này không có nghĩa là vị đó phải học thuộc hết tất cả các Kinh điển mà chỉ cần học một cách có hệ thống về Bát Thánh Đạo, phần nền tảng Giáo Pháp của Đức Phật mà có thể dẫn đến diệt tận khổ đau. Ngoài ra còn cần phải học dưới sự hướng dẫn của một vị thầy thiện xảo về pháp hành ban đầu về thực hành Giới (Sīla), Định (Samatha) và Tuệ (Vipassanā) mà vị ấy cần phải hoàn thành trước khi thành tựu Thánh Đạo.

Trong Bát Thánh Đạo, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, hình thành con đường đạo đức căn bản cho người cần thực hành Giới (Sīla). Để có thể thực hành Giới (Sīla), người đó phải hiểu rõ ba Thánh đạo được đề cập ở trên. Chỉ khi nào người đó biết rõ về Giới, thì mới có thể giữ gìn Giới đức cẩn thận và trong sạch. Không có tri thức thiết yếu này về con đường Giới hạnh, thì vị đó không thể nào thực hành Giới đức trong sạch và trọn vẹn được.

Có được sự thiết lập vững chắc về Giới và thực hành đầy đủ, vị ấy cần phải tiến hành thực hành con đường thiền Định (Samādhi). Là một phần của Bát Thánh Đạo, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định, tất cả ba yếu tố này tạo ra các chi đạo về Định (Samādhi), con đường dẫn tới phát triển Định. Để thực hành các đạo này, vị ấy cần sự chỉ dạy và huấn luyện một pháp thiền phù hợp nơi một vị thầy đáng tin cậy.

Bước tiếp theo, là phải được học với một vị thầy giỏi để phát triển hai chi đạo về Tuệ (Paññā) là Chánh kiến và Chánh tư duy để có thể phát triển được Tuệ minh sát. Chỉ những ai có thể phát triển Bát Thánh Đạo, mới là những Tỷ-kheo hay người hành giả tốt theo lời dạy của Đức Phật, và có thể làm lợi ích cho bản thân và cho người khác. Chỉ có những người đại thiện như vậy mới có thể đạt được một nội tâm tĩnh lặng và phát triển được Tuệ minh sát.

Bài pháp mà quý vị sẽ đọc ở các trang sau của cuốn sách này là một trong các Lời dạy của Đức Phật sẽ giúp cho quý vị trở thành hiền nhân. Bài kinh được ghi trong Tăng Chi Kinh, quyển ba, Dasaka Nipāta, tr 325. Các yêu cầu tiên quyết trên con đường tâm linh đã được chỉ rõ trong đó.

Mặc dầu tiếng Pāli chữ “pabbajita” có nghĩa là người xuất gia, nhưng nó còn ám chỉ tới những ai đã tận diệt phiền não hoặc đang tinh tấn trên con đường diệt trừ phiền não. Đối với những ai vẫn còn đang tu tập để diệt trừ phiền não, có mười điều cần phải thường xuyên quán tưởng. Những điều cần thường xuyên quán xét này đã được Đức Phật chỉ dạy chi tiết trong bài Pháp.

Nếu một người tiến hành tu tập nghiêm túc mười điều quán tưởng này, thì chắc chắn vị ấy có thể đạt được sự an tịnh và hạnh phúc của Tầng thiền (Jhāna), Tuệ minh sát (Vipassanā), Đạo (Magga), Quả (Phala) và Niết-bàn (Nibbāna) ngay trong kiếp sống hiện tại này. Nếu vẫn còn sự tái sanh đối với con người hiền thiện này, thì những điều quán tưởng này có năng lực đưa đến hạnh phúc ở cõi người hoặc cõi trời, cuối cùng dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn. Hơn nữa, mười điều quán tưởng này sẽ làm chấm dứt vòng luân hồi khổ đau. Thực vậy, bài pháp này được gọi là bài giảng của sự an tịnh tối thượng vì nó có thể dập tắt ngọn lửa phiền não trong tâm của ta. Mười điều quán tưởng này, khi thường xuyên được quán xét, giống như sự chuẩn bị cho giây phút ra đi của chính người hành giả đó với một gương mặt rạng rỡ, an tịnh và nụ cười trên chiếc giường hấp hối.

Nằm trên giường hấp hối, mười phiền não có thể làm cho gương mặt chúng ta âu sầu với sự nuối tiếc và sợ hãi. Tuệ minh sát và Tuệ đạo mà ta đạt được trong thời gian trước cái chết sẽ diệt trừ mọi phiền não. Vì vậy, người hiền thiện sẽ có thể sống ngay cả giây phút cuối của đời mình với gương mặt rạng ngời và tâm an tịnh, hy vọng về trạng thái an vui, hạnh phúc ngày càng cao.

Phận sự của mỗi người chân chánh là cố gắng thành tựu tuệ minh sát, tuệ đạo và tuệ quả là các tuệ có sức mạnh nhổ bỏ mọi phiền não, nhờ đó, người ấy có thể đối mặt với giây phút cuối cùng của đời mình với một nụ cười rạng rỡ và tâm an tịnh.

Mười Phiền não lậu hoặc

Tiếng Pāli “Kilesa” có nghĩa là tâm phiền não lậu hoặc. Có mười loại phiền não:

  1. Lobha: tham ái hay dính chấp vào những đối tượng khác nhau và dục trần
  2. Dosa: sân và hại
  3. Moha: vô minh, không thấu hiểu Tứ Thánh đế.
  4. Māna: ngã mạn, thái độ kiêu căng tự mãn
  5. Diṭṭhi: tà kiến thấy sự vật thường còn, lạc, đáng hưởng thụ và linh hồn bất tử (ngã).
  6. Vicikicchā: hoài nghi Tứ Thánh đế, hoài nghi Phật, hoài nghi Pháp, hoài nghi Tăng và luật về Nghiệp báo
  7. Thīna: hôn trầm, buồn ngủ, muội lược.
  8. Uddhacca: trạo cử, trạng thái tâm không thể định hay tập trung được.
  9. Ahirika: vô tàm, không biết hổ thẹn khi làm các điều bất thiện.

10.  Anottappa: vô quý, không sợ hãi làm các điều bất thiện.

Tất cả các tâm sở bất thiện được dẫn dắt bởi mười phiền não này làm cho tâm bị ô nhiễm. Đó là lý do nó được gọi là phiền não (kilesa). Những ai đang tinh tấn nhổ bỏ các tâm ô nhiễm bằng cách thực thành Bát Thánh Đạo được gọi là “pabbajita”. Nó có nghĩa là người hoặc đã tận diệt các ô nhiễm hoặc vẫn đang nỗ lực diệt trừ phiền não.

Trong chuyến viếng thăm Malaysia ngày 16 tháng 8 năm 2003, sau một buổi lễ phước thiện của Goh Se Lin Tan Yok Har, tôi đã thuyết bài Pháp nói về mười điều phải thường xuyên quán xét của bậc xuất gia (pabbajitas), là những người đang nỗ lực nhổ tận gốc rễ các phiền não lậu hoặc. Những điều quán xét này được lấy từ trong “Kinh Bậc Xuất Gia Thường Quán Xét” (Pabbajita Abhiha Sutta) của Tăng Chi Bộ, Kinh Pāli, q3.

Sau khi nghe bài Pháp này, tu nữ Susīla, người Malaysia, bày tỏ mong muốn và thỉnh cầu phát hành bài Pháp thoại này cho mọi người như là một món quà Pháp thí. Sau khi chuyển biên từ băng audio, nó đã được xuất bản và phát hành như một món quà Pháp. Như một lời khuyên, điểm chính của bài dạy liên hệ đến Bát Thánh Đạo chỉ được mô tả theo một cách tóm lược để đại chúng có thể hiểu được. Vì vậy, việc có sự hướng dẫn đáng tin cậy vẫn cần thiết cho những ai muốn thực hành đầy đủ và kỹ lưỡng.

CHÂN NGÔN TỐI THƯỢNG

Với lòng từ bi vô lượng,

Đức Thế Tôn đã chỉ dạy chúng sanh,

Chỉ có Bát Thánh Đạo

Mới là con đường Thánh dẫn tới an tịnh Niết-bàn

Chấm dứt mọi đau khổ

Thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi

Đó chính là Chân ngôn Tối thượng

Của Đấng Chí Tôn Chí Thánh

Tương Ưng Bộ, Kinh Pāli, q.1, tr.191

Cầu chúc cho quý vị có thể thực hành theo lời dạy của Đức Phật trong Kinh Bậc Xuất Gia Thường Quán Xét (Pabbajita Abhiha Sutta).

Với Tâm Từ

Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayādaw

Trung Tâm Thiền Pa-Auk Tawya, Mawlamyine.

Phật lịch 2547

Myanmar, Năm 1365, Rằm Tháng Taw-da-lin

Ngày 10/9/2003

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc Ứng Cúng, Đấng Chánh Đẳng Giác

Chương 1.
Kinh Bậc Xuất Gia Thường Quán Xét
Pabbajita Abhiṇha Sutta

Này Tỷ-kheo, có mười điều cần phải thường xuyên quán xét bởi những ai đã bước vào đời sống xuất gia với một ý chí và mục đích diệt trừ phiền não. Trước hết, vị xuất gia cần phải quán xét thường xuyên về trạng thái hình tướng của một vị Tỷ-kheo như sau:

Không còn là một cư sĩ, ta đã trở thành bậc xuất gia với hình tướng đã thay đổi khác

Có hai sự khác biệt khi là một bậc xuất gia: thứ nhất là vẻ ngoài của vị Tỷ-kheo, thứ hai là với y phục và các vật dụng mà người Tỳ-kheo sử dụng trong đời thường.

Sự Biến Đổi Về Thân

Ở đây, chú giải đề cập tóm tắt về tiến trình thay đổi bề ngoài sẽ được thấy như thế nào. Thông thường điều đó có thể dễ dàng thấy nếu ta soi gương. Vì điều đó thật không phù hợp với Tỷ-kheo hay tu nữ nếu sử dụng gương soi, họ có thể nhận rõ sự thay đổi của thân này qua sự lưu ý chỗ đầu tóc và râu đã được cạo sạch. Vả lại, nhìn gần hơn nữa, trên tóc này không còn tóc của tuổi thanh xuân nữa mà giờ đây chỉ còn lại tóc bạc. Khi nhìn vào làn da, vị ấy lại nhận ra nhiều nếp nhăn, và nhiều vùng da bị chùng xuống là dấu hiệu của tuổi già nua. Đó là một tiến trình biến đổi liên tục trong thân cho dù ta có cố gắng đến đâu để duy trì tuổi trẻ và hình dáng bên ngoài. Tấm thân mà ta yêu quý và chăm sóc nó biết bao mà nó vẫn đi ngược lại ý muốn trẻ mãi không già của ta. Trong nhịp bước của chuyển hóa và chuyển biến, nó làm cho thân ta đi dần đến sự tiêu hoại và cái chết. Cho dù nghiệp xấu hay tốt thì ta cũng không thể đảo ngược tiến trình đó được. Bất lực trước sự biến đổi này, thân ta luôn đau ốm từ lúc bắt đầu có thân này, sự lão hóa không ngừng và nhiều bức xúc của thân diễn ra hằng ngày. Tiến trình biến đổi này cứ đi tới, đi tới mãi và nó không để cho ai thoát cả. Những điều này phải luôn được quán xét bởi những vị xuất gia và những ai đang đi trên con đường tiến hóa tâm linh.

Sự Khác Biệt Về Y Phục Và Các Thứ Vật Dụng

Trong đời sống cư sĩ, không có một giới hạn nào. Mọi thứ đều có thể chợt nảy ra. Sự ham muốn và cái tâm buông lung chạy theo nhiều thứ. Một người có thể mặc quần áo nhiều màu và đủ thứ kiểu dáng, họa tiết khác nhau. Một người cũng có thể chiều chuộng mình ăn ngon với nhiều khẩu vị khác nhau, đựng thức ăn trong đĩa vàng, đĩa bạc. Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mục-kiền-liên, là hai vị đại đệ tử của Đức Phật, trước khi xuất gia đã dùng nhiều thức ăn thượng hảo hạng đặt trong đĩa bằng vàng và bằng bạc vì các vị ấy vốn xuất thân trong các gia đình thế gia quyền quý. Một người bình thường có thể ngủ trên một chiếc giường sang trọng và ngồi trong những chiếc ghế đắt tiền đặt trong phòng đầy đủ tiện nghi. Một cư sĩ cũng có thể sử dụng đủ các loại thuốc bán sẵn ngoài thị trường chưa kể đến chất lượng hay giá trị của nó thật đa dạng. Đó là đời sống của một cư sĩ.

Tuy nhiên, có sự khác biệt rất lớn và đổi thay quan trọng ngay khi người đó bước vào đời sống xuất gia. Tứ vật dụng của một vị sư là y phục, thực phẩm, chỗ ở và thuốc men thật đơn giản và khiêm tốn. Không có tiện nghi sang trọng cho dục vọng vô hạn và cũng chẳng thể luôn chiều chuộng cái tôi. Một vị tăng phải sống đơn giản với tiện nghi tối thiểu để sự thu thúc lục căn và tinh thần kỷ luật có thể cùng phát triển. Vị ấy phải từ bỏ các tiện nghi và dục trần mà mình đã hưởng thụ trước đây.

Về sự mặc, vị Tỷ-kheo phải dùng các y được làm từ các mảnh vải phế thải nhỏ. Bộ y của vị Tỷ-kheo được làm từ những miếng vải bỏ không còn giá trị nữa, được cắt thành hình vuông nhỏ để làm mất giá trị của nó, rồi may lại và nhuộm bằng vỏ cây nâu trong rừng nhiệt đới như thời xa xưa. Loại y này chẳng có chút giá trị nào theo nghĩa tiền bạc khiến không một tên trộm nào muốn lấy cắp. Đó là loại y phục của vị Tỷ-kheo mà không một ai muốn lấy để mặc cả.

Đối với vật thực và bữa ăn, vị Tỷ-kheo phải dùng bất kỳ món gì do người thế tục bố thí cúng dường. Đặt tất cả những vật thực được cúng dường trong chiếc bát làm bằng sắt hay đất sét, vị Tỷ-kheo phải dùng thức ăn được trộn lẫn vào nhau trong bát bất kể sở thích cá nhân của mình. Đối với vị Tỷ-kheo và đối với những ai đang đi trên con đường tiến hóa tâm linh, ăn trở thành một tiến trình duy trì thân mạng hơn là một hành động chiều chuộng bản thân. Nó phải được thực hiện trong sự tiết chế và chánh niệm tỉnh giác.

Hơn nữa, vị Tỷ-kheo phải dùng chiếc giường khiêm tốn nhất và các thứ đồ đạc chỉ vừa đủ theo nhu cầu cần thiết. Vị ấy không còn được sử dụng các loại giường, đồ đạc sang trọng. Vị ấy phải, như một qui định về sự khiêm tốn và giản dị được mô tả trong Giới Luật (Vinaya), dùng đệm mây, cỏ hoặc miếng da vuông để lót ngồi. Với mục đích trú ngụ, bóng mát của cây cối được khuyến khích dùng làm nơi nghỉ hoặc nơi hành thiền.

Đối với thuốc men, vị Tỷ-kheo phải dùng loại dược thảo chế biến tự nhiên. Tất nhiên, cũng có các ngoại lệ nhất định cho tứ vật dụng. Tuy nhiên, cách thức và lề lối mà vị Tỷ-kheo sử dụng cho tứ vật dụng như y phục, thực phẩm và chỗ ở, thuốc men đều rất khác với một cư sĩ. Sự thay đổi này là để thực hành Giới hạnh của một bậc tu hành vì vậy Đức Phật đã dạy ta phải thường xuyên quán xét sự thay đổi này.

Những bậc thiện nhân làm theo lời dạy của Đức Phật là Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Mục-kiền-liên, Tôn giả Mahā Kassapa và vô số các vị đệ tử khác của Đức Phật. Hầu hết họ đều xuất thân từ những gia đình giàu sang quyền quý.

Tinh Thần Khiêm Tốn Mẫu Mực của Tôn Giả Xá-lợi-phất

Giữa các vị đệ tử của Đức Phật, một ví dụ về Tôn giả Xá-lợi-phất rất đáng được nhắc tới ở đây. Ngài là con trong một gia đình giàu sang. Vào những giây phút cuối của cuộc đời, ngài đã trở về nhà mẹ ruột của Ngài để nhập Vô Dư Niết-bàn cũng vào ban đêm ngay tại phòng nơi mà Ngài đã được sinh ra. Mục đích của Ngài là để giúp mẹ là bà Rūpa Sari, có thể chứng ngộ Pháp trước khi Ngài nhập diệt Niết-bàn. Sau khi nghe một bài Pháp của ngài Tôn giả Xá-lợi-phất, bà đã chứng đắc tầng thánh giác ngộ đầu tiên và trở thành bậc Tu-đà-hoàn (Sotāpanna). Đây cũng là món quà từ biệt mẹ của Ngài và thể hiện lòng tri ân đặc biệt sâu sắc của Ngài đối với mẹ trong những giây phút cuối của đời mình.

Thực hiện xong thiện sự đó, Tôn giả Xá-lợi-phất đã qua đời và nhập diệt Niết-bàn tại đó. Mẹ của Ngài là bà Rūpa Sari đã phát triển được niềm tin mới và hết lòng phục vụ Pháp Bảo. Vì thế, như được biết, bà đã sắp xếp lễ tang và lễ hỏa táng cho Ngài Tôn giả Xá-lợi-phất bằng cách sử dụng thật sự có ý nghĩa số của cải của bà.

Sau khi thân xác Ngài hoàn toàn bị thiêu cháy, một trong những hiện tượng kỳ diệu là di cốt của bậc giác ngộ, đặc biệt là xương đã biến thành các hạt có nhiều cỡ khác nhau được gọi là xá lợi. Ngoài tro cốt của Ngài ra, nhiều xá lợi đã được tìm thấy tại nơi hỏa thiêu ngài Xá-lợi-phất. Tôn giả Cunda, người em của Ngài Xá-lợi-phất, đã mang xá lợi của Ngài về Kỳ Viên Tinh Xá (Jetavana) tại thành Xá-vệ (Sāvatthi) và dâng lên Đức Phật khi Ngài ngự tại đó.

Tại đây, thật là đặc biệt khi nhắc về Tôn giả Xá-lợi-phất, mặc dù là con của một gia đình giàu có, Ngài đã từ bỏ tiện nghi vật chất và các dục lạc thế gian để bước vào cuộc đời Phạm Hạnh. Đức Bổn Sư đặt vuông vải lọc chứa xá lợi của Ðại Ðức Xá-lợi-phất trên tay và khen ngợi đức hạnh cao quý của Tôn giả Xá-lợi-phất trước mặt Tăng chúng với bài kệ như sau:

Là bậc xuất gia trải qua

tổng cộng năm trăm kiếp chán ngán ngũ trần,

mọi thú vui thế gian đều buông bỏ,

không gì quyến rũ được người.

Hãy kính cẩn nghiêng mình,

vị lục căn hoàn toàn thanh tịnh

mọi phiền não vắng lặng

một bậc Thánh giác ngộ.

Vững chãi như đất,

không hề chao động

Không chút hành xử lệch lạc

dù là tốc hành tâm nhỏ

sự nhẫn nại vô cùng mạnh mẽ.

Sân hận hoàn toàn vắng bặt.

Lòng từ bi thương xót mọi chúng sanh

Nay vị ấy đã nhập diệt

An tịnh Niết-bàn

Hãy kính cẩn nghiêng mình

Từ biệt con người đáng kính.

Khiêm cung như con kẻ bần cùng, đến đô thị này,

Với bát tre khất thực qua ngày,

Đức hạnh khiêm cung sáng ngời,

Hỡi, Xá-lợi-phất đại khiêm cung,

Một đời Thánh nhân không cấu nhiễm,

Hãy kính cẩn nghiêng mình từ biệt,

một bậc Thánh

Giờ đây đã bước vào cõi an tịch tịnh

Như con bò đực gãy sừng,

Đó đây trong rừng hoặc đô thị náo nhiệt,

Chưa bao giờ tổn hại đến ai,

Cũng như Xá-lợi-phất,

Không phương hại chúng sanh nào,

Hãy kính cẩn nghiêng mình chào,

một bậc Thánh

Giờ đây đã bước vào cõi an tịch tịnh.

Nói về cuộc đời của Ngài Xá-lợi-phất, Đức Phật đã nói ra những lời tán thán chưa từng có cho một vị đệ tử. Đức Phật đã hết sức tán dương tất cả các khía cạnh nổi bật của một vị thánh giác ngộ. Cuộc đời ngài là một ví dụ sống động hiện thân cho sự hy sinh bền bỉ, sự giải thoát nội tâm hoàn hảo, và tính kiên nhẫn vĩ đại, một đức hạnh trong sạch, trí tuệ, từ bi và khiêm cung. Ngài còn là một tấm gương hoàn hảo mà tất cả chúng ta nên phấn đấu noi theo. Thật là kỳ diệu khi Tôn giả Xá-lợi-phất đã xuất gia không phải trong kiếp này mà còn trong nhiều kiếp trước tổng cộng là năm trăm kiếp. Trong các kiếp này, ngài đã từ bỏ một cách cương quyết và hoàn toàn sống tách rời khỏi thế giới ngũ dục và sở hữu vật chất đã kềm giữ ngài trong suốt các kiếp sanh tử luân hồi. Thực sự, hoàn toàn nổi bật hơn hẳn trong số các đại đệ tử kiệt xuất của Đức Phật là vị Đại đệ tử lỗi lạc Tôn giả Xá-lợi-phất.

Sau khi trở thành vị Tỷ-kheo, ngài đã giác ngộ hoàn toàn vào lúc ngài chứng đắc A-la-hán Đạo và A-la-hán Quả, nhổ tận gốc rễ mọi phiền não và các ô nhiễm trong tâm, ngài đã hoàn toàn đạt đến sự an tịnh và giải thoát. Từ sự chứng ngộ đó, một số tâm khởi lên như trí tuệ và sự điềm tĩnh v..v. Lúc đó, không còn tham ái, ghét bỏ hay si mê nơi ngài, tâm của ngài tràn đầy sự định tĩnh, an lành. Kết quả là sau đó, có sự sanh khởi của năng lực xả và kham nhẫn được gọi là Đức Hạnh nhẫn nại (Adhivāsana Khanti). Hạnh nhẫn nại của Ngài giống như mặt đất vĩ đại mà tất cả các loài, lớn, nhỏ, hữu tình hoặc vô tình đều có thể hiện hữu trên đó. Một cách tự nhiên, đất, ngay cả khi vật tịnh hay bất tịnh như phẩn uế quăng liệng trên đất, nhưng đất không bao giờ phản ứng lại. Tương tự như vậy, tâm của ngài Xá-lợi-phất vô cùng kiên định và không hề chao động bởi bất kỳ đối tượng nào tiếp xúc lục căn.

Thông thường với hành vi người đời là bị sai khiến bởi dục vọng và nhiều xúc cảm khác nhau. Tôn giả Xá-lợi-phất đã không bao giờ chạy theo ý thích bất chợt nảy sinh. Ngài chỉ làm những điều thích hợp, thiện lành và cần thiết. Ngài tránh xa những việc làm bất thiện và không cần thiết. Ngài chỉ nói khi cần nói, và dùng các lời thiện lành, hữu ích và cần thiết. Ngài không bao giờ nói ra những điều không cần thiết dù chỉ là một lời. Luôn giữ chánh niệm, ngài không bao giờ để các tâm lan man và bất thiện sanh khởi. Trong suốt cuộc đời của ngài, không có trường hợp nào ngài làm điều bất cẩn hay lôi thôi. Sau đây là một số sự điều nổi bật của Đại đức Xá-lợi-phất.

Khi Ngài đắc thiền Tâm Từ, trong tầng thiền ngài đã rải tâm từ cho tất cả các chúng sanh các loài. Không chỉ với thiện chí và lòng trắc ẩn, ngài còn bảo vệ và làm những điều tốt nhất cho những ai mà ngài đi ngang qua. Hành động và thiện ý của ngài luôn bổ sung cho nhau.

Nói về sự khiêm cung của Ngài Xá-lợi-phất, Đức Phật đã ví sự khiêm cung đó giống như đứa con của kẻ bần cùng hạ tiện. Chúng ta hãy quan sát gần hơn đứa con của kẻ nghèo khổ đi vào đô thị khất thực. Một đứa con trai của kẻ bần cùng, vì đời sống khốn khó, sống một cuộc đời không đủ ăn, không có chỗ nương thân theo nghĩa được gọi là mái nhà. Ngay cả cái bát người đó dùng cũng làm bằng tre. Tuyệt nhiên không một chút kiêu căng ngã mạn gợn lên trong tâm người đó, vì người đó không hề sở hữu một cái gì để có thể tự hào, tự mãn. Người đó chỉ đơn giản hiểu rằng nếu mình trông có vẻ kiêu căng ngã mạn hay nóng nảy thì sẽ không ai bố thí thức ăn hay vật dụng mà mình cần thế thôi.

Như đã đề cập trên, Tôn giả Xá-lợi-phất, mặc dù là con trai của một gia đình giàu có, nhưng Ngài luôn nhu thuận và khiêm nhường. Từ khi bước vào đời sống xuất gia, ngài sống khiêm hạ, nhẹ nhàng như con trai của một kẻ bần cùng nghèo khó. Ngay cả khi ngài đi bát, dáng vẻ ngài toát lên sự khiêm hạ tột cùng. Theo cách tương tự, những ai đã bước vào đời sống xuất gia thì cần phải học tập thái độ thánh thiện và cách sống tốt đẹp như ngài Xá-lợi-phất. Đây là điều mà Đức Phật muốn nhấn mạnh đối với tất cả các Tỳ-kheo.

Hơn nữa, Đức Phật đã lấy ví dụ con bò đực gãy sừng. Như con bò gãy sừng khi nó đi đó đây trong khu rừng và đồng ruộng, hoặc làng mạc hay đô thị không làm tổn hại đến bất cứ ai. Tương tự vậy, ngài Xá-lợi-phất với tâm từ và đầy lòng trắc ẩn, không bao giờ làm hại ai, hoặc gây đau khổ, buồn phiền cho bất cứ ai trong cả bốn oai nghi trong suốt cuộc đời của ngài. Vì vậy, Đức Phật đã khuyến khích tất cả các Tỳ-kheo tỏ lòng kính trọng đối với Tôn giả Xá-lợi-phất, người đã bước vào cõi an lạc Niết-bàn, nơi mà tất cả các phiền não bị tận diệt.

Ở đây, tôi muốn nói rằng Đức Phật nhấn mạnh yêu cầu với các vị Tỳ-kheo phải thường xuyên quán xét sự biến đổi thân này khi là một Tỷ-kheo. Điều đó có lợi lạc gì?

Theo giải thích của Chú giải, nếu ai thường xuyên quán xét tiến trình biến đổi của thân và về các thứ sử dụng hằng ngày với tư cách là một vị Tỷ-kheo, mọi sân hận và kiêu căng ngã mạn sẽ theo đó mà dần giảm đi và sẽ diệt trừ hoàn toàn trong tâm.

Thấy trước kết quả tuyệt diệu này, Đức Phật đã dạy tất cả các Tỳ-kheo hãy quán xét điều thứ nhất thật thường xuyên là tiến trình biến đổi về thân rõ rệt khi trở thành một Tỷ-kheo.

Chương 2.
Đời Sống Tu Hành Lệ Thuộc Vào Thí Chủ

Đức Phật dạy “Đời sống của ta lệ thuộc vào sự cúng dường của thí chủ”, vì vậy, Tỷ-kheo phải thường xuyên quán tưởng điều này.

Vì thế, điều thứ hai là quán tưởng về sự nuôi mạng lệ thuộc vào thí chủ. Tại sao phải quán tưởng như vậy?

Quán tưởng như vậy, sẽ giữ cho sự nuôi mạng của vị Tỷ-kheo được trong sạch và sẽ tăng trưởng ý thức trân trọng việc cúng dường vật thực hàng ngày của thí chủ”. Chú giải, q3, tr 313.

Điều quan trọng đối với vị Tỷ-kheo là giữ được Giới hạnh liên quan đến sự nuôi mạng chân chánh (Ājīva pārisuddhi sīla) trong sạch và thanh tịnh. Nếu không, đời sống của vị Tỷ-kheo trở thành vô nghĩa và thậm chí nó sẽ trở ngại cho quá trình tu tập tâm linh của vị ấy.

Vị Tỳ-kheo phải biết quán tưởng thường xuyên “Tôi đang mặc y cúng dường, tôi đang dùng vật thực cúng dường, chỗ tôi đang ở là do thí chủ cúng dường, tôi đang dùng thuốc men cúng dường”. Nhờ sự quán tưởng này, sẽ dần dần giúp cho vị ấy tăng trưởng Giới hạnh Nuôi Mạng Thanh Tịnh (Ājīva pārisuddhi sīla), giới hạnh của Tỳ-kheo liên hệ đến sự nuôi mạng hàng ngày. Tại sao vậy? Bởi nhờ thường xuyên quán tưởng điều này, vị Tỷ-kheo đó được nhắc nhở luôn giữ gìn đúng giới luật trong Tạng Luật theo lời dạy của Đức Phật. Nó sẽ giúp cho vị ấy tránh được sự tà mạng (micchājīva), là cái mà Đức Phật không cho phép. Với những vị mà ngay cả những ý nghĩ nhỏ nhất của sự quán tưởng cũng không có thì luôn có chiều hướng làm ngược lại với giới luật của đời sống xuất gia. Như một kết quả, họ không giữ được Giới nuôi mạng chân chánh (Ājīva pārisuddhi sīla) trong sạch. Với người biết thường xuyên quán tưởng điều này, thì Giới nuôi mạng thanh tịnh (Ājīva pārisuddhi sīla) của vị ấy sẽ dần trở nên trong sạch. Nếu vị ấy có thể giữ giới này trong sạch, thì Giới (Sīla) của vị ấy sẽ trọn vẹn.

Sáu điều trong Giới Luật Vinaya

Có sáu điều trong Giới Luật (Vinaya) liên quan đến chánh mạng. Ở đây, chúng tôi phải giải thích rằng xuất gia không phải là một nghề liên quan đến việc kiếm sống dựa vào đồng lương hay thu nhập định kỳ. Bằng ý nghĩa của sự nuôi mạng nó ám chỉ rằng một vị tỳ-kheo không tránh khỏi phải nỗ lực để có được các vật dụng hằng ngày. Những điều ghi trong Giới Luật đã được ghi chép trong Kinh điển Pāli bộ Parivāra, bộ Thứ năm của Tạng Luật như sau:

Tội thứ nhất là một trong sáu trọng tội được gọi là Bất cộng trụ (Pārājika). Nó cấm các vị Tỷ-kheo không được nói dối liên quan đến việc chứng đắc tầng thiền (Jhāna), Đạo (Magga) và Quả (Phala), thần thông mà một người có thể đạt được qua tu tập. Một vị Tăng không được phép nói sai sự thật với tác ý không chân thật nhằm gây ấn tượng cho người khác để ông ta nhận được sự kính trọng, sự cúng dường, và sự tận tụy phục vụ của mọi người. Sau khi nói dối như thế, nếu vị Tăng nhận cúng dường theo cách này, thì Giới nuôi mạng Chân Chánh (Ājīva pārisuddhi sīla) sẽ không trong sạch.

Tội Thứ hai gọi là Tăng tàn (Saghādisesa). Giới Luật cấm các Tỷ-kheo không được làm mai mối cho người nam hay người nữ cho việc đi đến hôn nhân của họ hoặc bất kỳ sự liên hệ thân mật.

Tội thứ ba là được gọi là Trọng Tội (Thullaccaya). Nó cấm vị Tỷ-kheo nói lời không chân thật về sự chứng đắc của vị Tăng khác đặc biệt là một người bạn để người bạn này nhận được sự kính trọng và cúng dường từ người khác.

Tội thứ tư được gọi là ưng đối trị (Pācittiya). Nó cấm vị Tăng, trừ trường hợp khẩn cấp, để hỏi thức ăn ngon như bơ, bơ lỏng, mật ong, kẹo đường, hoặc thứ gì từ người không phải là ruột thịt mà không được họ thỉnh cầu.

Tội thứ năm gọi là Ưng Phát Lộ (idesanīya). Đây là Giới Luật dành cho Tỷ-kheo-ni. Nó cấm Tỷ-kheo-ni không được hỏi vật thực như trên từ người không phải là ruột thịt mà không được họ thỉnh cầu.

Tội thứ sáu gọi là Tác Ác (Dukkaa). Nó cấm Tăng, không bệnh thì không được đòi hỏi vật thực bình thường như canh đậu, gạo và các vật dụng cần thiết từ người không phải là ruột thịt mà họ chưa thỉnh cầu.

Nếu một vị Tăng tìm vật thực hay các vật tương tự bằng cách phạm một hay tất cả các tội trên, thì sự nuôi mạng của vị ấy sẽ bị gọi là Tà mạng (Micchājīva), đã nuôi mạng bằng cách làm sai trái và không đúng đắn. Giới hạnh liên quan đến sự nuôi mạng thanh tịnh (Ājīva pārisuddhi sīla) của vị ấy không còn trong sạch nữa.

Sẽ không có tà mạng sai trái nếu vị Tỳ-kheo thường quán tưởng rằng sự sống của ta hoàn toàn lệ thuộc vào sự cúng dường của thí chủ. Vị Tỳ-kheo như thế sẽ luôn tránh khỏi việc tìm kiếm vật thực sai trái.

Trong Bộ Phân tích, bộ thứ hai của tạng Vi Diệu Pháp, kinh điển Pāli, một vài cách sống tà mạng đã bị khiển trách bởi Đức Thế Tôn được mô tả chi tiết như sau. Bất cứ điều gì đòi hỏi theo cách nuôi mạng sai trái đều bị cấm. Một vị Tăng thường xuyên quán tưởng về sự nuôi sống thân mạng lệ thuộc vào sự cúng dường của thí chủ thì sẽ tránh được cách sống tà mạng và các đòi hỏi khác.

Thêm vào đó, Đức Phật đã nói tiếp như sau:

Piṇḍapāto sa apacito hoti” nghĩa là hành động biết tôn trọng và tri ân đối với việc đặt bát bởi tâm rộng lượng cúng dường của thí chủ. Vị Tỷ-kheo sẽ dần có hành động trân trọng và tri ân đối với sự đặt bát cũng như đối với thí chủ cúng dường.

Câu Chuyện về Đại Đức Ayyamitta

Ở điểm này, tôi sẽ kể về vị Tỷ-kheo nổi tiếng tên là Ayyamitta. Câu chuyện xảy ra ở một đảo thời cận đại của nước Sri Lanka. Vị đại đức Tỷ-kheo sống trong hang núi gọi là Kassaka đang miệt mài chuyên tâm hành thiền tại một khu rừng để đi đến Đạo và Quả. Hành động mẫu mực về sự trân trọng và tri ân của ngài đối với việc cúng dường thường được nhắc đến trong các Chú giải Kinh điển Pāli.

Chú giải mô tả ngắn gọn một vị Tỳ-kheo nên quán tưởng theo cách sau:

Các thí chủ cúng dường vật thực và tứ vật dụng này không phải là thân quyến của ta, cũng không phải là đày tớ cho ta, họ cúng dường vật thực ngon và tứ vật dụng cho ta không phải để mong cầu được sống dựa vào ta”

Đức Phật không cho phép nhận tứ vật dụng cho mục đích lợi dưỡng thân xác này, ngoại trừ mục đích duy trì thân mạng”

Thực ra, Đức Phật chỉ cho phép nhận tứ vật dụng và hy vọng rằng nhờ sự thọ dụng này, ta sẽ có thể tiến hành thiền Định và thiền Quán để có thể giải thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi (sasāra).

Vì dễ duôi, ta sẽ có những hành động như thiếu trân trọng việc đặt bát cúng dường của thí chủ.

Suy tư về những thí chủ mang vật thực và tứ vật dụng đến cúng dường chư tăng, phục vụ nhu cầu cần thiết hằng ngày. Các thí chủ rộng lượng này chẳng phải là quyến thuộc hay đày tớ, mà cũng chẳng phải sinh kế của họ lệ thuộc vào chư tăng.

Đôi khi có cả những người bố thí cúng dường với tâm hào phóng thật đặc biệt từ sự nhịn ăn, nhịn mặc của mình. Nhờ vào tâm đại lượng, họ mang món ngon nhất, mang cái mặc tốt nhất, đem cái để ở và thuốc men tốt nhất, tất cả để mà cúng dường. Những thí chủ này chỉ có một mong muốn duy nhất trong tâm là: ước nguyện chân thành là tích lũy thật nhiều phước báu từ việc hành thiện này! Đây chính là mục đích duy nhất của thí chủ và không có gì khác ngoài điều này.

Đức Phật cho phép các vị Tỷ-kheo nhận các tứ vật dụng không phải để bồi dưỡng cho mập mạnh, không phải để các Tỷ-kheo sống trên sự xa hoa. Ngài cho phép nhận tứ vật dụng để đáp ứng các nhu cầu cơ bản hằng ngày của một vị Tỷ-kheo để họ có thể chuyên tâm thực hành thiền Định hoặc thiền Tuệ để giải thoát khỏi vòng khổ đau bất tận của luân hồi (sasāra).

Người dễ duôi, lười biếng không nỗ lực thực hành tâm linh là vô tình đối với việc làm phước thiện của thí chủ. Chỉ có sự thực hành chuyên tâm mới là sự tôn trọng thí chủ và thể hiện lòng trân trọng việc đặt bát của thí chủ.

Thái độ tôn trọng và lòng biết ơn chỉ có thể có được nơi tâm của hành giả biết dốc sức thực hành ngày đêm. Đức Phật dạy cho chúng ta cách quán tưởng này để thái độ tôn trọng và lòng biết ơn phát triển và theo cách đó sẽ cho sức đẩy mạnh mẽ cho sự phát triển tâm linh.

Tỷ-kheo Ayyamitta và Gia Đình Tâm Đại Lượng Bố Thí

Có một gia đình gồm người mẹ và cô con gái sống trong một làng gần nơi Đại đức Ayyamitta thường hay đi bát. Mặc dù rất nghèo, nhưng họ luôn cố gắng bằng mọi cách cúng dường những vật dụng cần thiết mỗi ngày cho vị Tỷ-kheo đáng kính như thể ngài là một thành viên trong gia đình, như một người con trai. Một ngày nọ, trước khi ra đồng, người mẹ bảo cô con gái: “Này con, trong nhà còn một ít gạo từ mùa gặt trước, một ít sữa trong bếp, và một ít đường thô và bơ. Con hãy lấy mấy thức đó nấu thành món ăn để cúng dường cho người anh Tỳ-kheo của con. Phần còn lại thì con ăn sau nhé.

Cô con gái hỏi: “Thưa mẹ, còn mẹ sẽ ăn gì? Con sẽ chuẩn bị gì cho mẹ?”. Người mẹ đáp: “Mẹ vừa ăn xong miếng cơm nguội với nước tương”. Cô con gái hỏi tiếp: “Còn buổi trưa mẹ sẽ ăn gì?”. Người mẹ đáp lại: “Buổi trưa, con lấy ít gạo nát và rau nấu món cháo chua cho mẹ nhé.

Đại đức Ayyamitta, khi ấy đang chuẩn bị vào làng đi bát như thường lệ, nghe được cuộc nói chuyện của hai mẹ con bằng thiên nhĩ thông (dibba – sota). Đây là thần thông có năng lực nghe được tiếng nói từ khoảng cách xa.

Khi nghe câu chuyện trên, suy tư chân chánh của Đại đức khởi lên: “Người mẹ rộng lượng này vừa dùng bữa sáng đạm bạc của mình bằng cơm thừa với nước tương. Bây giờ, bà nói rằng bà sẽ dùng cháo chua trộn rau cho bữa trưa của mình. Còn ta, thì bà lại bảo cô con gái cúng dường món ngon nhất được nấu bằng đường, sữa và bơ. Thực ra, bà ấy không hề mong đợi một sự đền đáp nào từ nơi ta như là mảnh đất trồng trọt, vật thực hay y phục. Bà chỉ mong ước từ phước thiện này sẽ có được ba quả là tái sanh làm người, trời hoặc chứng đắc Niết-bàn. Ta có thể cho bà ấy ba thứ này để đền đáp lại được không? Vì ta vẫn chưa hoàn toàn tận diệt tham (rāga), sân (dosa), si (moha), thật chưa chưa xứng đáng cho ta nhận phần để bát của gia đình đại lượng này”.

Nghĩ vậy, Đại đức liền đặt bát của mình trở vào bao và quay về hang. Sau khi cất bát dưới gầm giường và máng y lên, Đại đức ngồi xuống quyết tâm sắt đá hành thiền tinh tấn nỗ lực và quyết sẽ không rời khỏi hang nếu chưa đắc quả A-la-hán, giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ giải thoát.

Quyết định của vị ấy thật tốt đẹp biết bao nhiêu. Với một người như Đại đức Ayyamitta người đã từng hành trì miên mật nhiều năm, nên việc đắc quả A-la-hán là điều tất yếu. Ngay trước giờ ăn trưa, ngay trong thời ngồi đó ngài đã đắc quả vị A-la-hán. Với ánh hào quang của sự an tịnh và trong sạch, vị ấy ngồi trong hang tinh khiết như một đóa hoa sen mới nở.

Nhìn thấy sự kỳ diệu này, một vị thiên ở gần đó đã thốt lời khen ngợi và chúc tụng đến Đại đức: “Hỡi người anh hùng, tôi xin đảnh lễ ngài! Hỡi vị thánh, tôi xin đảnh lễ ngài! Vị Đại đức đã giải thoát khỏi mọi khổ đau! Tất cả lậu hoặc bị cạn khô, Ngài đã trở thành một bậc thánh đáng cung kính và đáng cúng dường”. Sau những lời tán thán này, vị thiên thúc giục:

Do phước báu đặt bát với thiện tâm rộng lượng cúng dường cho một bậc đã giác ngộ như ngài, người phụ nữ lớn tuổi kia sẽ sớm thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi (sasāra). Xin ngài hãy tiếp tục vào làng đi bát.

Rồi, Đại đức Ayyamitta mang bát vào làng.

Câu chuyện này cho ta thấy rằng nhờ việc quán tưởng đời sống của vị tăng lệ thuộc vào thí chủ sẽ có sự khởi sinh ý thức trách nhiệm trân trọng và đền ơn thí chủ bằng cách nỗ lực tinh tấn hành trì. Hơn nữa, như là kết quả của việc tuân thủ sự quán tưởng này, sẽ không có việc sử dụng tứ vật dụng hời hợt và thiếu quán xét như lời Đức Phật đã dạy.

Bằng cách tuân thủ sự quán tưởng này, nó chẳng những giúp cho vị Tỷ-kheo giữ Giới nuôi mạng thanh tịnh (Ājīva pārisuddhi sīla) trong sạch mà còn giúp giữ Giới quán tưởng tứ vật dụng (Paccayasannissita Sīla) trong sạch. Giới quán tưởng tứ vật dụng (Paccayasannissita Sīla) là giới liên quan đến việc thọ dụng tứ vật dụng. Kính trọng việc đặt bát bằng sự cam kết hành trì sẽ dẫn dắt vị ấy chứng quả A-la-hán. Thực vậy, sự quán tưởng thứ hai cần được tuân thủ bởi người xuất gia.

Chương 3.
Sự Chuyển Hóa Oai Nghi và Phong Cách Cư Xử

Đức Phật dạy rằng quán tưởng thứ ba sẽ phải được thực hiện bởi các Tỷ-kheo như sau:

Là Tỷ-kheo, tôi phải có oai nghi và cách cư xử phù hợp với một bậc xuất gia”. Các Tỷ-kheo phải luôn quán tưởng như thế.

Bất cứ ai đã trở thành Tỷ-kheo thì phải luôn cư xử đúng đắn phù hợp, nó được nói trong chú giải Tăng Chi Bộ Kinh, q3, tr313. Nói chung, cách đi đứng của vị Tỷ-kheo hoàn toàn khác với người thế tục. Thông thường, trong phong cách thoải mái của người thế gian, ngay cả bước chân đôi khi cũng có vẻ nghênh ngang và ngã mạn. Họ còn mang nhiều kiểu tóc đa dạng được nhuộm bằng nhiều màu, trang điểm với đồ trang sức. Từ khi trở thành một bậc xuất gia, vị ấy phải luôn giữ gìn oai nghi nghiêm túc.

Vậy phải đi, đứng như thế nào mới đúng cách?

Một người Tỷ-kheo phải biết oai nghi đi đứng với lục căn thanh tịnh, tâm an lành, mắt nhìn ra phía trước chỉ vài sải chân, bước đều đặn, không quá chậm, cũng không quá nhanh, giống như “chiếc xe bò chở nước đi trên con đường gập ghềnh” nói trong chú giải của Tăng Chi Kinh, q3, tr313

Một Tỷ-kheo, khi đi lại, phải giữ gìn lục căn an tịnh và thăng bằng. Tâm phải luôn giữ ở trạng thái an tịnh bằng cách thực hành thiền Chỉ hoặc thiền Quán như là một trong những thói quen. Làm thế sẽ khiến cho tâm vị ấy luôn an tịnh. Lục căn vị ấy cũng trở nên an tĩnh.

Một chiếc xe bò chở nước đi trên con đường gập ghềnh không nên đi quá nhanh để tránh nước bên trong đổ ra ngoài. Tương tự vậy, một Tỷ-kheo phải sải những bước chân đều đặn.

Lợi ích

Eva Paccavekkhato Hi Iriyāpatho sāruppo Hoti.”

Chú giải Tăng Chi bộ kinh, q3, tr313.

Lời dịch: Bằng cách thực hành đúng đắn giới hạnh này, lục căn của vị Tỷ-kheo sẽ trở nên thanh thản và an bình.

Tisso Sikkhā Paripūrenti.

Chú giải Tăng Chi bộ kinh, q3, tr313.

Lời dịch: Làm như thế sẽ giúp cho sự thực hành tam học Giới, Định, Tuệ. Tại sao vậy?

Lý do thật rõ ràng.

Một vị Tỷ-kheo nỗ lực thực hành tâm linh sẽ không bao giờ có hành động cẩu thả, bất cẩn. Không giống như người khác, vị ấy liên tục giữ chánh niệm tỉnh giác trong mọi hoạt động của vị ấy. Mỗi một bước chân đều là thời khắc thực hành thiền Chỉ hoặc thiền Quán tùy theo sự chọn lựa của vị ấy. Do vậy, mỗi giây phút thực hành của vị ấy sẽ bằng với thời gian thực hiện tam học Giới, Định, Tuệ.

Câu chuyện về Đại đức Mahā Tissa, một hành giả tinh tấn

Đây là một ví dụ đáng lưu ý về Đại đức Mahā Tisssa người đã sống trên một ngọn núi tên là Cetiya. Vào một ngày nọ, trong khi đang trên đường đi bát, vị ấy nghe tiếng cười rúc rích của một người phụ nữ. Vị ấy liền lấy răng của cô ta làm đề mục thiền bộ xương (aṭṭhi kamaṭṭhāna) và tiếp tục đi bát trên con đường dẫn vào thành phố cổ Anurudhā của Sri Lanka. Oai nghi của vị ấy rất an tịnh vì tâm vị ấy bám vào đề mục thiền bộ xương. Và lần nữa, ở trong thành phố, vị ấy lại nghe tiếng cười lớn của một người phụ nữ. Lấy răng cô ta làm đối tượng thiền, vị ấy tiếp tục hành thiền. Tức thì ngay lúc đó, toàn bộ hình dáng của người phụ nữ biến thành bộ xương dưới mắt nhìn của vị Tỳ-kheo.

Tại sao vị ấy lại thực hành thành công đề mục thiền bộ xương?

Bởi, vào lúc nghe tiếng cười của người phụ nữ đó, vị ấy có thể ngay tức khắc lấy lại định tâm hành thiền bộ xương bằng cách lấy răng của cô ta để làm đề mục thiền. Hơn nữa, vị ấy tiến hành thực hành đề mục bộ xương cả bên trong (trong chính bản thân vị ấy) lẫn bên ngoài (hình dáng người phụ nữ ấy). Dựa vào sự hành thiền này, vị Tỷ-kheo đã thành tựu một mức định tâm vững chắc của sơ thiền.

Dựa vào sơ thiền, vị ấy thực hành thiền minh sát bằng cách quán xét tam tướng Vô thường, Khổ, Vô ngã của Danh Sắc cùng với nhân và quả Danh Sắc. Vì những lý do này, vị Thánh Tăng đã tích cực theo đuổi việc thực hành thiền định, đã có thể tập trung vào khía cạnh bất tịnh của bộ xương và thành tựu quả vị A-la-hán bằng cách tiếp tục thực hành thiền Minh sát dựa trên nền tảng sơ thiền.

Vì thế, trong mỗi bước chân, vị ấy liên tục thực hành Tam học Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā). Ở đây, người ta có thể cho rằng vị ấy đã chứng đắc Đạo Quả chỉ trong nháy mắt. Nhưng sự thực, vị Đại đức Tỷ-kheo này đã thực hành thiền Vipassanā suốt cả đời nhưng chưa đắc được Đạo – Quả và Niết-bàn. Vị ấy phải đợi đến khi Tuệ minh sát chín muồi sẵn sàng cho việc chứng đắc Niết-bàn. Khi Tuệ minh sát đã hoàn toàn chín mùi, giây phút mà vị ấy hành thiền minh sát bằng cách quán xét tam tướng Vô thường, Khổ, Vô ngã của tất cả các pháp hữu vi của thân và tâm, vị ấy có thể dễ dàng chứng đắc Đạo (Magga), Quả (Phala) và Niết-bàn (Nibbāna).

Tại sao vậy? Bởi, vị ấy thực hành thiền Vipassanā bằng cách tập trung quán sát Tam tướng Vô thường, Khổ, Vô ngã của các hành mà nó được hiểu như Khổ đế và Tập đế từ rất lâu. Để có thể bổ sung cho việc thực hành Tam vô lậu Học, Đức Phật đã dạy phải Quán tưởng về sự thay đổi tướng mạo và oai nghi của vị Tỷ-kheo.

Hướng Dẫn Về Sự Cải Hóa

Ngoài ra còn có các cải hóa khác đòi hỏi các vị Tỳ-kheo phải thực hành, đặc biệt là vấn đề có thái độ thiện tâm. Đức Phật đã dạy các ví dụ mẫu mực về phẩm hạnh cho Đại đức Cunda trong bài thuyết giảng sau đây:

Này Cunda, ta tuyên bố rằng ngay chỉ một tâm thiện đối với điều thiện là đã lợi lạc to lớn, huống chi các hành động thiện được thực hiện bằng thân hành hoặc khẩu hành”.

Ở đây, chúng ta cần phải làm rõ điều thiện và việc hành thiện. Những lời dạy sau đây của Đức Phật với Đại đức Cunda là giải thích rõ ràng về các phẩm chất thiện cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

“Do đó, này Cunda, như vậy ngươi hãy tu dưỡng tất cả các thái độ thiện:

  1. ‘Những kẻ khác có thể là những người làm hại, chúng ta ở đây dùng từ bi và không sân độc để đáp lại’, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  2. ‘Những kẻ khác có thể sát sanh, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ sát sanh’, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  3. ‘Những kẻ khác có thể trộm cắp, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ trộm cắp’, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  4. ‘Những kẻ khác có thể không phạm hạnh, chúng ta ở đây sẽ sống phạm hạnh’, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.”
  5. “Những kẻ khác có thể nói dối, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói dối”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  6. “Những kẻ khác có thể nói hai lưỡi, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói hai lưỡi” thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  7. “Những kẻ khác có thể nói lời độc ác, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói lời độc ác” thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  8. “Những kẻ khác có thể nói lời phù phiếm, chúng ta ở đây sẽ từ bỏ nói lời phù phiếm”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
Bốn lời dạy trên của Đức Phật nhằm cải thiện thân hành.

Bốn lời dạy trên của Đức Phật nhằm hướng cho vị Tỷ-kheo biết cách làm thế nào để cải thiện khẩu hành. Sẽ không có sự khác biệt giữa một người thế tục và một vị bước vào đời sống xuất gia như Tỷ-kheo hay Tu nữ, nếu thân hành và khẩu hành của những vị ấy không trong sạch. Nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời thô lỗ, nói lời vô ích chỉ là lối sống bắt chước thế gian. Từ lúc trở thành một bậc xuất gia vị ấy phải luôn nói lời chân thật, thân thiện, lễ độ có thể làm tăng trưởng hành động thiện như bố thí, trì giới, Tham thiền (thiền Định hoặc thiền Quán). Một vị Tỷ-kheo nên nói đúng thời, đúng lúc những lời lợi ích dẫn tới nghiệp thiện.

Ngoài ra, Đức Phật còn dạy cách cải hóa ý hành như sau:

  1. “Những kẻ khác có thể tham dục, chúng ta ở đây sẽ không tham dục” thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  2. “Những kẻ khác có thể có sân tâm, chúng ta ở đây sẽ không có sân tâm” thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  3. “Những kẻ khác có thể có tà kiến, chúng ta ở đây sẽ có chánh kiến” thái độ thiện như thế cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  4. “Những kẻ khác có thể có tà tư duy, chúng ta ở đây sẽ có chánh tư duy”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  5. “Những kẻ khác có thể có tà ngữ, chúng ta ở đây sẽ có chánh ngữ”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  6. “Những kẻ khác có thể có tà nghiệp, chúng ta ở đây sẽ có chánh nghiệp”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  7. “Những kẻ khác có thể có tà mạng, chúng ta ở đây sẽ có chánh mạng”, thái độ thiện này phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  8. “Những kẻ khác có thể có tà tinh tấn, chúng ta ở đây sẽ có chánh tinh tấn”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  9. “Những kẻ khác có thể có tà niệm, chúng ta ở đây sẽ có chánh niệm”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

10.  “Những kẻ khác có thể có tà định, chúng ta ở đây sẽ có chánh định”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

Ghi chú: Lời dạy từ 11 đến 18 là thuộc Bát Chánh Đạo

  1. “Những kẻ khác có thể có tà trí, chúng ta ở đây sẽ có chánh trí”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

Ở đây, tà trí liên quan đến sự hiểu biết về phương pháp, cách thức thực hành các việc bất thiện. Nó ám chỉ sự phản chiếu của trí tuệ về việc bất thiện mà người đó đã thực hiện. Ngược lại, chánh trí nghĩa là 19 Tuệ phản khán sanh khởi trong tâm của vị thánh ngay giây phút giác ngộ. Để hiểu được 19 Tuệ phản khán là gì, ta cần phải biết 5 tuệ phản khán và bốn bậc thánh.

Có năm Tuệ phản khán:

  1. Xét lại Đạo Tuệ mà vị ấy đã đạt được.
  2. Xét lại Quả Tuệ mà vị ấy đã đạt được.
  3. Xét lại trạng thái an tịnh Niết-bàn mà vị ấy đã an hưởng.
  4. Xét lại các phiền não đã bị tiêu diệt sau khi đã chứng ngộ.
  5. Xét lại phiền não còn dư sót mà vị ấy chưa diệt trừ hoàn toàn.

Có bốn bậc thánh:

  1. Tu-đà-hoàn (Sotāpatti): là vị đã chứng giai đoạn đầu của sự giác ngộ.
  2. Tư-đà-hàm (Sakadāgāmi): là vị đã chứng đắc giai đoạn hai của sự giác ngộ.
  3. A-na-hàm (Anāgāmi): là vị đã chứng đắc giai đoạn ba của sự giác ngộ.
  4. A-la-hán (Arahatta): là vị đã chứng đắc giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ.

Theo tự nhiên, có năm sát-na tâm của Tuệ phản khán thường khởi lên trong tâm của ba bậc thánh đầu tiên, ngay lập tức sau khi giác ngộ. Tuy nhiên, khi đắc được tầng thánh thứ tư chỉ có bốn sát-na tâm của Tuệ phản khán vì vị ấy đã tận diệt hoàn toàn phiền não không còn dư sót. Do vậy, có tất cả 19 tuệ phản khán khởi lên trong tâm của bốn bậc thánh. Chánh trí có nghĩa là 19 phản khán trí. Tất cả những bậc thánh nào có 19 tuệ phản khán được gọi là Sammāñāī có nghĩa là người có chánh trí.

Đức Phật giảng thêm rằng:

  1. “Những kẻ khác có thể có tà giải thoát, chúng ta ở đây sẽ có chánh giải thoát”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
Chánh Giải Thoát (Sammā Vimutti)

Ở đây cần phải giải thích thế nào là Chánh Giải Thoát (Sammā Vimutti). Đó là trạng thái phát triển của một tâm hoàn thiện chứng đạt được qua sự giác ngộ và diệt tận hoàn toàn mọi phiền não theo Bát Chánh Đạo. Một khi một vị Thánh chứng đắc giai đoạn cuối cùng của sự Giác Ngộ, vị ấy hoàn toàn chiến thắng và giải thoát khỏi sự khổ đau vô tận trong vòng sanh tử luân hồi (sasāra). Đấy là Chánh Giải Thoát. Tà Giải thoát (Micchā Vimutti) là khái niệm và lòng tin của những người đã chọn con đường giải thoát tâm linh sai lầm như thực hành theo kiểu bò và kiểu chó vào thời Đức Phật thuở xưa. Họ cho rằng việc thực hành tâm linh bằng cách sống tự nhiên như bò hay chó là phương cách có thể giải thoát con người khỏi vòng sanh tử luân hồi (sasāra). Theo bản chất của chân lý tối thượng, tà giải thoát liên hệ đến ngũ thủ uẩn bất thiện (akusala khandhās). Trong khi chánh giải thoát mang nghĩa là Danh uẩn thiện đồng sanh với Thánh Quả Tuệ (Thánh Quả Tâm) (Ariya Phala Citta).

“Để tránh tà giải thoát (Micchā Vimutti), ta sẽ cố gắng đạt Chánh Giải Thoát bằng cách chứng đắc Thánh Quả Tuệ (Ariya Phala)”, thái độ và quyết tâm này cần được phát triển ở vị Tỷ-kheo. Làm thế nào để đạt được điều ấy?

Bằng việc thực hành viên mãn Bát Chánh Đạo.

Do đó, bắt buộc vị Tỷ-kheo phải phát triển một thái độ chân chánh thực hành viên mãn Bát Chánh Đạo.

Bát Chánh Đạo

Ở đây, ta sẽ bàn về lợi ích của việc thực hành Bát Chánh Đạo.

Về cơ bản, Bát Chánh Đạo được chia làm hai loại: Hiệp Thế và Siêu Thế. Lại nữa, Bát Chánh Đạo Hiệp Thế được chia làm hai: Bát Chánh Đạo thiền Định và Bát Chánh Đạo thiền Tuệ.

Ghi chú: Bát Chánh Đạo được hoàn thành trước và trong khi thực hành thiền Định là Bát Chánh Đạo thiền Định, trong khi các đạo này được thực hành trong quá trình thiền Vipassanā là Bát Chánh Đạo thiền Vipassanā.

Bát Chánh Đạo Thiền Định Và Làm Thế Nào Chúng Xảy Ra

Chúng ta hãy nói về Bát Chánh Đạo thiền Định. Đầu tiên một hành giả có triển vọng (yogāvacara) phải hoàn mãn ba chi phần của Giới học: chánh ngữ bằng cách ngăn ngừa bốn loại tà ngữ, chánh nghiệp bằng cách ngăn ngừa ba loại hành bất thiện và chánh mạng bằng cách ngăn ngừa nuôi mạng bất chính.

Sau khi thiết lập vững chắc ba chi đạo của Giới học, vị ấy phải tiến hành ba chi đạo về Định. Đầu tiên, phải thực hành Chánh Tinh Tấn (Sammā Vāyama), Chánh Niệm (Sammā Sati) và Chánh Định (Sammā Samādhi). Ví dụ một thiền sinh chọn hành thiền theo đề mục Kasiṇa, thiết lập nỗ lực cần thiết vào việc thực hành bằng cách tập trung trên đối tượng Kasiṇa và nỗ lực liên tục thực hành tiến bộ gọi là Chánh Tinh Tấn. Giữ tâm và tác ý vững chắc trên đối tượng Kasiṇa là Chánh Niệm. Khi giữ tâm hoàn toàn định sâu vào đối tượng Nimitta của Kasiṇa, nó có thể được gọi là Chánh Định. Theo cách này ba chi về Định đã hoàn thành.

Trạng thái tâm của thiền sinh lúc đó hoàn toàn thấy rõ và thể nhập vào đối tượng Nimitta Kasiṇa được hiểu là Chánh Kiến trong chi Thiền (Jhāna Sammā Diṭṭhi). Việc hướng tâm đến đối tượng Kasiṇa là Chánh Tư Duy (Sammā Sakappa). Cả hai Chánh Kiến và Chánh Tư Duy là hai chi đạo về Tuệ. Vì vậy ba chi đạo về Giới (Sīla Maggaga), ba chi đạo về Định (Samādhi Maggaga) và hai chi đạo về Tuệ (Pañña Maggaga) kết hợp với nhau thành Bát Chánh Đạo của thiền Định (Samādhi).

Nếu một thiền sinh chọn đề mục thiền Tứ Đại (Dhātu Kammaṭṭhāna) ở đó Bát Chánh Đạo được thực hành như sau.

Đầu tiên thực hành ba chi đạo về Giới (Sīla Maggaga) chính là giai đoạn khởi đầu của việc thực hành. Đặt chân vững chắc trên đất Giới, vị ấy phải an thân trên nền “đá (định)” vững chắc của ba chi đạo về Định nơi mà hành giả sau đó sẽ mài bén con dao tuệ tức chi Đạo về Tuệ (Pañña Maggaga).

Một lần nữa, tôi sẽ giải thích rõ làm thế nào một số Thánh Đạo được tự động kết hợp trong thực hành thiền Định.

  1. Thể nhập và hiểu thấu đáo đối tượng Tứ đại bao gồm sự thấu hiểu các đặc tính của mỗi đại được gọi là Chánh Kiến chi Đạo (Sammā Diṭṭhi Maggaga).
  2. Duy trì sự hướng tâm nhận thức đặc tính của đối tượng Tứ Đại được gọi là Chánh Tư Duy chi Đạo (Sammā Sakappa Maggaga).
  3. Nỗ lực thực hành liên tục để phát triển nội lực quán xét về bản chất tối hậu của Tứ Đại chính là Chánh Tinh Tấn chi Đạo (Sammā Vāyāma Maggaga).
  4. An trú trên đối tượng Tứ Đại gọi là Chánh Niệm chi Đạo (Sammā Sati Maggaga).
  5. Có thể giữ định tâm vững chắc trên Tứ Đại và phát triển định tâm một cách vững vàng là Chánh Định chi Đạo (Sammā Samādhi Maggaga).

Tất cả năm chi Đạo đề cập trên cùng với ba chi Đạo ban đầu về Giới tạo thành Bát Chánh Đạo của thiền Định.

Bát Thánh Đạo của Thiền Vipassanā

Bây giờ, ta hãy nói về Bát Thánh Đạo thiền Vipassanā khởi lên trong tâm của hành giả khi thực hành thiền Vipassanā.

Trong một bài thuyết giảng nổi tiếng là kinh Đại Niệm Xứ (Mahā Satipaṭṭhāna Sutta), Đức Phật đã xếp nhóm Chánh Kiến vào Tứ Thánh Đế như sau:

  1. Chánh Kiến – sự thấu hiểu đúng đắn về Khổ đế (Dukkha Sacca) (Thánh đế về Khổ).
  2. Chánh Kiến – sự thấu hiểu đúng đắn về Tập Đế (Samudaya Sacca) (Thánh đế về nguyên nhân của Khổ).
  3. Chánh Kiến – sự thấu hiểu đúng đắn về Diệt Đế (Nirodha Sacca) (Thánh đế về Diệt Khổ)
  4. Chánh Kiến – sự thấu hiểu đúng đắn về Đạo Đế (Magga Sacca) (Thánh đế về con đường dẫn tới diệt Khổ).

Vì vậy có bốn loại Chánh Kiến, một cho mỗi thánh Đế. Theo chú giải của kinh Đại Niệm Xứ (Mahā Satipaṭṭhāna Sutta), Đạo Đế (Bát Chánh Đạo) được mô tả trong kinh Đại Niệm Xứ là Đạo Hiệp thế, còn gọi là Pubbabāga Satipaṭṭhāna Magga – Thánh Đạo dẫn nhập của thiền Niệm xứ bởi nó phải được viên mãn trước khi chứng đắc các Thánh Đạo Ariya Magga (các đạo Siêu thế) ở đây tôi sẽ giải thích tóm tắt về Tứ Thánh Đế.

KHỔ ĐẾ (Dukkha Sacca)

Trong nhiều bài pháp gồm có Kinh Đại Niệm Xứ (Mahā Satipaṭṭhāna Sutta), Đức Phật đã tóm tắt Thánh Đế về Khổ chính là ngũ thủ uẩn (Upādānakkhanda) hình thành là do duyên ái và thủ. Chúng là Sắc thủ uẩn (Rūpupādānakkhandha), Thọ thủ uẩn (Vedanupādānakkhandha), Tưởng thủ uẩn (Saññupādānakkhandha), Hành thủ uẩn (Sakhārupādānakkhandha), Thức thủ uẩn (Viññānupādānakkhandha) nơi mà tham ái, chấp thủ chính là nguồn gốc của Khổ, Đức Phật đã giải thích rõ ràng như vậy.

Sắc thủ uẩn (Rūpupādānakkhandha) được hình thành bởi tham ái và ngã chấp, nó có mười một yếu tố như quá khứ, tương lai, hiện tại, trong hoặc ngoài, thô hoặc tế, xấu hoặc đẹp, xa hoặc gần. Bất cứ sắc nào chứa đựng bất kỳ khía cạnh nào trong mười một yếu tố nói trên đều được gọi là Sắc thủ uẩn (Rūpupādānakkhandhā) theo Uẩn Kinh (Tương Ưng Kinh, bộ 2, tr 39). Tương tự như vậy đối với bốn uẩn còn lại. Do đó, Ngũ thủ uẩn với mười một phẩm chất gọi là Khổ Thánh đế (Dukkha Sacca).

Ghi chú: từ “Dukkha” của tiếng Pāli được dịch là Khổ đau chưa chuyển tải hết ý nghĩa muốn nói đến. Vì thế tốt nhất chúng ta hãy sử dụng từ gốc Pāli “Dukkha” trong khi thuyết giảng.

TẬP ĐẾ (Samudaya Sacca)

Đức Phật đã giải thích Tập đế (nguyên nhân của Khổ (Dukkha)) theo năm cách của Bộ Phân tích về Đế (Sacca Vibhaṅga Text) (Abhidhamma Pitaka – Tạng Vi diệu pháp, q.2, tr 112-115) như sau:

  1. Tham được gọi là Tập đế (Samudaya Sacca) (Tạng Vi diệu pháp q2, tr112)
  2. Tham cùng với các tâm ô nhiễm cũng được gọi là Tập đế (Samudaya Sacca).
  3. Tham, tất cả tâm ô nhiễm cùng các tâm sở bất thiện cũng được gọi là Tập đế (Samudaya Sacca)
  4. Tham, tất cả tâm ô nhiễm, tâm sở bất thiện cùng với ba nhân thiện là vô tham (alobha), vô sân (adosa), vô si (amoha) hay minh mà là các đối tượng của lậu hoặc (Āsava) cũng được gọi là Tập đế (Samudaya Sacca). (Tạng Vi diệu pháp, II, tr114)
  5. Ba nhân thiện như vô tham (Alobha), vô sân (Adosa), vô si hay minh hoặc trí tuệ (Amoha) và các tâm sở thiện (kusala) mà là đối tượng của lậu hoặc (Āsava) bao gồm tham ái và các tâm ô nhiễm khác cũng được gọi là Tập đế (Samudaya Sacca) (Tạng Vi diệu pháp, II, tr 114).

Liên hệ với phần giải thích mở rộng, chú giải có khái quát tóm tắt các Nghiệp thiện hiệp thế và Nghiệp bất thiện cũng được bao gồm trong Tập đế (Samudaya Sacca).

Trong Tăng Chi Bộ Kinh, bài thuyết giảng tựa đề Nguồn gốc của Tà kiến (Titthāyatana Sutta). Đức Phật đã mô tả tất cả các hành (tâm hành) (sakhāra) dù thiện hay bất thiện cũng được xếp vào Tập đế.

Theo quan điểm xếp loại mở rộng của Tập đế, tất cả Nghiệp thiện và Nghiệp bất thiện được thực hiện trên nền tảng vô minh (avijjā), tham ái (ta), thủ (upādāna) (chấp thủ) được gọi là Tập Đế. Trí Tuệ và sự thấu hiểu về Tập đế được gọi là Chánh kiến.

Ghi chú: ngay cả các nhân thiện, tâm sở thiện, và nghiệp thiện (Kammas) đều được xếp vào loại Tập đế, bởi vì chúng cũng có thể dẫn tới ngũ uẩn mới trong vô số các kiếp sống tương lai qua đó tạo thành các vòng khổ đau (Dukkha) triền miên.

DIỆT ĐẾ (Nirodha Sacca)

Về Diệt đế (Nirodha Sacca), tôi sẽ giảng giải về đối tượng của Tuệ Vipassanā (Vipassanā ñāa). Trong bài kinh Nguồn gốc của Tà kiến (Titthāyatana Sutta) đã đề cập ở trên, Đức Phật đã nói “avijjāya tweva asesavirāganirodha sakhāranirodho” nghĩa là “Do vô minh (avijjā) diệt, hành diệt”(Tăng Chi Kinh, I, tr 178)

Vì vậy một hành giả phải cố gắng phát triển Tuệ Minh Sát để có thể hiểu rõ các pháp hữu vi (danh – sắc) diệt như thế nào.

Sự Diệt Tận Hoàn Toàn (Sự Vô Sanh) (Anuppāda Nirodha)

Liên quan tới tiến trình này, chú giải Thanh Tịnh Đạo giải thích như sau:

Paccayato vayadassanena Nirodhasacca pākaa hoti, paccayanuppadena paccayavata anuppādavabhodhato

(Chú giải Thanh Tịnh Đạo, q 2, tr 267)

Lời dịch: Một khi hành giả đã thực hành thiền Vipassanā đến giai đoạn Tuệ Sanh Diệt (Udayavaya ñāa) sẽ thấy rõ ràng sự sanh diệt của danh sắc. Vào lúc này, Diệt đế (Sự thật của sự diệt) trở nên rõ ràng đối với vị ấy. Tại sao?

Bởi vì, khi các nhân như Vô minh (avijjā), Tham ái (ta), Chấp thủ (upādāna), Hành (Sakhāra), Nghiệp (kamma) diệt khiến cho ngũ uẩn, là quả của các nhân này, cũng bị diệt. Khi tới giai đoạn này hành giả sẽ thấy rõ tiến trình diệt như vậy.

Khi nào thì các nhân như vô minh (avijjā)… bị diệt tận hoàn toàn? Phụ chú giải của Bộ Thanh tịnh đạo đã nói như sau:

Một khi hành giả chứng đắc Tuệ Đạo A-la-hán (Tuệ Đạo của giai đoạn giác ngộ thứ tư), tất cả các nhân phiền não của Khổ đều bị diệt tận bởi trạng thái tịch tịnh tối thượng, là trạng thái vô vi Niết-bàn. Do vậy, các nhân của Khổ sẽ bị tận diệt hoàn toàn, không bao giờ trở lại trong tâm của một vị chứng đắc giai đoạn giác ngộ thứ tư, giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ. Sự diệt tận này gọi là Sự diệt tận hoàn toàn (sự vô sanh) (Anuppāda Nirodha).

Ở đây, thực vậy, Thánh Đạo A-la-hán, giai đoạn giác ngộ thứ tư và là giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ trực tiếp tận diệt hoàn toàn ba nhân Vô minh (Avijjā), Tham ái (Ta) và Chấp thủ (Upādāna).

Còn lại hai nhân là Hành (Sakhāra) và Nghiệp (Kamma), chỉ khi nào có ba nhân trên hỗ trợ thì mới có khả năng đưa đến tái sanh, tạo ra ngũ uẩn cho đời sống mới là Khổ Thánh đế.

Nếu không có ba nhân Vô minh (Avijjā), Tham ái (Ta) và Chấp thủ (Upādāna) thì sẽ không có cơ hội để sanh ra Khổ đế (tức sanh ra ngũ thủ uẩn của đời sống mới). Vì vậy, A-la-hán Thánh Đạo (Arahatta Magga), giai đoạn giác ngộ thứ tư và là giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ không những diệt tận hoàn toàn ba nhân chính kia mà còn diệt tận hoàn toàn ngũ uẩn cho đời sống kế tiếp ngay sau Tử tâm Vô dư Niết-bàn (Parinibbāna Cuti), thời khắc tử tâm của một bậc thánh giác ngộ hoàn toàn. Sau thời khắc tử tâm này, không còn sự tái sanh nữa, nên cũng không còn ngũ uẩn nữa. Đó chính là tiến trình Anuppāda Nirodha, sự diệt tận hoàn toàn (sự vô sanh) được thấy biết rõ bằng Tuệ minh sát Vipassanā.

Sự Sanh và Diệt Theo Từng Sát-na (Uppāda Nirodha)

Bây giờ chúng ta hãy giải thích về Uppāda Nirodha. Khi nói về tất cả các pháp hữu vi thì chúng ta đều liên hệ đến Thánh đế về Khổ và Thánh đế về nguyên nhân của Khổ với bản chất sanh và diệt. Tiến trình ngắn ngủi của sự sanh và diệt liên tục gọi bằng tiếng Pāli là “Khaya Virāga” hoặc “Khaa Nirodha” (Thanh Tịnh Đạo, II, tr 282).

Chừng nào còn chuỗi các nhân hỗ trợ, chuỗi vô tận các pháp hữu vi (Sakhāra Dhamma) mới được sanh ra như là kết quả của các nhân sanh. Quá trình tái diễn sự sanh và diệt ấy gọi là “Uppāda Nirodha”, nghĩa là sự sanh và diệt lặp đi lặp lại nhiều lần. Hành giả cần cố gắng dùng Tuệ minh sát để thấy rõ quá trình sanh và diệt theo từng sát-na của các pháp hữu vi sau khi quán sát tam tướng Vô thường, Khổ, Vô Ngã. Thấy rõ Sự sanh và diệt từng sát-na (Uppāda Nirodha) và Sự diệt tận hoàn toàn (sự vô sanh) (Anuppāda Nirodha) của pháp hữu vi được gọi là Chánh kiến Thiền Tuệ (Vipassanā Sammā Diṭṭhi).

Thánh Đạo (Magga Sacca) Hiệp Thế

Hơn nữa, một hành giả, khi hành thiền Vipassanā, được mô tả trong Quán bảy pháp vô sắc (Arūpasattaka Vipassanā) (Thanh Tịnh Đạo, q II, tr 261-264), Quán sự sanh và diệt (Udayavayānupassanā) (Thanh Tịnh Đạo, q II, tr 268), Quán sự tan hoại (Bhaganupassanā) (Thanh Tịnh Đạo, q II, tr 288) cần phải quán các lộ trình tâm (như tốc hành tâm của lộ ý môn, Vipassanā Manodvarika Javana Vithi) đồng sanh với tuệ minh sát.

Khi quán điều này, vị ấy sẽ thấy rõ các yếu tố của các chi Bát Chánh Đạo như là Chánh Tư duy (Sammā Sakappa), Chánh Tinh tấn (Sammā Vāyāma), Chánh Niệm (Sammā Sati) và Chánh Định (Sammā Samādhi) đã cùng sanh khởi lên trong suốt thời gian hành thiền Minh Sát. Hành giả sẽ thấy rõ các chi phần của Thánh Đạo cùng khởi lên với Minh Sát trí. Thánh Đạo có khả năng diệt trừ tạm thời các phiền não. Đó là lý do tại sao các yếu tố của Bát Chánh Đạo được gọi là Đạo đế. Vì vậy, khả năng liễu tri mỗi chi phần trong Bát Chánh Đạo bằng Tuệ Minh Sát được gọi là Chánh kiến Vipassanā (Vipassanā Sammā Diṭṭhi).

Liễu tri Tứ Thánh Đế trong tiến trình hành thiền Vipassanā

Tôi đã đề cập một vài cấp độ của Tuệ Minh Sát qua Chánh Kiến về Thiền tuệ (Vipassanā Sammā Diṭṭhi), chứng ngộ Tứ Thánh Đế trong tiến trình thực hành thiền Vipassanā. Bây giờ tôi sẽ giải thích cho quý vị hiểu rõ hơn như sau.

Trong quá trình hành thiền Vipassanā, có Chánh kiến về Khổ đế khi hành giả tiến hành quán sát một cách khách quan về ngũ thủ uẩn (Upādānakkhandha) với mười một khía cạnh như: hiện tại, quá khứ, tương lai, trong, ngoài… Có một quá trình tự nhiên hướng tâm nhận thức về Khổ đế (Dukkha Sacca) (hay là ngũ thủ uẩn) được gọi là Chánh Tư Duy (Sammā Sakappa). Mỗi nỗ lực của hành giả trong việc hành thiền là Chánh Tinh Tấn (Sammā Vāyāma). Sự không quên lãng trong tâm về Khổ đế được gọi là Chánh Niệm (Sammā Sāti). Khi hành giả định tâm trên Khổ đế được gọi là Chánh Định (Sammā Samādhi). Năm chi phần của Bát Chánh Đạo này kết hợp với ba chi Giới, tổng cộng có tám chi đạo cần phải được tiến hành tu tập.

Ghi chú: chữ Khổ đế (Dukkha Sacca) ở đây được dùng cho toàn bộ “ngũ uẩn mà tâm người hành giả cần phải liên tục chú tâm trong suốt quá trình hành thiền.

Một khi hành giả tuệ tri được làm thế nào mà tất cả các đạo của Bát Chánh Đạo kết hợp với nhau trong tuệ minh sát về Khổ đế (Dukkha Sacca), thì hành giả cũng sẽ dễ dàng tuệ tri được làm thế nào mà tất cả các đạo của Bát Chánh Đạo kết hợp với nhau trong tuệ minh sát về Tập đế (Samudaya Sacca).

Chỉ khi nào hành giả bắt đầu quán sát đặc tính tam tướng Vô thường, Khổ, Vô ngã của Danh Sắc của Khổ đế (Dukkha Sacca) và Tập đế (Samudaya Sacca) trong khi thực hành thiền Vipassanā thì khi đó Tuệ Minh Sát của cả Diệt đế (Nirodha Sacca) và Đạo đế (Magga Sacca) sẽ hiển lộ.

Các pháp hữu vi trong đó có Khổ đế và Tập đế có bản chất sanh diệt liên tục. Hành giả phải tập trung quán chiếu bản chất tiến trình sanh diệt không ngừng của danh và sắc. Khi hành thiền Vipassanā hành giả phải xen kẽ sự chú tâm trên ba đặc tính Vô thường (Anicca), Khổ (Dukkha), Vô ngã (Anatta). Điều này có nghĩa là phải chú tâm xen kẽ trên tam tướng là

  1. Anicca, vô thường là một tiến trình rõ ràng của danh sắc rằng ngay sau khi sanh lên thì diệt ngay lập tức.
  2. Dukkha, khổ là một tiến trình của sự đau khổ liên tục vì sự sanh và diệt triền miên.
  3. Anatta, vô ngã là tiến trình các pháp diễn ra theo đường lối riêng của nó mà không theo ý muốn của bất kỳ một thực thể nào. Nó được gọi là Khaato Udayavaya Dassana, nghĩa là thấy tiến trình sanh và diệt theo từng sát-na.

Đồng thời, hành giả cần phải quán chiếu Khổ đế là quả bởi nhân là Tập đế. Đó là Paccayato Udayadassana Ñāna – là Tuệ biết rõ về Khổ (dukkha) được sanh khởi bởi các nhân sanh khổ (samudaya). Một khi các nhân bị diệt tận hoàn toàn, bằng Tuệ Minh Sát vị ấy cũng thấy rõ sự diệt tận hoàn toàn của ngũ uẩn. Đây chính là Paccayato Vayadassana Ñāna, tuệ biết rõ tiến trình diệt của các pháp do không còn nhân sanh khởi. Cả hai dạng Tuệ minh sát gọi là Paccayato Udaya-vaya-dassana Ñāna, nghĩa là Tuệ thấy rõ sự sanh và diệt do nhân. Một hành giả phải quán chiếu bằng Tuệ Minh Sát để liễu tri tam tướng với nhân là Tập Đế (Samudaya Sacca), và quả là Khổ Đế (Dukkha Sacca) cùng với ngũ thủ uẩn.

Sáu Loại Tuệ Minh Sát

Các loại Tuệ Minh Sát, khi được tập hợp, có cả thảy sáu loại sau:

  1. Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình sát-na sanh (Khaato Udaya-dassana ñāna)
  2. Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình sát-na diệt (Khaato Vaya-dassana ñāna)
  3. Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình sát-na sanh và diệt (Khaato Udaya-Vaya-dassana ñāna)
  4. Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình sanh bởi các nhân (Paccayato Udaya-dassana ñāna) là tuệ minh sát có khả năng thấy được các quả khi có mặt các nhân
  5. Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình diệt bởi các nhân (Paccayato Vaya-dassana ñāna). Nói cách khác, khả năng thấy một khi các nhân bị diệt tận hoàn toàn thì các quả cũng sẽ không còn sanh nữa.
  6. Tuệ minh sát thấy như thật tiến trình sanh và diệt bởi các nhân (Paccayato Udaya-Vaya-dassana ñāna), tuệ minh sát thấy rõ rằng nếu các nhân có mặt thì các quả sẽ sanh, nếu không còn nhân thì cũng sẽ không còn quả.

Tuy nhiên sáu loại Tuệ Minh Sát trên có thể tóm tắt bằng hai loại cơ bản từ số ba và sáu. Tóm lại, có hai loại Tuệ Minh Sát trong tâm hành giả. Chú giải của Thanh Tịnh Đạo q2, tr268 mô tả làm thế nào mà Tứ Thánh Đế trở nên rõ ràng với Tuệ Minh Sát của hành giả là người thấy tiến trình sanh và diệt trong cả hai dạng sát-na (Khaa) và nhân (Paccaya) sanh ra nó trong các cách như sau:

  1. Khi hành giả thấy được quả sanh do sự có mặt của nhân, bằng Minh Sát Trí vị ấy thấy rõ nhân (Tập đế, Samudaya Sacca) là nguồn gốc trực tiếp của quả (Khổ đế, Dukkha Sacca).
  2. Bằng việc thấy rõ tiến trình sanh diễn biến vô tận từ sát-na này đến sát-na khác, bản chất của Khổ Đế (Dukkha Sacca) trở nên rõ ràng trong Minh Sát Trí, vì nó có thể liễu nhập tiến trình sanh liên tục của các pháp hữu vi – sự khổ sanh (Jāti Dukkha)
  3. Khi hành giả thấy rõ tiến trình diệt tận hoàn toàn ở thời điểm các nhân bị tận diệt hoàn toàn, Diệt Đế (Nirodha Sacca) trở nên rõ ràng trong Minh Sát Trí vì sự diệt của quả phụ thuộc vào sự diệt tận hoàn toàn của các nhân.
  4. Khi hành giả thấy rõ tiến trình diệt diễn biến vô tận từ sát-na này đến sát-na khác, bản chất của Khổ đế (Dukkha Sacca) lại rõ ràng trong Minh Sát Trí vì nó có thể liễu nhập tiến trình diệt liên tục của các pháp hữu vi – sự khổ chết (Maraa Dukkha).
  5. Vì có thể thấy được cả hai tiến trình sanh và diệt – từ sát-na này đến sát-na khác cũng như do nhân và quả của danh-sắc, hành giả thấy được diễn tiến sanh và diệt của các nhân và quả tương ứng. Minh Sát Trí này gọi là Udaya-vaya-dassana ñāna, là Đạo đế (Magga Sacca) hiệp thế. Tại sao? Bởi vì nó có thể diệt trừ Vô minh (Sammoha) vốn ngăn cản không cho thấy sự thực về bản chất sanh và diệt của tất cả các pháp hữu vi.
Bát Chánh Đạo Trong Thực Hành Vipassanā

Bây giờ tôi sẽ nói về thế nào là Bát Chánh Đạo, đặt trong ngữ cảnh Tứ Thánh Đế, khởi sanh trong suốt tiến trình thực hành Vipassanā.

  1. Thấy được sự phơi bày về bản chất của Tứ Thánh Đế trong tiến trình thể nhập Tuệ quán chính là Chánh kiến (Sammā diṭṭhi)
  2. Hướng tâm vững chắc vào đối tượng danh sắc của Tứ Thánh Đế trong từng sát-na sanh được gọi là Chánh Tư Duy (Sammā Sakappa)
  3. Mỗi sự nỗ lực của thân và tâm đặt vào sự thực hành Vipassanā được gọi là Chánh Tinh Tấn (Sammā Vāyāma)
  4. Luôn an trú trên bản chất của Tứ Thánh Đế gọi là Chánh Niệm (Sammā Sati)
  5. An tịnh và hoàn toàn định tâm trên đề mục thiền Tứ Thánh Đế được gọi là Chánh Định (Sammā Samādhi).

Tất cả năm thánh đạo này cùng với ba đạo của Giới chi đạo (Sīla Maggaga) được thiết lập từ trước, thành tám chi Đạo trong mỗi thời khắc thực hành Vipassanā. Đây còn gọi là Pubbabaga Satipathanamagga, nghĩa là Thánh Đạo dẫn nhập của thiền Niệm xứ xảy ra đồng thời và được thực hành trước khi chứng đắc Thánh Đạo (Ariya Magga) (bốn giai đoạn giác ngộ) (Chú giải Trung Bộ kinh, q1, tr 235).

Khi thực hành qua các giai đoạn khác nhau của minh sát trí, các Thánh Đạo dẫn nhập sẽ phát triển cho đến khi chín mùi. Sau đó, Thánh Đạo (Ariya Magga) và Thánh Quả (Ariya Phala) (các Tuệ Đạo và Tuệ Quả trong bốn giai đoạn giác ngộ) cuối cùng sẽ sinh khởi bằng cách tập trung trên tính an lạc, an tịnh vô vi của Niết-bàn (được gọi là Mahā Asankhata Dhātu). Sự an lạc, tĩnh lặng này chính là Siêu thế Diệt đế (Nirodha Sacca). Tại thời điểm này, tất cả Bát Thánh Đạo Siêu thế được viên mãn

Bát Thánh Đạo Siêu Thế

Ở đây phải lưu ý rằng vào lúc chứng đắc Thánh Đạo (Ariya Magga), thì Bát Thánh Đạo cũng được viên mãn ngay trước thời điểm chứng ngộ Thánh Quả (Ariya Phala). Và bây giờ, tôi sẽ giải thích Bát Thánh Đạo khởi sanh như thế nào tại thời điểm một người chứng đắc Thánh Đạo (Ariya Magga). Thánh Đạo Tuệ (Ariya Magga Ñāna) thấu suốt an tịnh vô vi Niết-bàn gọi là Chánh Kiến Đạo (Magga Sammā Diṭṭhi). Tập trung chú ý trên đối tượng an tịnh vô vi gọi là Chánh Tư Duy (Sammā Sakappa). Tất cả những phiền não mà được ngăn chặn không cho sanh khởi nhờ ba Thánh Đạo Giới (Sīla Magga) là Chánh Ngữ (Sammā Vāca), Chánh Nghiệp (Sammā Kammanta), Chánh Mạng (Sammā Ājīva) đều bị diệt trừ bởi Thánh Đạo Tuệ (Ariya Magga Ñāna) ngay tại thời điểm vị ấy chứng đắc Thánh Đạo (Ariya Magga). Do đó, ta nên lưu ý rằng cả ba Thánh Đạo Giới (Sīla Magga) được viên mãn cùng lúc. Mọi sự tinh tấn nỗ lực của thân và tâm đang thực hành để tiến tới an tịnh vô vi Niết-bàn thì gọi là Chánh Tinh Tấn (Sammā Vāyāma). An trú trên đối tượng vô vi Niết-bàn gọi là Chánh Niệm (Sammā Sati). Định tâm trên vô vi Niết-bàn gọi là Chánh Định (Sammā Samādhi). Đến đây Bát Thánh Đạo siêu thế đã hoàn toàn viên mãn.

Tuệ Phản Khán (Paccavekkhaa Nāna) và Chánh Giải thoát (Sammā Vimutti), ví dụ Thánh Quả (Ariya Phala) (Tuệ Quả) cũng sẽ tự động khởi sanh nơi hành giả đã hoàn mãn Thánh Đạo siêu thế (Lokuttarā Magga).

Mô Tả Tóm Tắt Cách Hành Thiền

Ở đây, để có thể chứng đắc Bát Thánh Đạo Siêu thế hành giả cần phải hoàn thành Bát Chánh Đạo Hiệp thế mà được gọi là Thánh Đạo dẫn nhập của Niệm Xứ (Pubba-bhāga Satipaṭṭhāna Magga). Trong các Thánh Đạo hiệp thế này, hành giả phải bắt đầu thực hành ba Thánh Đạo thuộc về Giới trước bằng cách giữ gìn Giới thật trong sạch. Ghi chú: có nghĩa là hành giả phải giữ cho thân, khẩu và sự nuôi mạng luôn luôn được trong sạch theo đúng Giới luật bằng cách ngăn ngừa tà ngữ, tà hành và tà mạng.

Sau khi giữ các Thánh đạo về Giới trong sạch, vị ấy phải hoàn thành ba Thánh Đạo về Định (tiến trình phát triển định tâm), ví dụ Chánh Tinh tấn (Sammā Vāyāma), Chánh niệm (Sammā Sati) và Chánh Định (Sammā Samādhi). Tại sao vậy? Bởi vì đây là những yêu cầu phải được hoàn thành nếu vị đó muốn chứng đắc Tuệ Minh Sát Hiệp thế và Tứ Thánh Đế. Đức Phật nói rằng:

Samādhi bhikkhave bhāvetha, Samāhito bhikkhave bhikkhu yathābhutan pajānāti

Lời dịch: Đức Phật giảng: “Này chư Tỷ-khưu, hãy phát triển định. Chỉ khi có định, Tỷ-kheo như thị giác tri các Pháp”. Một người với đầy đủ định tâm có thể thấu hiểu được điều gì? Đó là Tứ Thánh Đế.

Để hướng dẫn phát triển định tâm, Đức Phật dạy bốn mươi đề mục thiền. Định tâm (Samādhi) có thể được phát triển bằng cách chọn bất kỳ đề mục nào:

Phát Triển Định Bằng Thiền Tứ Đại (Dhātu Kammaṭṭhāna)

Ở đây, tôi sẽ tóm tắt phương pháp phát triển định tâm (Samādhi) bằng đề mục thiền Tứ Đại (Dhātu Kammaṭṭhāna). Đây cũng là một trong bốn mươi đề mục thiền Định. Nó có thể giúp cho hành giả dễ dàng đạt được cận định (Upacāra Samādhi). Nếu hành giả muốn phân biệt sắc tứ đại trong thiền Vipassanā, vị ấy phải chọn đề mục Tứ đại.

Tattha Bhagavā Rūpakammaṭṭhānan kathento sakhepamanasikāravasena vā, vitthāramanasikāravasena vā, catudhātuvavatthāna kathesi

(Chú giải Trường bộ Kinh, II, tr 314) (xem thêm Chú giải Trung Bộ Kinh, I, tr 280 và Chú giải Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), qII, tr252)

Đoạn văn trên có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là khi Đức Phật dạy phân biệt sắc, Ngài thường dạy đề mục thiền Tứ đại (Dhātukammaṭṭhāna) theo hai cách bằng phương pháp tóm tắt hoặc bằng phương pháp chi tiết.

Một hành giả, khi tiến hành thiền Vipassanā sẽ phải bắt đầu phân biệt tất cả danh và sắc bằng tuệ minh sát của mình. Giai đoạn này được gọi là Kiến Thanh Tịnh (Diṭṭhi Visuddhi) liên quan đến tiến trình phân biệt danh sắc bằng Tuệ Minh Sát. Như vậy, trong giai đoạn này có hai cách quán xét:

  1. Quán phân biệt Sắc (Rūpa pariggaha)
  2. Quán phân biệt Danh (Arūpa pariggaha)

Với cách đầu tiên trong hai cách quán phân biệt, Đức Phật dạy phân biệt sắc tứ đại theo hai phương pháp

  1. Phương pháp tổng quát, nghĩa là quán toàn bộ liên quan Tứ đại, quán toàn bộ các đặc tính.
  2. Phương pháp chi tiết, đi sâu vào từng chi tiết chia chẻ nhỏ hơn của mỗi yếu tố đại. Đây là quá trình được Đức Phật mô tả liên quan đến thực hành thiền Tứ đại gọi là Catu Dhātu vavatthāna (Thiền Phân Tích Tứ Đại)

Giữa những nguồn khác nhau trong Kinh điển liên quan đến thực hành Tứ đại, Phương pháp tóm tắt được Đức Phật mô tả trong kinh Đại Niệm Xứ (Mahā Satipaṭṭhāna Sutta). Phương pháp chi tiết được Đức Phật mô tả trong kinh Mahā Rahulovāda (Trung Bộ kinh, q2, tr 84-86), Kinh Giới Phân biệt (Dhātu Vibhaga Sutta) (Trung Bộ kinh, Q. III, tr 283-285) và Bộ Giới Phân tích (Dhātu Vibhaga) (Tạng Vi diệu pháp, q II, tr 84-86). Tôn giả Xá-lợi-phất, đại đệ tử của Đức Phật cũng dạy phương pháp chi tiết trong Đại Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi (Mahā Hatthipadopama Sutta) (Trung Bộ kinh, q 1, tr 242-247).

Ở đây, phụ chú giải của Bộ Thanh Tịnh Đạo Đại Sớ Giải đề cập rằng: như là một quy trình chung, hành giả nào phân biệt Sắc ở giai đoạn đầu tiên của thiền Vipassanā sẽ được gọi là Suddha-Vipassanāyanika (hành giả theo cỗ xe thuần quán). Tương tự vậy, hành giả nào phân biệt Danh ở giai đoạn đầu tiên của thiền Vipassanā sẽ được gọi là Suddha-Samathayanika (hành giả theo cỗ xe tịnh chỉ). Ở đây, việc phân biệt danh sắc ban đầu cần thiết của thiền Vipassanā (Vipassanabhinivesa) bằng tuệ minh sát có tên là Tuệ Phân định Danh Sắc (Nāmarūpa Pariccheda Ñāna).

Quan sát tiến trình này, khi tiến hành giai đoạn Kiến Thanh Tịnh, hành giả có năng lực Thiền Định (Samathayānika) hay hành giả thuần quán (Vipassanāyānika) muốn bắt đầu phân biệt sắc (rūpa kammaṭṭhāna), thì cả hai đều phải bước vào thực hành Thiền Tứ đại.

Mười Hai Đặc Tính Của Tứ Đại

Trong bốn đại, mỗi đại có các đặc tính riêng:

  1. Địa đại (pathavī-dhātu) có sáu đặc tính: cứng, nhám, nặng, mềm, láng, nhẹ.
  2. Thủy đại (āpo-dhātu) có hai đặc tính: chảy và dính.
  3. Hỏa đại (tejo-dhātu) có hai đặc tính: lạnh và nóng.
  4. Phong đại (vāyo-dhātu) có hai đặc tính hỗ trợ và đẩy.

Hành giả phải quán chiếu mười hai đặc tính trên toàn thân từ đầu đến chân từng cái một. Ví dụ, nếu vị ấy thực hành tính nhám thì phải bắt đầu chú ý trên một điểm nơi tính nhám thể hiện rõ ràng rồi chuyển đến toàn bộ trong thân. Hành giả phải thực hành tương tự như vậy đối với mười một đặc tính còn lại. Hành giả cần cố gắng để thấy tất cả mười hai đặc tính của tứ đại trên toàn thân, từ đầu đến chân. Tốt hơn là hành giả có thể thấy đồng thời hai hoặc ba đại mặc dù hành giả chỉ chú ý trên một đại. Khi hành giả có thể chú tâm thực hành một cách hiệu quả điều này thì hành giả đó sẽ chắc chắn thấy được cả mười hai đặc tính của tứ đại. Khi thực hành trên toàn thân, không đơn thuần là chú ý tới hình dáng của thân mà thay vào đó là tập trung chú ý đến đặc tính của tứ đại. Không nên thường xuyên di chuyển sự chú ý từ chỗ này qua chỗ kia. Giữ sự tập trung trên tứ đại và cố gắng thấy từng đặc tính riêng của tứ đại. Sau đó, tất cả tứ đại sẽ hiển hiện rõ ràng nếu hành giả tiếp tục thực hành theo cách này.

Bây giờ, hãy quán theo bốn cách như sau;

  1. tập trung trên toàn bộ địa đại (pathavī-dhātu) bằng cách chú ý tất cả tính cứng, nhám, nặng, mềm, láng, và nhẹ cùng với nhau,
  2. tập trung trên toàn bộ thủy đại (āpo-dhātu) bằng cách chú ý tính chảy và dính,
  3. tập trung trên toàn bộ hỏa đại (tejo-dhātu) bằng cách chú ý tính lạnh và nóng,
  4. tập trung trên toàn bộ phong đại (vāyo-dhātu) bằng cách chú ý tính hỗ trợ và đẩy với nhau.

Hành giả phát triển định tâm bằng cách thực hành bốn phần về thiền Tứ Đại trên toàn thân như thế. Tiếp tục định tâm theo cách này trong vài ngày và vài giờ cho mỗi thời ngồi thiền, hành giả sẽ bắt đầu chỉ thấy một khối khí trắng, và không phải hình dáng của thân nữa. Tiếp tục phân biệt tứ đại trong khối trắng đó, định tâm của hành giả sẽ càng trở nên mạnh hơn và sâu hơn. Kết quả là, khối trắng đó sẽ xuất hiện trong tâm hành giả ở dạng một khối tinh thể trong suốt như khối nước đá hay thủy tinh. Hành giả tiếp tục phát triển định tâm bằng cách phân biệt các yếu tố tứ đại chứa trong khối thủy tinh trong suốt đó.

Khối Thủy Tinh Trong Suốt

Ở đây, cái giống như khối thủy tinh trong suốt xuất hiện trong tâm hành giả là gì? Một hành giả có thể hỏi.

Trả lời: Đó là năm loại tịnh sắc (Pasāda Rūpa) của thân thật tinh khiết và phản chiếu ánh sáng chói chang như chiếc gương khởi lên khi hành giả đạt đến mức định tâm sâu. (Thanh Tịnh Đạo, q 2, tr 81).

Đó là điều tự nhiên của hành giả, trước khi có thể phân biệt và chia chẻ nhỏ về sau, là thấy được năm loại tịnh sắc dưới dạng khối (Ghana) giống như vậy. Một trong năm loại tịnh sắc này là thân tịnh sắc (kāya pasāda) có mặt khắp cơ thể nơi mà cảm giác xúc chạm được cảm nhận ngoại trừ một vài phần trong thân chẳng hạn như móng tay. Tuy nhiên, hành giả cần phải cố gắng phá vỡ ý niệm về khối đặc (ghana) bằng cách tập trung định tâm vào khoảng hư không chứa trong các tịnh sắc này. Điều này đã được Đức Phật dạy trong kinh Mahā Rahulovāda.

Bởi Đức Phật muốn hành giả quán chiếu 24 Sắc y đại sinh (upādārūpa) bằng cách căn cứ vào hư không, Ngài dạy tập trung chú ý vào khoảng hư không của năm tịnh sắc, mà nó được giải thích trong chú giải (chú giải Kinh Trung bộ, III, tr 97). Khi hành giả thấy được hư không trên bề mặt của khối thủy tinh, hành giả sẽ bắt đầu thấy đơn vị nhỏ nhất của sắc vật chất (kalāpas) một cách rõ ràng. Hành giả sẽ quán xét tất cả các yếu tố sắc đi cùng như là:

  1. địa đại (Pathavī dhātu), đặc tính của đất cứng, nhám
  2. thủy đại (Āpo dhātu), đặc tính của nước: dính, chảy
  3. hỏa đại (Tejo dhātu), bản chất của lửa: nóng và lạnh
  4. phong đại (Vāyo dhātu), đặc tính của gió: nâng và hỗ trợ
  5. màu
  6. mùi
  7. vị
  8. dưỡng chất

chứa trong mỗi phần tử nhỏ của kalapa.

Hành giả phải quán xét tất cả kalapa trong sáu căn và 42 khía cạnh của thân tứ đại. Ở đây hành giả nên đến gặp một vị thầy để được hướng dẫn cụ thể.

Một hành giả sau khi quán sát tất cả các Sắc, phải tiến hành quán các Danh sanh khởi nương nhờ ở sắc căn. Khi thực hiện phần này, hành giả phải hoặc bắt đầu từ Xúc (Phassa) hoặc Thọ (Vedanā) hoặc Thức (Viññāna), bao gồm tất cả các tâm sở dẫn đầu bởi tâm sở Xúc khởi sinh ở năm căn là nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân tương ứng (chú giải Kinh Trung bộ, I, tr 280 – 281)

Sau khi phân biệt thành công theo cách này, hành giả tiếp tục phân biệt các nhân nào sanh ra Danh Sắc chẳng hạn như vô minh (Avijjā), tham ái (Ta), chấp thủ (Upādāna), Nghiệp (Kamma) và các hành (Sakhāra). Cố gắng thấy bằng Tuệ minh sát để biết rằng ngũ thủ uẩn sanh khởi trong đời này chính là do các nhân như vô minh (Avijjā) … ở đời quá khứ. Cố gắng để thấy rõ bằng cách này đối với phần còn lại của danh sắc quá khứ và tương lai.

Như đề cập trước, một hành giả bằng Tuệ minh sát phải thấy được sự tận diệt hoàn toàn của ngũ thủ uẩn ngay khi vô minh (Avijjā), tham ái (Ta), thủ (Upādāna), nghiệp (Kamma) và các hành (Sakhāra) bị diệt. Tam tướng của danh sắc cùng với nguyên nhân sanh ra nó phải được quán xét bằng thiền Vipassanā cho đến khi nào chứng đạt giai đoạn giác ngộ cao hơn là Tuệ Đạo (Magga) và Tuệ Quả (Phala).

Khi hành giả có thể tiến đến giai đoạn giác ngộ thông qua thực hành Vipassanā, điều đó có thể nói rằng hành giả đó đã hoàn thành Bát Thánh Đạo cả Hiệp thế lẫn Siêu thế. Hành giả đó cũng chứng ngộ được Tứ Diệu Đế bằng tuệ minh sát và chứng được Tuệ Đạo và Tuệ Quả

Sự Chuyển Hóa Lớn Nội Tâm Qua Thiền Vipassanā

Tuệ Vipassanā (Vipassanā Ñāa) có thể tạm thời diệt trừ được phiền não trong khi các Thánh Đạo Tuệ (Ariya Magga Ñāa) có thể nhổ tận gốc vĩnh viễn mọi phiền não ngủ ngầm. Trên hành trình thực hành tâm linh, khi một người tiến hóa đến sự thành tựu về Thánh Đạo, sự chuyển hóa lớn nhất sẽ diễn ra trong tâm theo nghĩa của sự trong sạch, trí tuệ, an tịnh, xả ly và an nhiên tự tại.

Nhấn mạnh vào điểm quan trọng về phát triển chuyển đổi nội tâm kỳ diệu, Đức Phật đã dạy chúng ta huấn luyện tâm trong bài kinh Đoạn Giảm (Salleka sutta)

Vậy, bây giờ chúng ta hãy cùng lắng nghe bài kinh Đoạn Giảm (Salleka sutta) mà nó làm lợi lạc một cách đáng ngạc nhiên cho sự tiến hóa và cải hóa cho tâm như sau

Kinh Đoạn Giảm Hay Là Con Đường Hoàn Thiện Tính Cách Và Thái Độ Tâm
  1. “Những kẻ khác có thể bị hôn trầm thụy miên chi phối, chúng ta ở đây sẽ không có hôn trầm thụy miên chi phối”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  2. “Những kẻ khác có thể bị tâm trạo hối, chúng ta ở đây sẽ duy trì nội tâm an tịnh”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  3. “Những kẻ khác có thể nghi hoặc, chúng ta ở đây sẽ trừ diệt nghi hoặc về luật Nhân Quả và Tam Bảo như Phật, Pháp và Tăng”.

Khi một hành giả đạt được Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên (Paccayapariggaha Ñāa), Tuệ minh sát có thể quán sát được các nhân sanh ra Danh Sắc, sự hoài nghi (Vicikicchā) nhờ đó sẽ được tạm thời diệt trừ. Nhưng khi một hành giả chứng đắc giai đoạn giác ngộ đầu tiên là Tu-đà-hoàn Đạo (Sotāpatti Magga) và Tu-đà-hoàn Quả (Sotāpatti Phala), tất cả hoài nghi (Vicikicchā) đều bị nhổ tận gốc. Do đó, anh ta phát triển niềm tin vững chắc đối với lời dạy Đức Thế Tôn. Đức Phật khuyên chúng ta phải tự thực hành để thành tựu lòng tin thật sự vững chắc này.

  1. “Những kẻ khác có thể phẫn nộ, chúng ta ở đây sẽ không có phẫn nộ”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
Vượt Qua Sân Hận bằng Thiền Định

Đức Phật dạy “Để vượt qua sân hận, người đó cần phải thực hành Thiền Tâm Từ” trong Phẩm Meghiya phần Cảm Hứng Ngữ trong kinh điển Pāli, tr 120. Do đó vị đó cần phải thấm đẫm tâm từ trong tâm của mình bằng cách hành thiền Tâm Từ (mettā). Khi một người thường hay sân hận, cho dù là một vị Tỷ-kheo, cái tên gọi là “Pabbajita”, nghĩa là người phấn đấu diệt trừ phiền não, sẽ không còn thích hợp với vị ấy nữa. Vì vậy ta phải biết cách làm thế nào để chế ngự được sân hận bằng thiền Định như đã nói trên.

Sân Hận và Thiền Vipassanā

Nếu một người hành thiền Vipassanā có thể sẽ có nhiều lần gặp phải những trường hợp không vui vẻ mà trong đó nguyên nhân làm cho mình bực mình là ai đó hay cái gì đó. Nếu gặp tình huống đó, đầu tiên hành giả nên quán chiếu Sắc Tứ đại ở người hoặc vật là nguyên nhân gây ra sân. Rồi bằng thiền Vipassanā, quán đặc tính tam tướng vốn có của Tứ đại trong cả người và vật nói trên. Điều này sẽ giúp phát triển Tuệ minh sát, không còn thấy theo khái niệm người hay vật gây ra sân hận. Thay vào đó, với cái nhìn rõ ràng của Vipassanā, hành giả sẽ chỉ thấy đó là một tập hợp của Danh và Sắc có đặc tính sanh diệt liên tục bất tận. Kết quả là, hành giả sẽ chỉ thấy các đặc tính của Tứ đại là Vô thường (Anicca), Khổ (Dukkha) (tiến trình sanh diệt liên tục), Vô ngã (Anatta) (không có thực thể vững bền nào kiểm soát tất cả các tiến trình này).

Nhận thức được rằng Tuệ Minh Sát có thể tạm thời làm nhẹ và diệt trừ các phiền não bao gồm sân hận. Vì Vipassanā có khả năng đoạn giảm hoặc diệt trừ phiền não, nên ta hãy dùng nước mát và trong được gọi là Vipassanā để rửa sạch tâm, nhờ thế tất cả chúng ta có thể vượt qua sân hận, chăm sóc cái tâm thực hành Vipassanā của chúng ta. Đây là những gì Đức Phật có gắng chỉ dạy chúng ta trong bài Pháp.

Thêm nữa, cơn giận có thể hoàn toàn bị diệt trừ thông qua thực hành thiền Vipassanā, khi một hành giả có được ba-la-mật quá khứ do nghiệp thiện, chứng đắc giai đoạn giác ngộ thứ ba gọi là Thánh Đạo A-na-hàm (Anāgāmi Magga) và Thánh Quả A-na-hàm (Anāgāmi Phala). Đây là thành tựu của một đại thiện tâm hoàn hảo thực sự.

Bây giờ, chúng ta hãy đi sâu vào bài giảng sau đây.

  1. “Những kẻ khác có thể oán hận, chúng ta ở đây sẽ không có oán hận”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  2. “Những kẻ khác có thể vô ơn, chúng ta ở đây sẽ cố gắng biết ơn và trân trọng”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  3. “Những kẻ khác có thể não hại, chúng ta ở đây sẽ không não hại”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  4. “Những kẻ khác có thể tật đố, chúng ta ở đây sẽ không tật đố”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  5. “Những kẻ khác có thể bỏn xẻn, ích kỷ, chúng ta ở đây sẽ không bỏn xẻn, không ích kỷ”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.

Những bất thiện tâm được đề cập ở trên như hận thù, trả thù, vô ơn, hống hách, não hại, thiếu khiêm tốn, ganh tỵ và bỏn xẻn đều là suối nguồn của sân hận. Ta có thể loại trừ những phiền não này bằng cách thực hành bốn đề mục thiền cao quý (bốn Phạm trú, Brahma Vihara) hay thiền Vipassanā trong khi cố gắng chứng ngộ Thánh Đạo và Thánh Quả (Tuệ Đạo và Tuệ Quả). Thực ra, tinh thần kỷ luật và rèn luyện bằng hành thiền như thế có năng lực kỳ diệu để chuyển hóa tính cách và làm trong sạch tâm người.

  1. “Những kẻ khác có thể xảo trá (Māyāvi), chúng ta ở đây sẽ không xảo trá”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  2. “Những kẻ khác có thể khoe khoang, khoác lác, khoa trương (heyya), chúng ta ở đây sẽ cố gắng chân thật và thẳng thắn”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
Sự Phân Biệt Giữa Xảo Trá (Māyā) Và Khoa Trương (ṭheyya)

Ở đây, chúng ta sẽ nghiên cứu bản chất khác nhau giữa xảo trá (Māyā) và khoa trương (heyya). Xảo trá (Māyā) là đặc tính của bản chất che giấu khuyết điểm và lừa dối bằng đạo đức giả. Nó giống như là một ảo thuật gia thiện xảo trong sự lừa dối. Bằng nghệ thuật khéo léo, anh ta có thể làm giả đá giống như vàng thật. Tương tự, một người xảo trá (Māyā) có thể giả vờ một cách thiện xảo là một người tốt bằng cách giấu khuyết điểm và sử dụng sự lừa dối thiện xảo. Một loại người mà xã hội thường hay gọi là người có một cái tâm như con mèo tốt bụng. Ghi chú: “Con mèo tốt bụng” có nghĩa là một con mèo luôn có bộ dạng hiền lành, nhưng thực sự nó luôn rình rập để giết chuột.

Đức Phật không muốn các đệ tử của Ngài có các loại tâm như thế. Về bản chất và quan niệm của các vị Thánh như Đức Phật và những vị giác ngộ, lỗi lầm và khuyết điểm của người đó phải được giải quyết và sửa đổi một cách ngay thẳng. Sự xảo trá (Māyā) theo nghĩa sự thực tối hậu (chơn đế) được mô tả trong Vi diệu pháp là chỉ là một loại tâm sở bất thiện do tham và vô minh chi phối.

Sự khoa trương (heyya), mặt khác, là đặc tính tham theo khuynh hướng lừa dối người khác bằng cách cố gắng tạo ấn tượng với họ, giả vờ như là sở hữu nhiều phẩm chất ấn tượng nhưng trong thực tế một phẩm chất còn không có. Đây là bản chất của sự khoa trương (heyya). Sự xảo trá (Māyā) thì ngược lại, cố gắng che đậy lỗi lầm, giả vờ ngây thơ vô tội trong khi sự khoa trương (heyya) là giả đò có những phẩm chất tốt mà người này thực sự không có. Như vậy cả hai xảo trá (Māyā) và khoa trương (heyya) là những bất thiện trí và thiện xảo trong lừa lọc, gian trá, bịp bợm. Ghi chú: mỗi một hành động giả vờ như là có các phẩm chất Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā), kiến thức kinh điển, chứng ngộ Đạo (Magga) và Quả (Phala) mà người đó không hề có, đó là những hành động khoa trương (heyya).

Sự Khoa Trương (ṭheyya) Trong Xã Hội Loài Người

Nhìn vào vài khía cạnh của xã hội loài người, chúng ta có thể thấy sự rất phổ biến của sự khoa trương trong đời sống hằng ngày. Có nhiều người thích giả vờ làm người đạo đức mặc dù thực chất là người vô đạo đức. Ví dụ như là giả vờ làm người có bằng cấp tốt nghiệp cao mặc dù họ chẳng có bằng cấp nào cả. Có người cư xử và ăn mặc như người giàu để gây ấn tượng với người khác. Có người thì giả như ta là người dũng cảm, gan dạ mặc dù họ vô cùng dễ sợ hãi và nhát gan. Với tính đa dạng của sự không thành thật với ý định lừa bịp và làm cho mê muội đều là hành vi khoa trương (heyya). Đức Phật không muốn có những ý nghĩ và hành động cong quẹo trong tâm các đệ tử của mình. Đó là lý do Ngài đã dạy cho các vị đệ tử cố gắng thoát khỏi sự xảo trá (Māyā) và sự khoa trương (heyya) ngay cả khi người khác tràn đầy sự xảo trá (Māyā) và khoa trương (heyya) trong tâm. Các tâm sở và các hành vi thiếu chân thật này đối với Đức Thế Tôn đều rất đáng ghê tởm và không thể chấp nhận được.

  1. “Những kẻ khác có thể thô lỗ cộc cằn trong thân và khẩu, chúng ta ở đây sẽ cố gắng lịch sự và chu đáo”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
  2. “Những kẻ khác có thể kiêu căng, ngã mạn, chúng ta ở đây sẽ cố gắng không kiêu căng và khiêm tốn”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta.
Thật Là Lời Dạy Tuyệt Vời

Thật rất cần thiết cho bất kỳ ai đã bước vào con đường phát triển tâm linh dù là một vị Tỷ-kheo hoặc là một sadi là phải sống một cuộc đời khiêm cung. Chúng ta cần phải học tập gương Đại Đức Rāhula, là người có thái độ khiêm cung và ước nguyện chân thành là học và thực hành tam học là Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā). Ở đây, tôi sẽ nói về bài giảng tuyệt vời của Đức Phật cho ngài Rāhula. Bài giảng được gọi là Kinh Mahā Rahulovāda và nó được ghi trong kinh Trung bộ II, tr 86-87

Ðại kinh Giáo giới La-hầu-la (Mahā Rahulovāda sutta) (Đức Phật giáo giới Đại Đức La-hầu-la)
Tu Dưỡng Tâm Như Đất

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như đất. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như đất, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, ví như trên đất người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ không tịnh, quăng phân uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu; tuy vậy đất không lo âu, không dao động, hay không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập như đất. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như đất, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.

Tu Dưỡng Tâm Như Nước

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như nước. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như nước, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, ví như trong nước người ta rửa đồ tịnh, rửa đồ không tịnh, rửa sạch phân uế, rửa sạch nước tiểu, rửa sạch nước miếng, rửa sạch mủ, rửa sạch máu; tuy vậy nước không lo âu, không dao động, không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tụ tập như nước, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.

Tu Dưỡng Tâm Như Lửa

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như lửa. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như lửa, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, ví như lửa đốt các đồ tịnh, đốt các đồ không tịnh, đốt phân uế, đốt nước tiểu, đốt nước miếng, đốt mủ, đốt máu; tuy vậy lửa không lo âu, không dao động, không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như lửa, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.

Tu Dưỡng Tâm Như Gió

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như gió. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như gió, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, như gió thổi các đồ tịnh, thổi các đồ không tịnh, thổi phân uế, thổi nước tiểu, thổi nước miếng, thổi mủ, thổi máu, tuy vậy gió không lo âu, không dao động, không nhàm chán; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như gió, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.

Tu Dưỡng Tâm Như Hư Không

Này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như hư không. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như hư không, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại. Này Rahula, ví như hư không không bị trú tại một chỗ nào; cũng vậy, này Rahula, hãy tu tập sự tu tập như hư không. Này Rahula, do tu tập sự tu tập như hư không, các xúc khả ái không, khả ái được khởi lên, không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.

Cảm Hứng Ngữ

Thật cảm hứng xiết bao với Lời dạy của Đức Phật !

Những lời này của Đức Phật đã tạo cảm hứng cho chúng ta có được những hành động thánh thiện để phát triển tâm linh trong cuộc sống hàng ngày. Nó tạo thêm sức mạnh và nâng cao tinh thần của chúng ta trên con đường đến tự do và an lạc nếu chúng ta biết thực hành những lời dạy này trong các hành động thực tế.

Đức Phật giáo huấn rằng hãy tu dưỡng tâm ta như bản chất của đất, nước, lửa, gió, hư không, Ngài mong muốn một mức độ mạnh mẽ của đức kham nhẫn và sức chịu đựng được phát triển trong tâm ta mà trong tiếng Pāli gọi là phẩm chất Tādi.

Tādi, Một Phẩm Chất Đặc Biệt Của Tâm Giác Ngộ

Tādi là gì?

Iṭṭhāniṭṭhesu Hi Arajjanto Adussanto Tādī Nāma Hoti.

(Chú giải Trung bộ kinh, q III, tr 98)

Lời dịch: Không để cho tham ái hoặc ghét bỏ khởi lên khi tiếp xúc với những điều ưa thích hoặc không ưa thích, đó gọi là Tādi

Đó là phẩm chất của tâm có thể vẫn không bị ảnh hưởng bởi đối tượng yêu thích, hoặc không yêu thích. Nó còn làm cho tâm thăng bằng, không phản ứng lại tham ái hoặc ghét bỏ ngay cả trên tám bản chất đời sống của thế gian (bát phong) là: được, mất, nổi tiếng, ô nhục, khen, chê, hạnh phúc và bất hạnh. Bản chất nội tâm mạnh mẽ này được gọi là phẩm chất Tādi. Đức Phật đã thúc giục ta phát triển phẩm chất tâm đại thiện này.

Hoàn Thành Trọn Vẹn Tādi

Thực ra, phẩm chất Tādi được thực hiện một cách hoàn hảo chỉ ở trong tâm của các bậc A-la-hán hoàn toàn giác ngộ. Đại Đức Rāhula, người được Đức Phật chỉ dạy, lúc đó mới được mười tám tuổi, còn là một phàm nhân (Puthujjana), là người chưa giác ngộ khi được dạy bài Pháp này. Đức Phật đã dạy Đại Đức Rāhula, mặc dù Ngài Rāhula vẫn còn là một phàm nhân (Puthujjana), đang cố gắng phát triển kỹ năng hành thiền và thái độ mạnh mẽ như bản chất vững vàng của đất, nước, lửa, gió, hư không, vì thế Ngài có thể đạt được một vài mức độ của Tādi.

Phương Thức Và Cách Thức Phát Triển Tādi

Lời dạy của Đức Thế Tôn phù hợp cho mọi người học và làm theo.

Câu hỏi: Làm thế nào để phát triển phẩm chất Tādi?

Trả lời: Thực hành theo Bát Chánh Đạo như đề cập ở trên.

Một khi quý vị thực hành Bát Chánh Đạo đạt được đà tiến triển vững chắc chút ít, cuối cùng là các tiến bộ, sẽ khởi lên một khả năng kỳ diệu là không bị hề hấn trước những cơn bão của cuộc đời, ví dụ như thăng trầm của cuộc đời. Khi một người thành tựu giai đoạn như vậy, tất cả những ngủ ngầm tiêu cực như nóng nảy, tự phụ sẽ giảm đi…. Những loại phiền não này sẽ hoàn toàn bị diệt trừ khi người đó chứng đắc giai đoạn giác ngộ thứ tư, cũng là giai đoạn giác ngộ cuối cùng. Phẩm chất Tādi cũng từ đó được viên mãn.

Người Cung Kính Vâng Lời

Cho đến nay, trong bài Pháp Kinh Đoạn Giảm, Đức Phật đã đưa ra một thông điệp kỳ diệu về cải hóa tâm thức liên quan đến một chủ đề hết sức quan trọng là dẹp bỏ sân hận và ngã mạn. Bây giờ, Ngài tiếp tục giảng xa hơn.

  1. “Những kẻ khác có thể khó nói (nan thuyết), chúng ta ở đây sẽ dễ tiếp thu”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta
  2. “Những kẻ khác có thể là ác hữu, chúng ta ở đây sẽ là thiện bạn hữu”, ví dụ như cha mẹ tốt, thầy tốt và bạn tốt có thể dẫn dắt trên con đường phát triển tâm linh, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta
  3. “Những kẻ khác có thể dễ duôi trong việc tạo nghiệp thiện, chúng ta ở đây sẽ tích cực tạo thiện nghiệp”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta. Ghi chú: thiện nghiệp là các hành động như Bố thí (Dāna) , Trì Giới (sīla), Tham thiền (Bhāvanā).
  4. “Những kẻ khác có thể là bất tín, chúng ta ở đây sẽ có uy tín”, một thái độ thiện như thế chúng ta cần phải trưởng dưỡng
  5. “Những kẻ khác có thể không xấu hổ (vô tàm) đối với nghiệp bất thiện, chúng ta ở đây sẽ có xấu hổ (tàm) đối với nghiệp bất thiện”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta
  6. “Những kẻ khác có thể không sợ hãi (vô quý) đối với bất thiện nghiệp, chúng ta ở đây sẽ có sợ hãi đối với bất thiện nghiệp”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta
  7. “Những kẻ khác có thể ít học, chúng ta ở đây sẽ học tốt cả Pháp học và Pháp hành”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta

Ở đây, chúng ta phải hiểu rằng có hai loại Trí Tuệ gọi là Trí Pháp học (Āgama sutta) và Trí Pháp hành (Adhigama Sutta). Trí Pháp học (Āgama Sutta) là Trí Tuệ và sự hiểu biết có được từ sự học hỏi và ghi nhớ kinh điển. Trí Pháp hành (Adhigama Sutta) là sự chứng ngộ thâm sâu bởi Chánh kiến (Sammā Diṭṭhi), đạt được sau khi thực hành thiền miên mật và rốt ráo trong một thời gian dài trên con đường tiến hóa tâm linh. Ở đây, nó liên hệ tới hai loại Tuệ Minh Sát, Tuệ Phân định Danh Sắc (Nāmarūpa Pariccheda Ñāna), và Tuệ Phân biệt nhân duyên (Paccaya Pariggaha Ñāna), là Tuệ phân biệt được nhân duyên sanh ra Danh Sắc.

  1. “Những kẻ khác có thể biếng nhác đối với việc thiện, chúng ta ở đây sẽ siêng năng với việc thiện”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta
  2. “Những kẻ khác có thể thất niệm, chúng ta ở đây sẽ chánh niệm trên tất cả các pháp hữu vi”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta
  3. “Những kẻ khác có thể liệt tuệ (minh sát), chúng ta ở đây thành tựu tuệ (minh sát)”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta
  4. “Những kẻ khác có thể nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, tánh khó hành xả, chúng ta ở đây sẽ không nhiễm thế tục, không cố chấp tà kiến, tánh dễ hành xả”, thái độ thiện này cần phải được trưởng dưỡng trong chúng ta

Tất cả bốn mươi bốn nguyên tắc hay quy tắc trên được xây dựng nhằm phát triển và hoàn thiện tâm linh dành cho những ai chọn đời sống xuất gia, được đề cập rất rõ trong Kinh Đoạn Giảm (Salleka sutta) do Đức Phật thuyết giảng (Trung Bộ Kinh, I, tr 52-53).

Bây giờ càng rõ rệt hơn rằng vị Tỷ-kheo bước vào đời sống tu viện phải dẹp bỏ cách cư xử và dáng dấp của người cư sĩ trước đây. Vị ấy phải cải hóa mình và thích nghi với các nguyên tắc và quy tắc cần thiết để phát triển tâm linh của mình.

Để thực sự cải hóa những gì cần thiết cho đời sống xuất gia, Đức Phật dạy trong Kinh bậc xuất gia thường quán xét (Pabbajita Abhiha Sutta).

Añño me ākappo karanīyo”ti pabbajitena abhiha paccavekhittabba.

Lời dịch: “Này Tỷ-kheo, ta phải có tất cả thân hành, khẩu hành và ý hành thích hợp với đời sống xuất gia, đó là sự khác biệt và phân biệt với đời thường của một cư sĩ”, vì thế, vị Tỷ-kheo phải luôn quán tưởng điều đó. Đức Thế Tôn đã thúc giục mạnh mẽ.

Chương 4.
Quán Tưởng Đạo Đức Cá Nhân

Bây giờ, chúng ta hãy tiếp tục với bài Kinh bậc xuất gia thường quán xét (Pabbajita Abhiha Sutta). Đức Phật giảng thêm như sau:

Kacci nu kho me attā sīlato na upavadatī”ti pabbajitena abhiha paccavekkhitabba.

Lời dịch: Bậc xuất gia nên thường quán xét rằng: “Giới hạnh ta có hoàn toàn trong sạch với mọi giới luật xuất gia không?”.

Một Tỷ-kheo bước vào đời sống xuất gia phải thường xuyên tự kiểm giới hạnh mình có trong sáng, không một chút tội lỗi có thể khiến cho bị kết tội liên quan đến Phạm Hạnh theo tạng Luật, tạng kinh nói về giới luật xuất gia. Tại sao vậy?

Kiểm tra Giới hạnh (Sīla) bản thân thường xuyên giúp cho giới hạnh không bị hoen ố và trong sạch, bằng cách này cho phép một người có thể thấy hiện trạng Giới của mình là không bị hoen ố hay hoen ố, trong sạch hay không sạch.

Hiri, Một Thái độ Thiện của Hổ Thẹn Tội Lỗi (Tàm)

Eva paccavekkhato hi ajjatta hiri samuthāti. Sā tīsu dvāresu savara sadheti. (Chú giải Tăng chi bộ kinh, III, tr 314)

Lời dịch: Quán tưởng này sẽ gây cho vị Tỷ-kheo một cảm giác biết hổ thẹn tội lỗi. Điều này có tác dụng như một người bảo vệ quan trọng trong việc giữ gìn thân hành, khẩu hành và ý hành trong sạch.

Một khi ý nghĩ hổ thẹn tội lỗi (tàm) khởi lên trong tâm sẽ giúp cho thân hành, khẩu hành, ý hành luôn được kiểm tra, bảo đảm mọi hành động xảy ra ở ba môn đều trong sạch. Hiri, là một trạng thái thiện của hổ thẹn tội lỗi (tàm), có năng lực giữ gìn thân hành, khẩu hành, ý hành thanh tịnh.

Ở đây, nói về góc độ Giới, điều này không chỉ là Giới phòng hộ Pātimokkha (Pātimokkha savara sīla) như các giới luật được ghi trong Tạng Luật (Vinaya). Tất cả có bốn Giới (Sīla) thanh tịnh (Tứ Thanh Tịnh Giới) có tên:

  1. Giới phòng hộ theo giới bổn Pātimokkha
  2. Giới phòng hộ các căn (Indriya Savara Sīla)
  3. Giới nuôi mạng thanh tịnh (Ājīva Pārisuddhi Sīla)
  4. Giới quán tưởng tứ vật dụng (Paccayasannissita Sīla)

Như vậy, điều này rõ ràng là cần phải giữ gìn cả bốn Giới (Sīla) thật thanh tịnh.

Phương Thức Thực Hành Giới Phòng Hộ Các Căn
Indriya Saṃvara Sīla

Giới phòng hộ các căn (Indriya Savara Sīla), như Giới phải thu thúc lục căn, sẽ không được đầy đủ và hoàn thành nếu không tập trung thực hành thiền Định (samādhi) hay thiền Vipassanā. Do đó, điều này phải được hiểu rằng thực hành Giới phòng hộ các căn liên quan đến tập trung thực hành thiền Định (samādhi) hoặc thiền Vipassanā (Tương Ưng bộ kinh, q2, tr385, Kinh Kummopama)

Liên tục tập trung hành thiền sẽ làm thanh tịnh thân, khẩu, ý. Bên cạnh đó, sẽ có một năng lực trong tâm khởi lên giữ gìn thân, khẩu, ý.

Quả của Tứ Thanh Tịnh Giới (Catupārisuddhi Sīla)

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không kiểm soát thân, khẩu, ý theo cách này?

Tīsu dvāresu savaro catupārisuddhisīla hoti. Catupārisuddhisīle hito vipassana vaḍḍhetvā arahatta gahāti. (Chú giải Tăng Chi Bộ Kinh, III, tr314)

Lời dịch: Áp dụng việc giữ gìn thân, khẩu, ý sẽ là sự thực hành Tứ Thanh Tịnh Giới (Catupārisuddhi Sīla)

Thực hành vững chắc Tứ thanh tịnh Giới (Catupārisuddhi Sīla) và liên tục phát triển thiền Vipassanā, người đó sẽ đắc quả A-la-hán, giai đoạn giác ngộ cuối cùng.

Điều này chỉ rõ rằng đầu tiên chúng ta phải đứng trên nền tảng của Tứ thanh tịnh Giới, giữ gìn Giới (Sīla) trong sạch, và hành thiền Vipassanā. Quả vị A-la-hán, mục tiêu giác ngộ cao nhất sẽ đạt được như là một tất yếu. Đây là lý do tại sao Đức Phật chỉ dạy phải kiểm tra, đánh giá lại hiện trạng Giới Hạnh một cách thường xuyên.

Chương 5.
Phòng Vệ Giới Đức Khỏi Sự Nghi Ngờ
Hoặc Bị Chất Vấn Về Giới Hạnh

Bây giờ, đây là điều quan trọng thứ năm phải thường xuyên quán xét:

Kacci nu kho ma anuvicca viññū sabrahmacārī sīlato na upavadatī”ti pabbajitena abhiha paccavekkhitabba

Lời dịch: Bậc xuất gia phải luôn quán xét điều này: “Phải chăng các bạn đồng phạm hạnh trí thức không chê trách ta về giới hạnh?”.

Một Tỷ-kheo, sau khi bước vào đời sống Phạm Hạnh, phải luôn kiểm tra hiện trạng Giới hạnh của mình có thoát khỏi mọi sự nghi ngờ bởi các bạn đồng tu và các đồng Phạm Hạnh hay không.

Lợi ích

Quán tưởng điều này sẽ mang lại lợi ích gì?

Eva piccavekkhato hi bahiddhā ottappa saṇṭhāti.

(Chú giải Tăng Chi Bộ Kinh, III, tr314).

Lời dịch: Quán tưởng như vậy, sẽ khởi sinh cảm giác sợ hãi việc vi phạm đạo đức.

Điều này có nghĩa rằng bằng sự quán tưởng như vậy, nó sẽ xây dựng được một ý thức tôn trọng các bạn đồng tu và ý thức ghê sợ tội lỗi. Đối với một người biết nghĩ rằng liệu người khác sẽ đánh giá giới hạnh của mình ra sao, thì vị ấy sẽ dễ dàng phát triển một thái độ tôn trọng bạn đồng tu và cảm giác ghê sợ tội lỗi sâu sắc. Vậy điều gì sẽ đến nếu ý thức ghê sợ tội lỗi như thế khởi sanh?

Ta tīsu dvāresu savara sādheti (Chú giải Tăng Chi Kinh, III, tr 314)

Lời dịch: Tâm ghê sợ tội lỗi sẽ bổ sung ý thức giữ gìn đạo đức ở cả thân, khẩu và ý.

Tâm ghê sợ tội lỗi tiếng Pāli gọi là Ottappa (Quý), là ý thức đạo đức ghê sợ điều bất thiện, một cảm giác tôn trọng và lo sợ với bạn bè, thầy giáo, gia đình trước và sau khi làm điều xấu hay bất thiện. Khi cảm giác này xuất hiện trong tâm, vị đó ít khi dám làm những điều sai trái. Vì vậy, nó sẽ giúp tăng thêm sức mạnh giữ gìn đạo đức ở cả thân, khẩu và ý.

Tīsu dvāresu savaro catupārisuddhisīla hoti (Chú giải Tăng Chi Kinh, III, tr 314)

Lời dịch: Thực hành giữ gìn Thân hành, Khẩu hành, Ý hành cuối cùng sẽ dẫn đến việc hoàn thiện Tứ thanh tịnh Giới (Catupārisuddhi Sīla). Rõ ràng là khả năng chế ngự thân, khẩu, ý có thể hoàn thiện việc thực hành Tứ Thanh Tịnh Giới (Catupārisuddhi Sīla).

Sau khi hoàn thiện Tứ thanh tịnh Giới, vị ấy có thể dễ dàng tiến sang giai đoạn thực hành thiền Vipassanā. Khi Tuệ Minh Sát phát triển và chín muồi, nó sẽ dẫn tới chứng đắc quả vị A-la-hán. Đó là lý do tại sao Đức Thế Tôn dạy phải luôn quán tưởng hiện trạng giới hạnh của mình có thoát khỏi mọi khả năng bị nghi ngờ và kết tội bởi các bạn đồng đồng tu và các bạn Phạm Hạnh.

Chương 6.
Xa Lìa Tất Cả Những Người Thân Yêu và Mọi Thứ Trong Cuộc Sống

Bây giờ, đây là điều quán tưởng thứ sáu phải thường xuyên quán xét:

Sabbehi me piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo”ti pabbajitena abhiha paccavekkhitabba

Lời dịch: Bậc xuất gia phải luôn quán xét điều này: “Một ngày nào đó, ta sẽ lìa bỏ những người thân yêu của mình bởi cái chết hoặc sự biệt ly”.

Lợi Ích của Sự Quán Tưởng

Quán tưởng điều này sẽ mang lại lợi ích gì?

Eva paccavekkhato hi tīsu dvāresu asavutākāro nāma na hoti. (Chú giải Tăng Chi Kinh, III, tr 314).

Với một vị thường xuyên quán tưởng như vậy, sẽ không có cách gì khiến vị ấy thất niệm.

Nếu một vị Tỷ-kheo thường xuyên quán tưởng về điều này thì vị đó sẽ có thể phát triển sức mạnh tinh thần, chuẩn bị đối mặt với mọi tình huống trong đời một cách chánh niệm và trầm tĩnh. Khả năng kiểm soát lục căn của vị đó càng mạnh mẽ và bền bĩ. Kết quả là, không còn bất kỳ hành động thiếu kiểm soát nào ở thân, khẩu, ý nữa.

Loài người cũng như các loài sinh vật khác, bằng bản năng, rất dễ bị tác động khi họ phải xa lìa người thân yêu hoặc mất mát những gì họ vô cùng yêu quý trong cuộc sống. Nhiều người cảm thấy rất khó đối diện với sự mất mát về người thân cũng như vật yêu thích của mình. Họ cảm thấy toàn bộ sự tàn phá và vô vọng này tạo ra sự hoảng loạn của tinh thần. Họ bị tràn ngập bởi sầu bi, và phản ứng lại bằng những hành vi thiếu kiểm soát như khóc lóc thảm thiết hoặc tự dùng tay đấm ngực v.v. Sẽ không có những phản ứng như thế đối với một người biết thường xuyên quán tưởng bản chất tự nhiên của sự chia lìa là một tiến trình không thể tránh khỏi, đương nhiên phải xảy ra trong đời sống.

Ghi chú: sự đau buồn và những dạng xúc cảm khác là một bản chất chung của mọi loài chúng sanh. Tuy nhiên có một điểm khác biệt đáng lưu ý giữa một người bình thường thiếu kỷ luật thực hành tâm linh và một người có kỷ luật tâm linh và đã giác ngộ. Một người bình thường thì dễ bị tác động và khó mà vượt qua, trong khi người thức tỉnh về tâm linh có thể vượt qua nó bằng trạng thái an tịnh và thản nhiên. Ngoài ra còn một lợi ích khác trong sự quán tưởng này:

Maraasati sūpaṭṭhitā hoti (Chú giải Tăng Chi Kinh, III, tr 314)

Lời dịch: Sự chánh niệm về sự chết luôn ở trong tâm vị Tỷ-khưu.

Hơn nữa, được nhắc nhở bởi sự quán tưởng này, vị ấy nhận thức rằng chết là một tiến trình cuối cùng luôn theo sát mọi người, sẵn sàng cướp đi mạng sống bất cứ lúc nào. Vị ấy hiểu rõ rằng mình rồi đây cũng sẽ chết như mọi người ai cũng chết. Nếu có thể, bằng sự quán tưởng này, vị này sẽ thực hành Niệm sự chết, ví dụ như thực hành quán tưởng sự chết (Maraānussati) của chính mình như là một đề mục Thiền. Bằng sự chánh niệm sâu sắc về sự chết, vị ấy sẽ có thể đối diện với cái chết của người thân mình bằng sự an tịnh và thản nhiên.

Là một phần huấn luyện tâm linh, Đức Phật đã dạy cho tất cả những ai nương tựa nơi Giáo Pháp, như một Tỷ-khưu hay cư sĩ, hãy thường xuyên quán tưởng về sự lìa xa người thân yêu của mình và những vật mình yêu thích hoặc bằng cái chết hoặc bằng sự biệt ly.

Chương 7
Nghiệp Là Thừa Kế Của Ta

Bây giờ, chúng ta tiếp tục thực hiện điều quán tưởng thứ bảy.

Đức Phật nói: “Kammassakomhi kammadāyādo kammayoni kammabandhu kammapaisarao, ya kamma karissāmi kalyāa vā pāpaka vā tassa dāyādo bhavissāmī”ti pabbajitena abhiha paccavekkhitabba.

Lời dịch: Bậc xuất gia phải luôn quán tưởng điều này: Ta có Nghiệp (Kamma) là tài sản của chính ta, ta thừa kế Nghiệp (Kamma) của ta, Nghiệp (Kamma) là hậu duệ của ta, Nghiệp (Kamma) là quyến thuộc của ta, Nghiệp (Kamma) là nơi nương tựa của ta. Bất kể ta làm việc tốt hay xấu, ta sẽ thừa kế các quả của hành động đó.

Những lời của Đức Phật vô cùng mạnh mẽ không chỉ cho các vị Tỷ-khưu mà còn đối với tất cả mọi người. Mọi người phải nhận thức rằng Nghiệp (Kamma) là tài sản của ta. Ta phải thừa kế Nghiệp của ta. Hậu duệ thực sự của ta là Nghiệp (Kamma) của ta. Người bạn đường thủy chung nhất là Nghiệp sẽ luôn theo sát bất kỳ nơi nào ta tái sanh. Bất kể hành động và nhân của Nghiệp (Kamma) ta đã gieo trồng là tốt hay xấu, ta sẽ phải gặt hái quả của hành động đó. Đó là điều mà Đức Thế Tôn muốn nhắn nhủ chúng ta.

Lợi ích của sự quán tưởng

Khi ta quán tưởng điều này sẽ có lợi lạc gì?

Eva kammasakata pana paccavekkhato pakarana nāma na hoti.

Lời dịch: Quán tưởng Nghiệp (Kamma) là tài sản thực sự của chính mình, sẽ không ai còn gây ra những hành động bất thiện.

Ta sẽ gặt hái quả lành nếu ta gieo nhân thiện, cũng vậy, ta sẽ gặt quả xấu nếu ta gieo nhân ác”, quán tưởng như thế sẽ giúp ta khởi sanh ý thức ghê sợ tội lỗi và trách nhiệm đạo đức trong ta. Thái độ này sẽ là cơ hội làm giảm những cơ hội gây ra nghiệp bất thiện. Ta sẽ không còn muốn hoặc thậm chí không có cả một ý tưởng dù chỉ là bất chợt đối với hành vi tạo ra Nghiệp xấu.

Đây là một tình huống đặc biệt như là một kịch bản, nó có thể xảy đến cho một người có khả năng quán sát sâu sắc về các khía cạnh của Lý Duyên Khởi (Paiccasamuppāda) như đã dẫn giải bởi Đức Phật. Khi mà vị này thực hành quán chiếu tiến trình Lý Duyên Khởi, vị ấy có thể nhìn thấy được từng giai đoạn của các kiếp quá khứ của mình trong thời thiền. Mọi thứ ở kiếp quá khứ tái hiện sâu sắc trong tâm thức của vị ấy. Vị ấy có thể nhìn thấy rõ ràng tất cả nghiệp tốt hay xấu của mình. Trong những điều vị ấy có thể hồi tưởng được, vị ấy lưu tâm thấy nghiệp bất thiện đã làm trong một đời quá khứ và các quả xấu mà vị ấy đã gặt hái. Một khi vị ấy đã thấy được rõ ràng luật Nhân Quả và bản chất của Nghiệp trong mỗi đời quá khứ, vị ấy sẽ không có dù chỉ là ước muốn nhỏ nhất tạo ra nghiệp bất thiện. Điều này mang một ý nghĩa rất lớn trên con đường phát triển tâm linh. Cho dù vị đó chưa đạt được sự chứng ngộ thâm sâu, vị đó sẽ có thể đứng vững trước mọi thăng trầm của cuộc đời một cách an nhiên, tự tại và vững vàng. Do đó, một người phải luôn quán tưởng về bản chất của Nghiệp và Quả trong đời sống.

Chương 8.
Ta Đã Sử Dụng Thời Gian Ngày Và Đêm
Như Thế Nào?

Bây giờ, đây là điều quan trọng thứ tám phải thường xuyên quán tưởng:

Katha bhūtassa me rattindivā vītivattantī”ti pabbajitena abhiha paccavekkhitabba

Lời dịch: Bậc xuất gia nên thường quán xét rằng: “Ta sử dụng ngày và đêm như thế nào?”.

Bằng những lời dạy này, Đức Thế Tôn ngụ ý rằng mọi người cần phải suy xét việc sử dụng thời gian ngày và đêm quý báu của mình như thế nào. Nói cách khác, vị Tỷ-khưu phải biết thời gian trôi qua nhanh như thế nào hoặc vị đó biết rằng mình đã để thời gian ngày và đêm trôi qua như thế nào. Đơn giản hơn, vị Tỷ-khưu phải luôn suy xét mình đã sử dụng thời gian ngày và đêm được lợi ích tốt nhất hay chưa.

Đầu tiên, vị ấy phải suy xét việc thực hành Phạm Hạnh dù lớn hay nhỏ của đời sống xuất gia trong ngày và đêm như thế nào theo lời giáo huấn của Đức Phật. Vị ấy phải chắc chắn rằng mình không lãng phí một giây phút nào để thực hành Phạm Hạnh.

Thứ hai, vị ấy sẽ sử dụng tốt nhất mọi khoảng thời gian để học tập hoặc tụng Kinh và, không bao giờ lãng phí thời gian làm chuyện vô ích.

Thứ ba, vị ấy sẽ sử dụng thời gian để thực hành Như Lý Tác Ý (Yoniso Manasikāra), nghĩa là luôn giữ cho tâm suy tư đúng đắn. Ở đây, việc tập trung vào bất kỳ sự thực hành thiền nào cũng được gọi là Yoniso Manasikāra (Như Lý Tác Ý) theo tiếng Pāli. Do đó vị Tỷ-khưu phải luôn đảm bảo việc hành thiền của mình trong ngày và đêm. Vị ấy còn phải đảm bảo không bỏ phí một chút thời gian nào quên lãng việc hành thiền.

Lợi ích của sự quán tưởng
Quán tưởng điều này sẽ mang lại lợi ích gì?

Eva paccavekkhato hi appamādo paripūrati.”

(Chú giải Tăng Chi Kinh, III, tr314)

Lời dịch: bằng sự quán tưởng này, một ý thức sâu xa về tính cấp bách tạo Nghiệp Thiện và những việc hữu ích như là Bố thí (Dāna), Trì giới (Sīla), Tham thiền (Bhāvanā) và phát triển mười thiện nghiệp (puñña-kiriya-vatthus).

Nếu một người quán tưởng thường xuyên điều này, một thái độ Chánh niệm (Appamāda) mạnh mẽ đối với việc thực hành Giới (Sīla), Định (Samādhi), Tuệ (Paññā) trong đời sống hàng ngày sẽ được trưởng dưỡng. Nó cũng có thể góp phần đặc biệt cho sự phát triển chánh niệm tỉnh giác về tam tướng là Vô thường (Anicca), Khổ (Dukkha), Vô ngã (Anattā). Do đó, bất cứ người nào bước vào đời sống xuất gia phải thường xuyên quán xét thời gian quý báu ngày và đêm của mình trôi qua như thế nào.

Chương 9.
Liệu Ta Có Thật Sự Thích Sống Độc Cư Không?

Bây giờ, Đức Thế Tôn tiếp tục giảng về điều thứ chín phải thường xuyên quán xét:

Kacci nu kho aha suññāgāre abhiramāmī”ti pabbajitena abhiha paccavekkhitabba

Lời dịch: Bậc xuất gia nên thường quán xét rằng: “Ta có hoan hỷ sống độc cư, thực hành đời sống Phạm Hạnh hay không?

Sứ mạng của một vị Phạm Hạnh là phát triển tâm linh của chính mình, sau đó sẽ phục vụ người khác. Để hoàn thành sứ mạng này, vị Tỷ-khưu đó phải ẩn cư vào nơi cô liêu tịch tịnh và rừng sâu, tránh xa mọi thế tục phiền nhiễu bên ngoài, nơi mà vị ấy có thể tập trung hành thiền rốt ráo để phát triển thân tâm. Vị ấy cần phải thường xuyên quán tưởng rằng ta đang an hưởng độc cư để thực hành sự “Viễn ly” (Viveka). Chữ Viveka nghĩa là “Viễn ly”. Nó còn có nghĩa là việc cách ly khỏi mọi sự xao động và phiền não của thế gian. Đức Phật dạy:

Parivittassāya dhammo. Nāya dhammo sagaikārāmassa.

(Tăng Chi Kinh, III, tr 63)

Lời dịch: Chín Pháp siêu thế này chỉ dành cho những ai biết tận tâm tu tập ba Pháp Viễn ly (Viveka), Pháp này sẽ không dành cho những ai đang còn mãi mê việc sống lẫn lộn giữa thế gian.

(Ghi chú: Chín Pháp siêu thế này (Lokuttara Dhamma) tức là Bốn Đạo tuệ, Bốn Quả tuệ và Niết-bàn).

Ba Pháp Viễn Ly (Viveka)
  1. Thân Viễn Ly (Kāya Viveka) nghĩa là trạng thái thân an tịnh. Trường hợp này chỉ xảy ra khi một người lánh vào sống đời độc cư để hành thiền hoặc để hưởng sự an tịnh.
  2. Tâm Viễn Ly (Citta Viveka) nghĩa là trạng thái tâm an tịnh. Điều này chỉ xảy ra khi một người đang trong tiến trình tu tập thiền hoặc vị ấy đang nhập vào trạng thái tâm cao thượng chẳng hạn như đang nhập vào bậc thiền nào đó v.v.
  3. Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka) nghĩa là trạng thái chấm dứt bốn loại sanh y. Chữ Upadhi ở đây có nghĩa là sanh y – nơi nương sanh các cảm thọ. Viễn Ly Sanh Y xảy ra khi một người nhập diệt Niết-bàn.

Chín Pháp siêu thế (Lokuttara Dhamma) này chỉ có thể thành tựu đối với ai ưa thích tu tập ba loại Viễn Ly (Viveka) trên con đường tâm linh. Chín Pháp Siêu thế (Lokuttata Dhamma) không thể và sẽ không xảy ra trong tâm những người ưa thích các quan hệ xã hội bất tận và không chịu thực hành ba loại Viễn Ly (Vivekas) này. Đây là phần được nói trong bài Kinh Đại Tầm A-nậu-lâu-đà, Anuruddha Mahāvitakka sutta, Tăng Chi Bộ Kinh.

Vì thế, nếu chúng ta thật sự muốn chứng ngộ Chín Pháp Siêu thế, chúng ta phải có thái độ trân trọng ba Pháp Viễn Ly (Vivekas). Chúng ta phải đưa các Pháp này vào việc thực hành tâm linh.

Ba Pháp Viễn Ly (Vivekas)

Đó là gì? Đó là

  1. Thân Viễn Ly
  2. Tâm Viễn Ly
  3. Viễn Ly Sanh Y

Kāya nghĩa là Thân trong khi Viveka nghĩa là “viễn ly”. Vì vậy Kāya Viveka nghĩa là Thân Viễn Ly. Khi một người sống độc cư trong cả bốn oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm vị ấy được cho là ở trạng thái Thân Viễn Ly. Tuy nhiên, sống với trạng thái Thân Viễn Ly (Kāya Viveka) chưa đủ để chứng ngộ Chín Pháp Siêu thế, mà nó chỉ là bước khởi đầu cần thiết để thành tựu Chín Pháp Siêu Thế.

Hỏi: Vậy tiếp theo vị đó cần phải làm gì để thành tựu Chín Pháp Siêu thế?

Đáp: Phải vận dụng mọi nỗ lực cần thiết để thành tựu tám Thiền chứng (Jhāna và Sampatti) gọi là Tâm Viễn Ly (Citta Viveka). Trong khi hành thiền, tâm hành giả được thoát khỏi các phiền não đến một mức độ nào đó thì được gọi là Tâm Viễn Ly (Citta Viveka). Để giảm bớt sự sanh khởi của các phiền não, vị ấy cần phải nỗ lực thực hành thiền Kasiṇa cùng với các chuẩn bị tướng (Kasia Parikamma). Sau đó vị ấy có thể thành tựu các Thiền chứng (Jhānas Samāpattis) còn được gọi là Tâm Viễn Ly (Citta Viveka).

Hỏi: Liệu việc đắc tám bậc Thiền (Jhānas Samāpattis) còn được gọi là Tâm Viễn Ly (Citta Viveka) dẫn đến một người chứng ngộ Chín Pháp siêu thế hay không?

Đáp: Không hẳn thế.

Đến được mức đó đã là một sự thành tựu rất có ý nghĩa trên đạo lộ tâm linh, tuy nhiên vị ấy cần phải tiến xa hơn nữa trên con đường thực hành giải thoát. Dựa vào sự thành tựu Pháp Tâm Viễn Ly (Citta Viveka), vị ấy phải tiếp tục thực hành thiền Vipassanā bằng cách quán Danh Pháp và Sắc Pháp cùng với luật Nhân Quả vốn có trong mọi Pháp hữu vi.

Khi hành giả hành Thiền Vipassanā, quán Tam tướng của các Pháp hữu vi. Khi Tuệ Minh Sát sanh khởi qua thiền Vipassanā trở nên chín mùi, cuối cùng vị đó sẽ có thể chứng đắc Tuệ Đạo (Magga ñāna), Tuệ Quả (Phala Ñāna) và Niết-bàn (Nibbāna). Nếu một hành giả thành tựu A-la-hán Thánh Đạo và A-la-hán Thánh Quả, giai đoạn cuối cùng của sự giác ngộ, lúc đó vị ấy sẽ chứng đắc Niết-bàn. A-la-hán Thánh Đạo (Arahatta Magga), A-la-hán Thánh Quả (Arahatta Phala) và Niết-bàn (Nibbāna) được gọi là Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka), vì sẽ không còn bất cứ một Sanh y (Upadhi) nào trong tương lai nữa sau khi đã thành tựu các giai đoạn giác ngộ này. Ở đây chữ Upadhi nghĩa là sanh y – nơi nương sanh các cảm thọ, Viveka nghĩa là chấm dứt hoặc tận diệt, do đó nghĩa là là sự tận diệt của các sanh y.

Bốn Pháp Sanh Y (Upadhi) trong Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka)
  1. Dục Sanh Y (Kāmupadhi)
  2. Uẩn Sanh Y (Khandhupadhi)
  3. Phiền Não Sanh Y (Kilesupadhi)
  4. Thắng Hành Sanh Y (Abhisakharūpadhi).

Từ Kāmupadhi (Dục Sanh Y) là sự kết hợp của hai từ, đó là Kāma và upadhi. Kama nghĩa là năm loại dục lạc. Upadhi nghĩa là Sanh Y. Năm loại dục lạc gọi là Sanh Y (Upadhi) bởi vì thọ lạc sanh khởi từ ngũ dục này. Trong trạng thái tịch tịnh của Niết-bàn, không còn khởi sanh dục lạc. Vì thế nó được gọi là Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka). Đối với A-la-hán Thánh Đạo (Arahatta Magga) và A-la-hán Thánh Quả (Arahatta Phala) cũng tương tự vậy.

Chữ Khandhupadhi (Uẩn sanh y) bao gồm hai từ: KhandhaUpadhi. Khandha có nghĩa là năm uẩn trong khi Upadhi nghĩa là Sanh Y. Năm Uẩn được gọi là Upadhi vì các cảm thọ và sự khổ đau sanh khởi nhờ ngũ uẩn là nguồn gốc. Do sự có mặt của ngũ uẩn, các chúng sanh tái sanh nơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, hay nhân loại và phải chịu đựng các loại khổ khác nhau. Cái khổ mà một chúng sanh phải trải qua suốt tiến trình thụ thai và sanh, lão, bệnh, tử là do sự có mặt của năm uẩn. Đây là lý do tại sao ngũ uẩn được gọi là Sanh Y (Upadhi). Vào lúc chứng đắc Niết-bàn, năm uẩn gọi là Khandhupadhi (Uẩn Sanh Y) này đã vắng mặt và chấm dứt mọi vận hành. Vì thế Niết-bàn còn gọi là Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka).

Bây giờ chúng ta hãy nói về Sanh Y (Upadhi) thứ ba. Nó được gọi là Phiền não Sanh Y (Kilesupadhi) gồm hai chữ kết hợp: KilesaUpadhi. Chữ Kilesa nghĩa là phiền não làm tâm ô nhiễm trong khi từ Upadhi nghĩa là Sanh Y. Tại sao Phiền não (Kilesa) được gọi là Sanh Y (Upadhi)?

Nó được gọi như vậy là vì, dựa vào phiền não, tất cả mọi nỗi khổ đau bất tận mà chúng sanh phải đương đầu trong suốt vòng luân hồi (sasāra) sanh khởi chỉ nơi người chưa đoạn trừ các phiền não. Những khổ đau trong vòng luân hồi (sasāra) không còn khởi lên trong tâm của những người đã đoạn trừ phiền não. Giờ đây chúng ta đã hiểu rõ phiền não là sanh y ra khổ đau trong vòng sanh tử luân hồi (sasāra). Vì thế nó được gọi là Sanh Y (Upadhi). Trong Vô vi Niết-bàn không còn Phiền não Sanh Y (Kilesa Upadhi) nữa, không còn phiền não nữa, vì vậy gọi là Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka).

Bây giờ, Sanh y thứ tư là Thắng Hành Sanh Y (Abhisakharūpadhi) bao gồm hai từ: Thắng hành (Abhisakhāra) và Sanh Y (Upadhi). Từ Abhisankhāra nghĩa là tái tạo và tái phục hồi trong khi Upadhi nghĩa là Sanh Y. Ở đây, từ Thắng Hành (Abhisakhāra) được nói đến các Nghiệp thiện và Nghiệp bất thiện có tiềm lực khổng lồ trong việc tạo ra sự tái sanh. Đó gọi là Sanh Y (Upadhi) bởi vì Nghiệp tạo ra khổ và tất cả vòng luân hồi (sasāra) bất tận của khổ khởi sanh từ nghiệp thiện và bất thiện được gọi chung là Nghiệp (Kamma). Trong Vô vi Niết-bàn không còn Thắng Hành (Abhisakhāra), do đó cũng không còn quả của Nghiệp Thiện và Nghiệp bất thiện, vì thế nó gọi là Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka).

Tóm lại, bây giờ chúng ta đã hiểu được ba Pháp Viễn ly (Vivekas), tên là Thân Viễn Ly (Kāya Viveka), Tâm Viễn Ly (Citta Viveka), Viễn Ly Sanh Y (Upadhi Viveka). Chín Pháp siêu thế chỉ có thể tu tập với những người có tâm ưa thích ba Pháp Viễn Ly (Vivekas). Chín Pháp siêu thế không thể phát triển đối với người không tận tâm hay không ưa thích thực hành ba Pháp Viễn ly (Vivekas) mà chỉ ưa thích giao tiếp và sống lẫn lộn trong xã hội.

Đó là lý do tại sao Đức Phật đã nhấn mạnh phải thường xuyên quán tưởng và tự hỏi rằng liệu ta có thực sự thích sống độc cư ở nơi tịch tĩnh để phát triển tâm linh hay không.

Lợi ích của sự quán tưởng

Khi quán tưởng điều này ta sẽ có lợi ích gì?

Evam paccavekhato kāyaviveko paripūrati.

Lời dịch: Sự quán tưởng này sẽ giúp hoàn thành bước đầu của Thân Viễn Ly (Kāya Viveka).

Sự quán tưởng này sẽ luôn nhắc nhở một người đi vào sống độc cư theo đuổi hành trình phát triển tâm linh một cách rốt ráo. Một khi vị ấy bắt đầu thực hiện được bước thứ nhất – Thân Viễn Ly (Kāya Viveka), là bước đầu tiên dễ thực hiện nhất, hai bước Viễn Ly còn lại sẽ dần được phát triển vì chúng là các bước tiến có mối tương quan tuần tự. Vì thế, Đức Phật giáo huấn rằng phải thường xuyên quán tưởng điều này.

Chương 10.
Khi hấp hối trên giường bệnh

Bây giờ, đây là điều quán tưởng thứ mười phải thường xuyên thực hành:

Atthi nu kho me uttari manussadhammo alamariyañāadassanaviseso adhigato, yenāha pacchime kāle sabrahmacārīhi puṭṭho na maku bhavissāmī”ti pabbajitena abhiha paccavekkhitabba

Lời dịch: Bậc xuất gia nên thường quán xét rằng: “Liệu ta đã thực sự thành tựu tri kiến siêu thế của bậc thánh hay chưa (Alamariya ñāadassana visesa), đã vượt qua mười loại thường giới của phàm nhân (Manussa Dhamma) hay chưa, nhờ đó ta sẽ không cảm thấy bối rối trong giây phút cuối cùng của cuộc đời khi các đồng Phạm Hạnh hỏi ta là đã đắc được một Pháp siêu thế nào chưa?”.

Vị Tỷ-khưu hay bất cứ ai đi trên con đường Phạm Hạnh, đều phải thường xuyên quán tưởng điều thứ mười này, ta đã làm được gì để phát triển tâm linh, đã thành tựu được Pháp nào chưa như bậc thiền chứng (Jhāna), Đạo (Magga), Quả (Phala) và Niết-bàn (Nibbāna). Những thành tựu này được gọi là tri kiến của bậc thánh (Alamariya ñānadassana Visesa), nó có nghĩa là một bậc Thánh đã giác ngộ. Những Trí Tuệ này là sức mạnh kỳ diệu làm thanh tịnh tâm vì nó có thể diệt trừ các phiền não.

Ta đã thành tựu được bất kỳ Pháp siêu thế nào chưa?”, vị Tỷ-khưu, với sự suy xét này, sẽ luôn thường xuyên đánh giá sự nỗ lực của bản thân.

Với sự quán tưởng này tôi sẽ có lợi lạc gì?

Giả dụ có một vị đang hấp hối trên giường bệnh, rồi những người bạn đồng tu đến hỏi vị ấy về sự thực hành đã tiến bộ thế nào? Họ có thể hỏi “Hiền giả đã thành tựu Pháp siêu thế nào để nương tựa chưa?”. Trả lời câu hỏi này với một tiếng KHÔNG thì thật là bối rối. Để tránh gặp phải tình huống này và để tạo lực đẩy cần thiết đối với việc thực hành tâm linh, vị Tỷ-khưu cần phải thường xuyên kiểm tra mình đã thành tựu được một trong Chín Pháp siêu thế (Lokuttara Dhamma) nào chưa.

Lợi ích của sự quán tưởng

Có bất kỳ lợi ích quan trọng nào từ việc quán xét này không?

Eva paccavekkhantassa hi moghakālakiriyā nāma na hoti.

Chú giải Tăng Chi Kinh, q III, tr 314

Lời dịch: Khi quán tưởng điều này, sẽ không có cái chết vô nghĩa và sự lãng phí thời gian vô ích trong cuộc đời tu tập.

Vị đó có thể hiểu rõ hiện trạng tu tập của mình đã tiến bộ ở bậc siêu thế nào chưa. Vị ấy sẽ biết rằng vị ấy không có thời gian nào để lãng phí, mà sẽ dồn nỗ lực gấp đôi để thực hành rốt ráo hơn nữa nếu chưa đạt được sự tiến bộ nào hết. Vị ấy hoàn toàn nhận thức rõ giây phút cuối đời là giai đoạn không tránh khỏi trong cuộc sống giống như mặt trời mọc bị buộc sẽ phải lặn lúc hoàng hôn.

Tất cả chúng ta đều biết rằng hoàng hôn cuộc đời ta cuối cùng sẽ đến. Cùng với quá nhiều lần mặt trời lặn xuống trong cuộc đời, ta đang tiến dần tới cái chết và không bao giờ thoát khỏi nó. Với sự chánh niệm về tiến trình bất biến này, nhờ đó sẽ phát triển một ý chí và mức độ quyết tâm mạnh mẽ dành toàn bộ phần đời quý giá còn lại để tu tập nhiều hơn. Không còn thời gian để lãng phí nữa. Với thái độ và sức mạnh này, vị ấy sẽ tập trung nhiều hơn nữa cho việc phát triển Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā). Mỗi tiến bộ và sự phát triển trên con đường tâm linh chắc chắn sẽ dẫn đến chứng đắc các Pháp Siêu Thế mà vị ấy mong mỏi.

Đức Phật đã thấy trước những lợi lạc như thế, nên Ngài đã giáo huấn thực hành thường xuyên mười loại quán tưởng này hằng ngày. Vì thế, đây là phận sự của bất cứ ai bước vào con đường Phạm Hạnh do Đức Phật giảng dạy với mục đích diệt trừ phiền não, cố gắng nỗ lực thực hành theo lời dạy của Đức Thế Tôn. Điều này sẽ dẫn đến sự tiến bộ đầy ý nghĩa trên hành trình tiến hóa tâm linh.

Kết luận

Hitvā kāme pabajjisu,
Santo gambhīrasintakā
Te tumhe pya-nusikkhāvho,
Pabbajitā supesalā.

Những bậc hiền nhân và bậc thánh thâm sâu xưa kia
Với tư duy và trí tuệ, trở thành các Tỷ-kheo
Và những Đạo sĩ từ bỏ ngũ trần
Ôi cho dù cuộc sống hiện đại!
Hãy yêu quý Giới đức và
Trưởng dưỡng chúng.
Theo con đường tự do và giải thoát.

Cầu chúc cho quý vị sớm đạt được mục đích cứu cánh giải thoát giác ngộ, chứng ngộ Niết-bàn

Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayādaw

Trung Tâm Thiền Pa-Auk Tawya

Mawlamyine, tiểu bang Mon, Myanmar


Kinh Thừa Tự Pháp

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa

Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc Ứng Cúng, Đấng Chánh Đẳng Giác

THỪA TỰ PHÁP

Khi các Phật tử có tín tâm nơi Tam Bảo đến lúc làm cha mẹ, họ đều hy vọng rằng những đứa con mình sẽ thật sự thừa hưởng được gia tài Pháp Bảo. Để có thể biến mục đích này thành sự thực, ngay khi những đứa trẻ đến tuổi thành niên, chúng được cha mẹ khuyên đi xuất gia, trở thành Tỷ-kheo (hay Tu nữ), theo đúng Giới luật của Phật Giáo Nguyên Thủy. Khi điều này xảy ra, cha mẹ chúng cảm thấy hết sức hoan hỷ và mãn nguyện. Tuy nhiên, điều rất quan trọng là việc thừa tự Pháp này, phải đúng theo những điều Đức Phật đã chỉ dẫn và chấp thuận. Gia tài Pháp Bảo mà các Tỷ-kheo nên kế thừa từ Đức Thế Tôn đã được trình bày chi tiết trong bài Kinh Thừa Tự Pháp thuộc Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya Mūlapaṇṇāsapāli Dhammadāyāda Sutta).

Nguồn gốc của bài “Kinh Thừa Tự Pháp”(Dhammadāyāda Sutta)

Chú giải Kinh Trung Bộ đã giải thích về hoàn cảnh ra đời của bài Kinh Thừa Tự Pháp như sau:

Bài Kinh này được Đức Thế Tôn thuyết giảng nhân dịp có vô số các tài vật đã được cúng dường tới Tăng chúng. Hàng núi các tài vật được cung kính cúng dường như mưa tới Đức Toàn Giác. Sau khi được thọ ký, Đức Bồ Tát khao khát thành tựu quả vị Chánh Đẳng Giác và Ngài đã thực hành suốt cả bốn A-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp để viên mãn ba mươi Ba-la-mật sau:

  1. Mười Ba-la-mật bậc hạ: là bố thí và từ bỏ tất cả các vật ngoại thân (tài sản, vợ con….)
  2. Mười Ba-la-mật bậc trung: là bố thí và từ bỏ các chi phần cơ thể không tổn hại mạng sống.
  3. Mười Ba-la-mật bậc thượng: là bố thí sinh mạng của chính mình.

Trong kiếp sống cuối cùng của mình, ba mươi ba-la-mật trên đã viên mãn tới mức tất cả các tài vật đủ loại đã được cúng dường tới Đức Phật, nhiều như thác đổ. Từ tất cả các phương hướng, tất cả các loại đồ ăn, thức uống, tất cả các loại xe cộ, y áo, dầu thơm, hương hoa, đèn cầy, đèn dầu và vô số các loại tài vật khác được chở tới cúng dường bởi các hoàng gia, các Bà-la-môn giàu có và các Đại thí chủ. Họ hỏi nhau:

Đức Thế Tôn hiện đang ở đâu? Chúng ta có thể tìm thấy Bậc Ứng cúng cao quý nhất ở đâu?”.

Họ đã chở tới chỗ Đức Phật hàng trăm cỗ xe được chất đầy tất cả các loại của cải vật chất đứng chờ cho tới lượt và tới giây phút được dâng cúng các phẩm vật này. Họ chờ đợi lần lượt từng người với hàng dãy dài những cỗ xe chất đầy phẩm vật trước tăng xá, vô cúng dường Đức Phật. Bất cứ nơi nào Đức Phật đặt chân tới, cũng có hàng đoàn người theo sau, để chờ dịp được cúng dường đến Ngài. Không phải chỉ riêng Đức Phật mà cả Tăng đoàn cũng tràn ngập trong các tài vật cúng dường. Mô tả về sự phong phú tới mức thừa thãi những phẩm vật này, một số đoạn kinh Pāli đã viết:

Vào thời đó, Đức Thế Tôn đã nhận được sự trọng vọng, sùng kính, tôn thờ, yêu thương, cung kính cũng như các tứ vật dụng là vật thực, y, tự viện, thuốc men cúng dường nhiều không kể xiết”.

Này Cunda, đây là thời kỳ đỉnh cao của hội chúng và Tăng Đoàn. Này Cunda, ta không thấy bất cứ Tăng đoàn nào trong giáo pháp của ta có thể đạt đến sự cực thịnh về tài vật cúng dường, về tiếng tăm và các tùy tùng nhiều như Tăng Đoàn hiện nay”.

Vô Số Các Vật Phẩm Cúng Dường Tới Tăng Đoàn

Bhikkhūnampi yebhuyyena kappasatasahassa tatobhiyyopi pūritadānapāramisañjayattā tadā mahālābha-sakkāro uppajji. (MT. 1.180)

Vào thời đó, không biết bao nhiêu quà biếu, vật dụng, tặng phẩm đã được cúng dường tới Tăng Đoàn, nhờ vào năng lực của ba-la-mật bố thí đã được tích trữ và phát triển suốt cả một trăm ngàn đại kiếp hoặc lâu hơn thế nữa”.

Ở đây, chúng tôi muốn bàn rõ thêm về ba-la-mật cần được phát triển bởi các vị đệ tử, cũng như thời gian cần thiết để thành tựu nó.

Ba-la-mật (Pāramī)

Thời Gian Cần Thiết Để Phát Triển và Thành Tựu Ba-la-mật.

Tasmā paccekabuddhabuddhasāvakāna sabbesa patthanā ca abhinīhāro ca icchitabbo. (MA.1.180)

Theo chú giải, Đức Phật muốn tất cả các đệ tử phải:

  1. Phát Đại Thiện nguyện hướng tới Trí Tuệ giác ngộ
  2. Luôn có tâm khao khát mãnh liệt nhất để phát triển các ba-la-mật (được hiểu là sự viên mãn) dẫn đến thành tựu Trí Tuệ Giác ngộ.

Imesa pana sabbesampi adhikāro ca chandatāti dvagasamannāgatoyeva abhinīhāro hoti. (ApA.1.155) [p.7] (ApA.1.158)

Tất cả các đệ tử của Đức Phật cần có đầy đủ đặc tính sau:

  1. Đại Thiện nguyện (Adhikāra)
  2. Khao khát mạnh mẽ đạt tới Trí Tuệ Giác ngộ mà họ đã phát nguyện hướng đến.

Chỉ khi nào có đầy đủ được hai điều kiện này thì các vị Đệ Tử Phật mới có khả năng thành tựu các Ba-la-mật cần thiết để dẫn đến Trí Tuệ Giác ngộ.

Thế Nào Là Đại Thiện Nguyện (Adhikāra)

Chúng ta cần thiết phải giải thích về Đại Thiện Nguyện. Các vị Thánh Đệ Tử Phật có ba bậc như sau:

(1) Aggasāvaka: Thượng thủ Thanh Văn.

(2) Mahāsāvaka: Đại Thanh Văn.

(3) Pakatisāvaka: Thường Thanh Văn.

Trong số ba loại đệ tử này:

(1) Thượng thủ Thanh Văn (Aggasāvaka): ví dụ như Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mục-kiền-liên phải trải qua một A-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp để cuối cùng thành tựu được Trí Tuệ Giác ngộ.

(2) Đại Thanh Văn (Mahāsāvaka): như Tôn giả Đại-ca-diếp, Tôn giả Ānanda, Tôn giả Mahākaccī phải trải qua suốt một trăm ngàn đại kiếp để cuối cùng thành tựu Trí Tuệ Giác ngộ.

(3) Thường Thanh Văn (Pakatisāvaka): phải trải qua thời gian không hạn định, cho tới lúc nào thành tựu viên mãn các ba-la-mật, với khát khao mãnh liệt nhất.

Khi đã thành tựu được Trí Tuệ Giác ngộ theo như nguyện ước của mình, các Thượng thủ Thanh Văn, Đại Thanh Văn và một số bậc Thường Thanh Văn có được Vô Ngại Giải Trí. Những nhân để cho ra quả – là sự thanh tịnh của Vô Ngại Giải Trí (Paisambhidā ñāna) này, được giải thích trong bộ Thanh Tịnh Đạo Visuddhi Magga và Chú Giải bộ Phân tích Tạng Vi Diệu Pháp Sammohavinodanī – như sau:

(1) Chứng đắc (Adhigama): do các ngài chứng ngộ Tuệ Đạo và Tuệ Quả A-la-hán.

(2) Tinh thông kinh điển (Pariyatti): do các ngài học Giáo Pháp của Đức Phật.

(3) Nghe (Savana): do các ngài nghe Pháp với lòng tôn kính.

(4) Hỏi (Paripucchā): do các ngài đã luận bàn đến từng tiểu tiết, tường tận những ý nghĩa khó hiểu hay hóc búa trong chú giải.

(5) Tiền nỗ lực (Pubbayoga): do có Nỗ lực Tiền Căn – tức là do các ngài đã gieo trồng và thành tựu việc tu tập từ những kiếp quá khứ.

Trên đây là năm nhân tố quyết định, được thành tựu nhờ có tâm khao khát mãnh liệt nhất.

Pubbayogo nāma pubbabuddhāna sāsane gatapaccāgatikabhāvena yāva anuloma gotrabhusamīpa, tāva vipassanānuyogo. (VsM. 2.72)

Yāva anulomagotrabhusamīpanti sakhārupekkhāñāamāha. (MT.2.84)

Pubbayoga = Nỗ Lực Tiền Căn (Tiền nỗ lực) là các thiện Nghiệp mà các vị Tỷ-kheo đã phát triển trong rất nhiều kiếp quá khứ trong thời kỳ Giáo Pháp của các Đức Phật quá khứ, nó được thành tựu viên mãn nhờ:

(1) Họ đã thực hành Thiền Vipassanā trong suốt thời gian đi vào làng khất thực.

(2) Họ đã thực hành Thiền Vipassanā trong suốt thời gian từ làng về Tịnh xá.

Những vị Đệ Tử đã viên mãn những phẩm chất đặc biệt của yếu tố thứ năm là Nỗ Lực Tiền Căn (Pubbayoga) này sẽ đạt được Trí Tuệ sau:

  1. Tuệ Phân biệt Danh Sắc (hay gọi là Danh Sắc Phân Định Trí nāma-rūpa-pariccheda-ñāna).
  2. Tuệ Phân biệt Nhân Duyên (hay gọi là Duyên Xác Định Trí paccaya-parigaha-ñāna).
  3. Tuệ Minh Sát (Vipassanā)

Ba Tuệ này đã được phát triển suốt các thời kỳ Giáo Pháp của các Đức Phật quá khứ. Điều này chứng tỏ họ đã có Ba-la-mật Xuất Gia (vì đã từng là Tỷ-kheo) và đã hành thiền trong suốt thời gian đi bát.

Năm nhân tố quyết định trên chính là điều kiện cần được phát triển để thanh tịnh hóa Vô Ngại Giải Trí. Trong năm nhân trên thì:

- Nhân (1) Chứng ngộ (Adhigama) cần được viên mãn trong kiếp cuối cùng.

- Nhân (2) Tinh thông kinh điển (Pariyatti), nhân (3) Nghe (Savana), nhân (4) Hỏi (Paripucchā) cần được phát triển viên mãn trong các kiếp quá khứ và trong kiếp cuối cùng khi thành tựu Vô Ngại Giải Trí.

- Nhân (5) Nỗ lực Tiền căn (Pubbayoga) cần được thành tựu trong thời kỳ Giáo Pháp của các Đức Phật trước hoặc từ các kiếp quá khứ.

Tất cả bốn nhân tố là: Tinh thông kinh điển (Pariyatti), Nghe (Savana), Hỏi (Paripucchā), Nỗ lực Tiền căn (Pubbayoga) được gọi là Đại Thiện Nguyện (Adhikāra), là hạt giống Ba-la-mật cần được học, phát triển và thành tựu nếu chúng ta muốn có Trí Tuệ Giác Ngộ. Muốn được vậy, mỗi người cần có một khát vọng cực kỳ mãnh liệt và sự kiên trì miên mật trong việc phát triển Đại Thiện Nguyện trên, cho tới lúc viên mãn Trí Tuệ Giác Ngộ. Một người chỉ khi thành tựu đủ hai yêu cầu sau thì mới tạo thành ba-la-mật trí tuệ của một vị Thanh Văn:

  1. Phát Đại Thiện Nguyện (Adhikāra) hướng tới Trí Tuệ giác ngộ
  2. Luôn duy trì một khát vọng cực kỳ mãnh liệt và cháy bỏng nhằm thành tựu Đại Thiện Nguyện.
Giải Thích của Chú Giải Bộ Phân Tích Tạng Vi Diệu Pháp

Pariyattisavanaparipucchā hi pubbe hontu vā mā vā, pubbayogena pubbe ceva etarahi ca sakhārasammasana vinā paisambhidā nāma natthi. Ime pana dvepi ekato hutvā paisambhidā upatthambhetvā visadā karontīti. (AbA.2.373)

Trong năm nhân kể trên, Tinh thông kinh điển (Pariyatti), Nghe (Savana), Hỏi (Paripucchā) là yếu tố quyết định để thành tựu Vô Ngại Giải Trí (Paisambhidāñāna) và nhân Nỗ lực Tiền Căn (Pubbayoga) ảnh hưởng đến việc Chứng ngộ Đạo và Quả vị A-la-hán (Adhigama). Cũng chính nhân tố tiền căn này khiến Vô Ngại Giải Trí khác đặc biệt hơn hẳn so với các tuệ khác.

Dù các nhân Tinh thông kinh điển (Pariyatti), Nghe (Savana) và Hỏi (Paripucchā) có được phát triển hay không trong các kiếp thuộc thời Giáo Pháp của các Đức Phật quá khứ trước Phật Gotama cũng như các kiếp quá khứ thuộc thời đức Phật Gotama, “Vô Ngại Giải Trí” (Paisambhidāñāna) dường như khó có thể thành tựu trừ phi nhân tố Nỗ Lực Tiền Căn (Pubbayoga) được phát triển với Tuệ Vipassanā thấu rõ được Khổ Đế và Khổ Tập Đế dưới ánh sáng của Vô thường, Khổ, Vô ngã suốt trong các khoảng thời gian sau:

- Hoặc trong thời kỳ Giáo Pháp của các vị Phật quá khứ

- Hoặc trong các kiếp quá khứ thuộc thời kỳ Giáo Pháp của Đức Phật hiện tại

- Hoặc trong kiếp sống hiện tại thuộc thời kỳ Giáo Pháp của Đức Phật hiện tại.

Vô Ngại Giải Trí (Paisambhidāñāna) được thanh tịnh chỉ khi nó được củng cố bằng sự trợ giúp phối hợp của Nỗ lực Tiền Căn (Pubbayoga) và sự chứng ngộ Đạo và Quả Nibbāna (Adhigama)

Tuy nhiên, có phải tất cả các vị Thánh Đệ Tử đều có Vô Ngại Giải Trí (Paisambhidāñāna) không?

Hãy xem phần chú giải như sau:

Ariyasāvako no paisambhidāpatto nāma natthi (AbA.2.372)

Dường như rất hiếm khả năng là có vị Thánh Đệ tử nào mà lại không thành tựu Vô Ngại Giải Trí”

Tứ Tuệ Phân Tích Trong Vô Ngại Giải Trí (Paṭisambhidāñāna)
  • Trong chú giải nói về phần “Thuyết giảng về từng Thánh Đế” (Saccavāra desanā), Đức Phật có nói về Vô Ngại Giải Trí (Paisambhidāñāna) như sau:

Dukkhe ñāa atthapaisambhidā, dukkhasamudaye ñāa dhammapaisambhidā, dukkhanirodhe ñāa atthapaisambhidā, dukkhanirodhagāminiyā paipadāya ñāa dhammapaisambhidā, tatra dhammaniruttābhilāpe ñāa niruttipaisambhidā, ñāesu ñāa paibhānapaisambhidā. (Vbh.2.307)

  1. Trí Tuệ Phân Tích được Khổ Thánh Đế gọi là Nghĩa Vô Ngại Giải (atthapaisambhidāñāna)
  2. Trí Tuệ Phân Tích được về Tập Thánh Đế (Nguồn gốc của Khổ) được gọi là Pháp Vô Ngại Giải (Dhammapaisambhidāñāna)
  3. Trí Tuệ Phân Tích được Diệt Khổ Thánh Đế được gọi là Nghĩa Vô Ngại Giải (atthapaisambhidāñāna)
  4. Trí Tuệ thấu triệt được Đạo Thánh Đế (tức Bát Chánh Đạo dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn) là Pháp Vô Ngại Giải (Dhammapaisambhidāñāna).

Trí Tuệ phân biệt được sự khác nhau giữa hai yếu tố Nghĩa (atthapaisambhidāñāna) và Pháp (Dhammapaisambhidāñāna) kể trên, tức là Trí Tuệ phân tích về từ ngữ được gọi là Từ Vô Ngại Giải (niruttipaisambhidāñāna).

Trí Tuệ phân tích được cả ba trí tuệ Nghĩa Vô Ngại Giải (atthapaisambhidāñāna), Pháp Vô Ngại Giải (Dhammapaisambhidāñāna), Từ Vô Ngại Giải (niruttipaisambhidāñāna) được gọi là Biện Vô Ngại Giải (patibhānapaisambhidāñāna). (Ab. 2.307)

Cần lưu ý rằng trong Vô Ngại Giải Trí (paisambhidāñāna) trên chính nhờ Nghĩa Vô Ngại Giải (atthapaisambhidāñāna) và Pháp Vô Ngại Giải (Dhammapaisambhidāñāna) mà Tứ Thánh Đế mới có thể được phân tích thấu suốt và liễu ngộ.

Luân Đế (Vaṭṭasacca) và Ly Luân Đế (Vivaṭṭasacca)

Tattha purimāni dve saccāni vaṭṭa, pacchimāni vivaṭṭa. Tesu bhikkhuno vaṭṭe kammaṭṭhānābhiniveso hoti, vivaṭṭe natthi abhiniveso. (AbA.2.109)

Ý nghĩa của câu kệ Pāli trên là trong Tứ Thánh Đế:

  • Khổ Thánh Đế (Dukkhasacca) và Tập Thánh Đế (Samudayasacca) (tức nguyên nhân của Khổ) thuộc về Luân Đế (Vaṭṭasacca) (tức là Sự thật về vòng luân hồi) (sasāra)
  • Diệt Khổ Thánh Đế (Nirodhasacca) là Pháp Vô Vi Niết-bàn và A-la-hán Tuệ được thành tựu nhờ Bát Thánh Đạo (Đạo Thánh Đế), dẫn đến việc giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử được gọi là Ly Luân Đế (Vivaṭṭasacca).
  • Hành giả thực tập thiền Vipassanā (Vipassanā bhāvāna) cần phải thấu hiểu và có Tuệ Minh Sát về Khổ Thánh Đế và Tập Thánh Đế thuộc Luân Đế (Vaṭṭasacca).
  • Còn hai Đế sau là Diệt Thánh Đế và Đạo Thánh Đế thuộc Ly Luân Đế (Vivaṭṭasacca) thì không có Tuệ Minh Sát.
Đối Tượng Của Tuệ Vipassanā

Như trong đoạn kinh Pāli và chú giải ở trên, hành thiền Vipassanā bao gồm việc liễu ngộ được về Khổ Đế và Tập Đế. Hai Luân Đế này chính là đối tượng Pháp của tuệ Vipassanā.

Aniccādivasena vividhehi ākārehi dhamme passatīti vipassanā. (AbA.1.175)

Câu kinh Pāli có nghĩa là: Nó được gọi là Vipassanā bởi các Pháp thuộc Khổ Thánh Đế và Khổ Tập Thánh Đế được quán chiếu, liễu ngộ dưới ánh sáng của Tam Tướng – tức là ba đặc tính Vô thường (anicca), Khổ (dukkha), Vô ngã (anatta).

Sakhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā. (S.3.369; M1.82)

Theo bài kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana Sutta) và Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna Sutta) giải thích về vấn đề trên, mười một tính chất của Pháp Hữu Vi là quá khứ, hiện tại, vị lai, trong, ngoài, thô, tế, cao thượng, hạ liệt, xa, gần. Trong những trạng thái kể trên hàm chứa tư tưởng ô nhiễm của Tham Ái – tức Chấp thủ Ngũ Uẩn – chính là Danh và Sắc. Đây là Khổ Thánh Đế.

Theo bài kinh Ngoại Đạo Xứ (Titthāyatana Sutta A.1.178) của Tăng Chi bộ kinh, mắt xích nối kết trong Thập Nhị Nhân Duyên chính là tiến trình Nhân – Quả. Nói cách khác, năm nhân trong mười hai Duyên khởi là vô minh, tham ái, thủ, hành và nghiệp, chính là những Pháp thuộc Tập Thánh Đế (tức Thánh Đế về Nguồn gốc của Khổ)

Việc đầu tiên và quan trọng nhất là một hành giả cần quán xét làm sao mà các Nhân của Khổ (thuộc Tập Thánh Đế) là Vô Minh, Ái, Thủ, Hành và Nghiệp trổ ra các quả như Thức (viññāna), Danh Sắc (nāma rūpa), Lục Nhập (saāyatana), Xúc (phassa), Thọ (vedanā) là các pháp thuộc Khổ Thánh Đế.

Các Pháp về Khổ Thánh Đế và Khổ Tập Thánh Đế là các Pháp của Luân Đế (vaṭṭasacca), và chúng cần phải được phân biệt bằng Tuệ Minh Sát (Vipassanā) dưới ánh sáng của tam tướng là Vô thường, Khổ, Vô ngã.

Samudayadhammānupassī vā kāyasmi viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmi viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmi viharati. (M.1.71)

Theo chỉ dẫn của Đức Phật trong kinh Đại Niệm Xứ, vẫn chưa thể gọi là đủ, nếu một hành giả bằng Tuệ Minh Sát quán chiếu sự vận hành của năm Nhân của khổ là vô minh, tham ái, thủ, hành và nghiệp và các quả của nó trên ngũ uẩn này. Điều cần thiết là hành giả phải phân biệt và khám phá ra như thế nào A-la-hán Tuệ Đạo diệt tận gốc rễ, không còn dư sót năm nhân của Tập Đế là: Vô Minh, Tham Ái, Thủ, Hành, Nghiệp. Họ cũng hiểu được quả tương ứng sẽ ra sao khi ngũ uẩn bị diệt tận sau Vô Dư Niết-bàn. Đây là tính chất Vô Sanh (anuppāda).

Trong kinh Ngoại Đạo Xứ (Titthāyatana Sutta A.1.178), Đức Phật dạy rằng ngay sau khi nhân tái sanh bị tận diệt không còn dư sót, do tính chất vô sanh (không còn sanh trở lại nữa), thì quả cũng bị tận diệt không còn dư sót, không còn tái sanh. Chính bằng cách này mà Diệt Khổ Thánh Đế đã được quán chiếu bằng Tuệ Vipassanā Hiệp thế. Chú giải và Đại Sớ Giải của Thanh Tịnh Đạo cũng giải thích như vậy.

Trong chú giải của Thanh Tịnh Đạo còn giải thích thêm rằng Đạo Đế xuất hiện khi sự sanh diệt (udayabbaya) của các hành được quán chiếu bằng Tuệ Vipassanā là Thánh Đạo Hiệp Thế.

Điều cần thiết đối với các hành giả là đầu tiên, họ phải nhận thức thấu đáo bằng Tuệ Minh Sát Hiệp Thế, để sau đó có thể đạt được Tuệ Đạo A-la-hán (thuộc Đạo Đế Siêu Thế), nhờ đó chứng ngộ được trạng thái vô vi Niết-bàn.

Nếu Tuệ Minh Sát Hiệp Thế kể trên đã phần nào được phát triển trong các kiếp thuộc Giáo Pháp của các Đức Phật quá khứ hoặc trong các kiếp quá khứ thuộc Giáo Pháp Đức Phật hiện tại thì Tuệ Minh Sát ấy được gọi là Pubbayoga – Nỗ Lực Tiền Căn. Sự tu tập này cũng được gọi là Đại Thiện Nguyện. Chú giải kinh Bổn Sự (Apadāna) (ApA. 1.158) có giải thích là cần thành tựu hai điều là phát Đại Thiện Nguyện và luôn duy trì tâm khao khát mãnh liệt chứng ngộ Niết-bàn là để phát triển các Ba-la-mật cần thiết cho Trí Tuệ Giác Ngộ.

Tuy nhiên, trong phần giới thiệu về các phẩm chất của Minh (vijjā) và Hạnh (caraa) trong chú giải kinh Xiển Minh Ba-la-mật của Ngài Thiền sư Ledi Sayadaw, Ngài có dạy rằng trong Ba-la-mật Đại Thiện Nguyện của một bậc Thanh Văn có cả hai yếu tố là (1) hạt giống Minh (Vijjā) và (2) hạt giống Hạnh (Caraa).

Hạt giống Minh (Vijjā) và Hạnh (Caraṇa)

Tattha vijjāsampadā bhagavato sabbaññuta pūretvā hitā. Caraasampadā mahākāruikata. So sabbaññutāya sabbasattāna atthānattha ñatvā mahākāruikatāya anattha parivajjetvā atthe niyojeti. Yathā ta vijjācaraasampanno. Tenassa sāvakā suppaipannā honti, no duppaipannā vijjācaraavipannāna sāvakā attantapādayo viya. (VsM.1.197)

Tattha yathā sakhārā hetunibbattā, eva avijjāpi kāmāsavādinā sahetukā evāti āha ‘‘ubhopete hetusamuppannā’’ti. Paccayapariggaheti nāmarūpassa paccayāna avijjādīna paricchijja gahae, nipphādetabbe bhumma. Paññāti kakhāvitaraavisuddhisakhātā pakārato jānanā. Dhammaṭṭhitiñāanti paiccasamuppādāvabodho. Idañca dhammaṭṭhitiñāa yasmā addhāttaye kakhāmalavitaraavasena pavattati, tasmā ‘‘atītampi addhāna’’ntiādi vutta (VsMT.1.223)

Câu Pāli trên trong chú giải và phụ chú giải có ngụ ý:

Đức Phật đã viên mãn tám Thắng Trí tức là tám Minh (vijjā), cũng như mười lăm Hạnh Pháp. Trong hai yếu tố trên, viên mãn về hạt giống Minh (vijjā) giúp Đức Phật thành tựu Trí Tuệ của một bậc Chánh Đẳng Giác. Hạt giống Hạnh (caraa) làm hoàn thiện lòng Đại Bi (mahākaruā ) của Đức Phật

Nhờ có Toàn Giác Trí mà Đức Phật biết được tất cả những điều lợi lạc cho chúng sinh, cũng như biết tất cả những điều không mang lại ích lợi. Với lòng Đại Bi (mahākaruā), Ngài đã dạy chúng sanh hãy làm tất cả những điều có lợi và tránh xa những điều bất lợi cho chúng sanh.

Đức Phật Gotama cũng giống như những Đức Phật trước trong quá khứ, đều viên mãn cả Minh lẫn Hạnh và đều dạy chúng sinh làm lành, tránh ác.

Các Thánh Đệ Tử của Đức Phật đã thực hành miên mật theo đúng chỉ dẫn của Ngài để hành theo những điều lợi lạc, tránh xa những điều vô ích, thành tựu viên mãn những giới đức của Minh (vijjā) và Hạnh (caraa). Họ hoàn toàn bước trên con đường Chánh Hạnh (suppaipanna).”

Các Thánh Đệ Tử của Đức Phật Chánh Đẳng Giác đã thực hành miên mật để thành tựu các giới đức của Minh (vijjā) và Hạnh (caraa) và họ hoàn toàn bước trên con đường Chánh Hạnh (suppaipanna). Con đường này hoàn toàn không giống chút nào với lối tu khổ hạnh tự hành xác của các đệ tử ngoại đạo, những người hoàn toàn thiếu các giới đức của Minh (vijjā) và Hạnh (caraa), vì họ đang đi trên con đường Tà Hạnh (duppaipanna) (VsM. 1.197).

Chú giải đã giải thích như trên để cho thấy viên mãn Minh (vijjā) và Hạnh (caraa) là phương cách rõ ràng để thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử (VsMT 1.233)

Ba Minh (Vijjās) Và Năm Minh (Vijjās)

Trong kinh “Sợ hãi và Khiếp đảm” (Bhayabherava Sutta) có giải thích Tam Minh (vijjās) là: Túc Mạng Minh (Pubbenivāsānussati), Thiên Nhãn Minh (Dibbacakkhu) và Lậu Tận Minh (Āsavakhaya) (M. 1.26).

Trong kinh A-ma-trú (Ambaṭṭha Sutta) (D.1.94) khai triển chi tiết tam Minh thành bát Minh như sau:

  1. Minh Sát Minh: Trí Tuệ biết về Khổ Thánh Đế chính là Chấp Thủ Ngũ Uẩn đưa đến tái sanh (upādānakkhandā) là Tuệ Minh Sát biết rõ về các bản chất Vô thường, Khổ, Vô ngã của Vô Minh, Ái, Thủ, Hành, Nghiệp (Tập Thánh Đế), của Danh và Sắc và Nguồn Gốc của Khổ Thánh Đế.
  2. Ý Hóa Minh (Manomayiddhi): là năng lực thần thông biến một thân hóa hiện thành nhiều thân hoặc ngược lại.
  3. Biến Hóa Minh (Idhividha): là năng lực thần thông giúp bay lên được trên không hay độn thổ.
  4. Thiên Nhĩ Minh (Dibbasota): năng lực trí tuệ giúp nghe được xa gần tùy ý.
  5. Tha Tâm Minh (Cetopariya): trí tuệ đọc được tâm người khác.
  6. Túc Mạng Minh (Pubbenivāsānussati): trí tuệ biết về kiếp quá khứ của một người
  7. Thiên Nhãn Minh (Dibbacakkhu): là Trí Tuệ nhìn được bất cứ vật hay người nào, bất cứ nơi nào gần xa khi muốn
  8. Lậu Tận Minh (Āsavakhaya): Tuệ Đạo của một bậc A-la-hán (A-la-hán Thánh Đạo Tuệ) giúp tận diệt được tất cả những ô nhiễm, nhờ liễu ngộ được Sự Thật Tột Cùng của Tứ Thánh Đế.

Trong bát Minh, Lậu Tận Minh (Āsavakhaya) hay là Thánh Đạo Tuệ (Ariyamagga) là nhân thứ nhất trong năm nhân giúp thanh tịnh hoá Tứ Tuệ Phân Tích (Paisambhidāñāna) giúp cho thành tựu được Đạo và Quả. Trí tuệ đầu tiên của bát Minh (vijjā), Minh Sát Minh là sự thực hành nỗ lực tiền căn (pubbayoga) của các kiếp quá khứ. Tuệ này là một yếu tố vô cùng quan trọng trong Đại Thiện Nguyện.

Mười Lăm Hạnh Pháp

Trong Kinh Hữu học (Sekkha Sutta) (M.2.17-19) thuộc Trung Bộ Kinh có nói về mười lăm Hạnh pháp như sau:

  1. Giữ Giới trong sạch (sīlasavara)
  2. Thu Thúc Lục Căn (Indriyesu guttadvāratā): Chánh Niệm luôn giữ tâm trên các đối tượng của Thiền Chỉ – Thiền Quán để phòng hộ các ô nhiễm có thể khởi sanh, khi sáu Căn (Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý) tiếp xúc sáu Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp)
  3. Tiết độ ăn uống (Bhojannemattaññutā): thực hành tiết chế, vừa đủ trong việc ăn uống.
  4. Tỉnh thức (Jāgariyānuyoga): Tu hành siêng năng và miên mật; ngủ ít và dành nhiều thời gian để học và hành Pháp.
  5. (5) – (11) (Satta saddhamma): bảy phẩm hạnh của người có đức hạnh
  6. (12) – (15) (Rūpāvacara jhānas): Bốn tầng thiền sắc giới từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.
  7. Tín (saddhā): có đức tin vào Tam Bảo, vào Nghiệp và Quả của Nghiệp
  8. Tàm (Hirī): cảm thấy hổ thẹn đối với tội lỗi hay điều bất thiện.
  9. Quí (Ottapa): ghê sợ hậu quả tội lỗi và những điều bất thiện.
  10. Đa văn (Bahussuta): ham học và có nhiều kiến thức.
  11. Tinh Tấn (Āraddhavīriya): Nỗ lực hết sức mình trong việc loại bỏ bất thiện pháp đã sanh, ngăn ngừa bất thiện pháp chưa sạch, khơi dậy các thiện pháp chưa sanh và tăng trưởng các thiện pháp đã sanh bằng cách chuyên cần thực hành thiền Chỉ – Quán (Samatha-Vipassanā)
  12. Chánh niệm (Satimā): Luôn rất cẩn thận và thận trọng trong thân, khẩu, ý
  13. Trí Tuệ (Paññā): hoàn thiện Tuệ Minh Sát để hiểu thấu đáo về Vô thường, Khổ, Vô ngã của Khổ Thánh Đế và Khổ Tập Thánh Đế.
Bảy Phẩm Hạnh Của Người Có Đức Hạnh

- Trong bảy Pháp Hạnh của người có đức hạnh kể trên, kinh Hữu Học Sekha Sutta (M.2.18-19) có giải thích về Đa Văn (Bahussuta) như sau:

Tính chất Đa Văn Bahussuta

Về Tính chất Đa Văn (Bahussuta) là ham học và có nhiều kiến thức, Đức Phật nói:

Bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo. Ye te dhammā ādikalyāā majjhekalyāā pariyosānakalyāā sātthā sabyañjanā kevalaparipuṇṇa parisuddha brahmacariya abhivadanti tathārūpāssa dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaividdhā. (M.219)

Diṭṭhiyā suppaividdhāti atthato ca kāraato ca paññāya suppaividdhā. (MA.2.154)

Diṭṭhiyā suppaividdhāti atthato ca kāraato ca paññāya suṭṭhu paividdhā paccakkha katā. (AA.2.364)

Giải Thích
  • Giáo Pháp của Đức Thế Tôn rõ ràng, minh bạch ở đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối và hoàn toàn được khéo thuyết giảng để có thể hiểu đầy đủ cả về ngữ và nghĩa. Giáo Pháp đã giảng dạy chi tiết và hoàn hảo về con đường tu tập, phạm hạnh thanh tịnh và các đệ tử của Ngài thuộc lòng những lời dạy này. Các đệ tử được nghe thuyết giảng, học Giáo Pháp kinh điển trực tiếp từ chính vị Đạo sư của mình và bản thân mình chứng nghiệm điều đó. Theo chú giải của Trung Bộ Kinh và Tăng Chi Bộ Kinh, Khổ Thánh Đế – tức Chấp Thủ Ngũ Uẩn được gọi là quả và Tập Thánh Đế được gọi là nhân (kāraa). Hai Đế này được quán chiếu rất nhiều lần, lặp đi lặp lại. Với Chánh Kiến (sammadiṭṭhi) thấu suốt, trí tuệ được chứng nghiệm bởi mỗi cá nhân. Sự chứng ngộ cá nhân theo cách này đã được gọi là Tuệ Chứng Ngộ (adhigamasuta). Và các đệ tử của Phật đều có Trí Tuệ này.

Về thuật ngữ “Đa Văn” (Bahussuta) ở đây đặc biệt ám chỉ đến sự hiểu biết sâu sắc sự thực về Danh và Sắc Chân Đế nhờ Danh Sắc Phân Định Trí (nāma rūpa pariccheda ñāa). Sự hiểu biết rõ về nguyên nhân sanh khởi ra Danh và Sắc nhờ Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên (Duyên Xác Định Trí (paccaya pariggaha ñāa)). Chỉ khi nào hành giả có khả năng hiểu về Khổ Thánh Đế và Tập Thánh Đế với Chánh Kiến mới thành tựu được “Đa Văn” (Bahussuta)

Chú giải Năm Mươi Kinh Giữa của Trung Bộ nói về đối tượng của Chánh niệm như sau:

Iti ime rūpārūpadhammā eva uppajjitvā eva niruddhā’’ti sarati ceva anussarati ca, satisambojjhaga samuṭṭhāpetīti attho. (MA. 3.21)

Chánh Niệm trong bảy Hạnh Pháp của người đức hạnh được sinh ra do (và cùng với) Danh Sắc thì nó cũng diệt bởi (và cùng với) Danh Sắc”. Vậy đối tượng của Chánh niệm chính là Danh và Sắc này, và đây là cách giải thích về đối tượng của Chánh niệm.

Bảy phẩm Hạnh của người đức hạnh này cũng bao gồm cả Tuệ Minh Sát. Tuệ Vipassanā xuyên thấu được bản chất Vô thường, Khổ, Vô ngã của các hành chính là ngũ thủ uẩn (Khổ Thánh Đế) cùng với Tập Thánh Đế, tất cả điều này đều được bao gồm trong đặc tính Đa Văn (Bahussuta). Chú giải Majjhimapaṇṇāsa (MA. 3.22) có giải thích thêm rằng loại Trí Tuệ sâu sắc này không chỉ ở Tuệ Vipassanā mà còn ở Tuệ Đạo A-la-hán. Trong quá trình thanh tịnh hóa Tứ Tuệ Phân Tích (Paisambhidāñāna), tuệ Vipassanā nằm trong nhân là Nỗ Lực Tiền Căn (Pubbayoga) và Tuệ Đạo A-la-hán có trong nhân tố Chứng ngộ (Adhigama).

Mục đích của sự giảng nghĩa này cho thấy rằng trong phạm vi Ba-la-mật, Tuệ Minh Sát Vipassanā là một trong các Hạnh Pháp. Cho nên cũng cần nhớ rằng Tuệ Minh Sát có trong cả mười lăm Hạnh Pháp lẫn trong tám Minh.

Minh (Vijjā) và Hạnh (Caraṇa)

Các Hạnh Pháp (Caraa) được phát triển với mục đích và tác ý là chứng ngộ Niết-bàn, giống như đôi tay và chân vậy. Giống như một người có đầy đủ tay chân sẽ có thể đi bất cứ đâu hay lấy được bất cứ thứ gì anh ta muốn. Các Hạnh Pháp (Caraa) cần được phát triển cho đến khi chứng ngộ Niết-bàn. Nó giúp cho một người có cơ hội gặp được Đức Phật hoặc các vị Thánh nhân khác, người có thể giảng dạy cách tu tập của bậc Thánh; hoặc gặp được những vị thầy, bạn bè, người lớn tuổi hoặc cha mẹ có giới đức.

Nhờ cơ hội gặp gỡ các vị Phật hoặc những bậc Thánh để được thuyết giảng về Tứ Thánh Đế, những hạt giống Minh này (có thể gọi là Ba-la-mật) chính là “Nhân Dẫn Xuất” đưa tới Tuệ Giác Ngộ Tối Thượng. Chính hạt giống của Minh này làm một người có khả năng đạt được Trí Tuệ liễu ngộ Tứ Thánh Đế.

Ngài Ledi Sayadaw giải thích là thậm chí dù là hạt giống của Minh có thể đã được gieo trồng và phát triển, nhưng nếu hạt giống Hạnh chưa được phát triển thì Đạo – Quả – Niết-bàn không thể đạt được. Có thể lấy ví dụ về con trai của nhà Đại Phú Mahādhāna và vợ của anh ta (được đề cập trong Chú Giải Kinh Pháp Cú (DhPA.2.81)) để minh chứng điều này. Tương tự vậy thí dụ của Du sĩ Saccaka trong Tiểu Kinh (M. 1.289-299) và Đại Kinh Saccaka (M. 1.299-317), Đạo – Quả – Niết-bàn cũng không thể đạt tới nếu chỉ có Hạnh (Caraa) mà không có Minh (Vijjā).

Nếu con của nhà triệu phú Mahādhāna và vợ ông ta nhận thức được ý nghĩa cấp bách trong độ tuổi thanh niên và bước vào con đường tu tập có hệ thống tuần tự thì người chồng có thể đắc tới quả vị A-la-hán và người vợ có thể đắc tới quả vị A-na-hàm (Anāgāmi) (Bất Lai). Nếu họ bắt đầu tu tập trong thời kỳ trung niên thì người chồng có thể đắc A-na-hàm (Anāgāmi) và người vợ đắc được Tư-đà-hàm (Sakadāgāmi) (tức Nhất Lai). Nếu họ bắt đầu tu tập trong thời kỳ lão niên thì người chồng có thể đắc quả Nhất Lai (Sakadāgāmī) và người vợ đắc quả Dự Lưu (Sotāpanna). Họ đã phát trển hạt giống Minh (Vijjā), nhưng lại thiếu hạt giống Hạnh (Caraa), vì thế khi có cơ hội gặp Đức Phật thì họ lại quá già yếu, lúc mà đã quá trễ để có thể thấm nhuần và tu tập Giáo Pháp của Đức Như Lai về Tứ Thánh Đế. Vì lý do này mà Đức Phật không thuyết Pháp cho họ nghe. Họ đã bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng trong thời kỳ Giáo Pháp của Đức Phật Thích Ca, vì chỉ có hạt giống Minh được phát triển, còn hạt giống Hạnh thì không.

Đối với trường hợp Du sĩ Saccaka, hạt giống Hạnh (Caraa) đã được phát triển và ông cũng có cơ hội để nghe thuyết giảng về Tứ Thánh Đế trực tiếp từ Đức Phật. Tuy nhiên, do thiếu phát triển hạt giống Minh nên mặc dầu gặp được Đức Phật để nghe giảng về tính chất Vô ngã của ngũ uẩn, nhưng Du sĩ khăng khăng là ngũ uẩn có ngã. Vị ấy đã không thể tiếp thu Giáo Pháp. Tuy nhiên, để có thể truyền đạt và thấm nhuần hạt giống Minh liên tục vào trong tâm của Du sĩ Saccaka, Đức Phật phải giảng rộng thêm ra cho vị ấy nghe trong hai bài Tiểu Kinh Saccaka (M. 1.289-299) và Đại Kinh Saccaka (M. 1.299-317). Nhưng du sĩ đã không thể giải thoát khỏi vòng luân hồi ngay lúc đó, thậm chí vị ấy không chịu quy y Tam Bảo. Tuy nhiên, sau khi có cơ hội nghe Pháp từ Đức Phật, từ sâu thẳm trong tâm, vị ấy đã chấp nhận ngũ uẩn thực sự là Vô ngã. Nhưng do sự có mặt của các hoàng tử xứ Lichavi nên du sĩ đã không thú nhận sự đồng ý ra lời của mình. Chính nhờ chấp nhận tính Vô ngã của ngũ uẩn trong tâm mà vị ấy làm viên mãn ba-la-mật của mình về hạt giống Minh, giúp vị đó thành tựu Đạo – Quả – Niết-bàn (MA.2.114. MA.2.194) trong kiếp sau.

Khoảng hai trăm đến ba trăm năm sau khi Đức Phật Đại bát Niết-bàn (Parinibbāna) vào thời kỳ đầu khi Giáo Pháp có tại Ceylon, du sĩ Siccaka đã học thuộc lòng Tam Tạng (Tipitaka), thực hành thành công thiền Vipassanā và được biết đến với danh hiệu Mahākāabudharakhita, chứng đắc quả vị A-la-hán với Tứ Tuệ Phân Tích (Paisambhidāñāa).

Hai ứng dụng của Tuệ Vipassanā

Như chúng ta đã thấy Tuệ Vipassanā có trong cả hai hạt giống Minh (vijjā) và Hạnh (caraa). Trong Vô Ngại Giải Đạo (Paisambhidāmagga) (PsM. 60) có nói là nếu một hành giả còn dính mắc vào các Tuệ Vipassanā, thậm chí ngay cả trường hợp dính mắc Tuệ Hành xả (Sakhārupekkhā-Ñāa), thì chính Tuệ Hành xả (Sakhārupekkhā-Ñāa) này sẽ cho quả tái sanh kiếp sau. Chú giải từ Vô Ngại Giải Đạo (Paisambhidāmagga) có giải thích là:

Vì trong lộ trình tâm của Tuệ Hành xả vẫn còn tâm sở đồng sanh Sở Hữu Tư (Cetanā) tức vẫn còn tạo tác Nghiệp. Do tác động của Nghiệp lực (tức Sở Hữu Tư) rất mạnh mẽ, đã cho quả tái sinh trong cõi dục giới. Lúc đó ô nhiễm của tâm tham – tức là sự dính mắc vào Tứ Tuệ Phân tích, đóng vai trò hỗ trợ và trở thành nguyên nhân cho sự tái sanh trong cõi dục giới ở kiếp sống kế tiếp. Vì vậy, sự tạo Nghiệp của Sở Hữu Tư trong Tuệ Hành xả (Sankhārupekkhā-Ñāa), chính là nguyên nhân trực tiếp cho ra Quả của Nghiệp (vipāka).

Trong trường hợp những hành giả nào chưa đắc các tầng Thiền, thì ô nhiễm của tâm Tham, giống như ví dụ trên, chính là nhân gần cho ra Quả là sự tái sanh trong cõi dục. Trong trường hợp một vị Thánh nhập lưu, vị Thánh Nhất Lai và vị Thánh Bất Lai đã đắc Thiền, kiếp tái sanh tới của họ là ở cõi Phạm Thiên và do đó, Nghiệp Quả của ô nhiễm tham này bị vô hiệu hoá. Cần lưu ý rằng sự tạo Nghiệp của Sở Hữu Tư (trong Tuệ Thuận Thứ và Tuệ Chuyển Tánh) là nhân để cho Quả tái sanh trong kiếp tới, do có sự hỗ trợ của ô nhiễm Tham.

Như được đề cập trong Chú giải và Bản Pāli, cần hiểu rằng khi Tuệ Vipassanā cho quả tái sanh thì Tuệ Vipassanā đó có hạt giống của cả Minh (vijjā) và Hạnh (caraa). Còn nếu Tuệ Vipassanā không cho quả tái sanh, lúc đó, nó chỉ có hạt giống Minh (vijjā) mà không có hạt giống Hạnh (caraa).

Các đạo sĩ ngoại đạo không thể chứng ngộ Đạo – Quả – Niết-bàn là do họ thiếu các ba-la-mật – là hạt giống của Minh (vijjā) và Hạnh (caraa). Do đó, chính hạt giống Minh (vijjā) và Hạnh (caraa) là Pháp Nguyện, dẫn đến Tuệ Giác Ngộ Giải Thoát đã mong ước. Những Pháp ba-la-mật này được gọi là Đại Thiện nguyện và các Pháp này cần phải được phát triển đến viên mãn – nếu các đệ tử muốn chứng ngộ Niết-bàn. Trong quá trình nỗ lực đạt được mục đích ấy, chắc chắn cần phải luôn duy trì một ý chí, khát vọng cực kỳ mãnh liệt, để làm viên mãn Thiện Nguyện trên. Vì vậy rõ ràng cần phải có hai điều kiện là:

  1. Phát Đại Thiện Nguyện (Adhikāra) để đạt tới Tuệ Giác ngộ Giải thoát.
  2. Luôn nuôi dưỡng một ý chí, khao khát cực kỳ mạnh mẽ nhằm thành tựu Thiện Nguyện trên (ApA.1.158).

Nói cách khác để gieo trồng và phát triển hạt giống Minh (vijjā) và Hạnh (caraa), trên thực tế chính là phải phát triển, tích lũy và thực hành viên mãn Bát Chánh Đạo. Để thành tựu điều này, cần phải tu tập hành trì ngay từ các kiếp quá khứ – thuộc thời kỳ Giáo Pháp của các Đức Phật quá khứ, hoặc trong các kiếp quá khứ – thuộc thời kỳ Giáo Pháp Đức Phật hiện tại, giống như trường hợp Du sĩ Saccaka đã phát triển các Ba-la-mật của mình. Tiếp tục ngay trong thời kỳ Giáo Pháp Đức Phật hiện tại, cũng cần thiết phải tiếp tục thực hành Bát Chánh Đạo – bằng cách tu tập phát triển Tam vô lậu học là Giới- Định – Tuệ – cho đến lúc chứng đắc Đạo và Quả. Thời gian cần thiết để thành tựu các ba-la-mật là:

  1. Đối với một vị Thượng thủ Thanh Văn: suốt một a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp
  2. Đối với một vị Đại Thanh Văn: trong suốt một trăm ngàn đại kiếp
  3. Đối với một vị Thường Thanh Văn: không có một thời hạn nhất định cho đến lúc viên mãn các ba-la-mật.

Ngài Ledi Sayadaw cũng dạy rằng qua kinh nghiệm thành tựu của Du sĩ Saccaka cũng như các vị thánh Đệ tử khác, các ba-la-mật đầy đủ Minh (vijjā) và Hạnh (caraa), cần thiết để thành tựu Đạo – Quả – Niết-bàn có thể được làm viên mãn chỉ trong vài kiếp.

  1. Vậy điều kiện lý tưởng thứ nhất cần có trong kiếp sống này để đạt được Đạo – Quả – Niết-bàn là phải thành tựu được hạt giống Minh Sát Minh, để có thể hiểu thấu suốt Khổ đế và Tập đế, dưới ánh sáng của tam tướng Vô thường, Khổ, Vô ngã. Đây chính là quả của các ba-la-mật đã được gieo trồng từ nhiều đời kiếp trong quá khứ.
  2. Điều kiện lý tưởng thứ nhì là phải đạt được hạt giống Minh (vijjā) là Danh sắc Phân định Trí và Duyên xác định Trí.
  3. Điều kiện lý tướng thứ ba là có được Danh sắc Phân định Trí.

Và giờ đây, việc phấn đấu đạt Đạo – Quả – Niết-bàn nhờ tu tập Bát Chánh Đạo được hiểu là phải thực hành đúng theo những gì các bậc Thánh đã làm. Bằng cách đó, nếu một người tu tập với Nguyện lực và khao khát mãnh liệt nhất để đạt tới Đạo – Quả – Niết-bàn – thì chính là họ đang nỗ lực tinh tấn, xứng đáng để trở thành một người Thừa Tự Pháp.

Một Trích Đoạn Trong Kinh Hữu Học.

- Trong tám Minh (vijjā) và mười lăm Hạnh (caraa), điều giải thích ở trên đã nhấn mạnh về tầm quan trọng Tuệ Vipassanā. Để một bậc Thường Thanh Văn có thể đạt được Đạo- Quả – Niết-bàn thì điều kiện tiên quyết trong tám Minh (vijjā) là phải có các Tuệ Vipassanā. Nếu như vị đó có cả các Minh khác thì càng tốt, nhưng nếu trường hợp không có các Minh khác thì cũng không có vấn đề gì cho một bậc Thường Thanh Văn để chứng ngộ được Đạo – Quả – Niết-bàn. Một đoạn trích từ Kinh Hữu Học trong Kinh Trung Bộ đã xác nhận điều trên (M. 2.19-20) và nói rằng các Thánh Đệ tử Phật là những người:

1. Viên mãn về Giới.

2. Luôn luôn thu thúc lục căn.

3. Thực hành tiết độ trong ăn uống.

4. Luôn tỉnh thức, miên mật tu tập, ngủ ít và dành nhiều thời gian cho Giáo Pháp.

5-11: Viên mãn bảy Hạnh Pháp của một người có đức hạnh.

12-15: Có khả năng đắc bốn tầng thiền sắc giới là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền dễ dàng và bất cứ lúc nào muốn

Vì các bậc Thánh Đệ tử đã thành tựu mười lăm Hạnh Pháp (caraa), có thể nói họ đã tròn đầy Phạm Hạnh của một bậc Thánh Hữu học đang trên con đường tiến tới giải thoát viên mãn. Giống như một quả trứng không thể bị hư hoại, Tuệ Vipassanā không thể bị ô nhiễm, vì vậy nó có thể đâm thủng màn vô minh (avijjā), có khả năng liễu ngộ Tứ Thánh Đế, và do đó xứng đáng đạt tới trạng thái vô song của quả vị A-la-hán, của Niết-bàn tối thượng (M. 2.19-20).

Hai Câu Hỏi
  1. Bài kinh trên được thuyết giảng vì sự lợi lạc của dòng dõi hoàng tộc Thích Ca đứng đầu là hoàng tử Mahānāma. Nó được thuyết bởi Tôn giả Ānanda khi Ngài đã đắc Quả Thánh Dự Lưu và đang trên con đường tiến tới giải thoát viên mãn. Ngài đã có được Trí Tuệ và kinh nghiệm thực chứng của một bậc Thánh Hữu học (sekha). Cho nên bài Pháp của Ngài không thể bị coi nhẹ, tuy bài Pháp này đã không trực tiếp được Đức Phật thuyết giảng. Đây là bài kinh mà chính Đức Phật đã xác nhận ở cuối bài kinh bằng cách thốt lên câu “Sādhu”, và với những câu khen ngợi sau:

Sādhu sādhu Ānanda, sādhu kho tva Ānanda Kapilavatthāvana sakyāna sekha paipada akāsi

Có nghĩa là:

Lành thay, lành thay Ānanda! Thật lành thay, này Ānanda. Con đã thuyết giảng rất hay cho các hoàng tử và công chúa của xứ Kapilavathu về Giới Hạnh và cách hành trì cần thiết, để trở thành một bậc Hữu học, một người đang trên con đường tiến tới giải thoát viên mãn.

  1. Có một câu hỏi khác là tại sao nói rằng chỉ cần thành tựu Tuệ Vipassanā đã là viên mãn mười lăm Hạnh Pháp? Cần hiểu rằng Tuệ Vipassanā có trong bảy phẩm hạnh của người có giới hạnh, mà bảy phẩm hạnh này cũng nằm trong mười lăm Hạnh (caraa). Vì vậy, năng lực thực hành và thành tựu viên mãn mười lăm Hạnh (caraa) cùng với Tuệ Vipassanā, có thể giúp trở thành một bậc “Hữu học” (sekha), người đang trên con đường tiến tới giải thoát viên mãn.
Tu Tập Hạnh Bố Thí (Dāna)

- Trong quá trình các bậc Thanh Văn phát triển và thành tựu viên mãn các ba-la-mật, vượt qua được bờ bên kia của sinh tử là Niết-bàn, họ cũng đã phát triển ba-la-mật bố thí, một trong mười lăm hạt giống Hạnh (caraa) dẫn đến việc trở thành một bậc Hữu học (sekha). Đến đây là đủ đối với việc giải thích về các ba-la-mật. Chúng ta sẽ tiếp tục những giải thích trong chú giải về bài kinh Thừa Tự Pháp.

Phần cuối của Kinh Thừa Tự Pháp

Năng Lực Của Bố Thí Ba-la-mật.

Các Đệ tử của Đức Phật đã gieo trồng, phát triển hạt giống Minh (vijjā) và Hạnh (caraa) trong các kiếp quá khứ. Do năng lực Ba-la-mật Bố thí có trong Minh (vijjā) và Hạnh (caraa), họ đã tràn ngập tài vật cúng dường.

Và khi vô số các tài vật được cúng dường đến Đức Phật cũng như đến toàn thể Tăng đoàn cùng lúc như mưa đổ xuống nhiều không kể xiết. Các Tỳ-kheo dần trở nên quá chú tâm đến tứ vật dụng. Họ bắt đầu nỗ lực tích trữ ngày một nhiều hơn. Sau buổi trưa và suốt buổi tối, khi thí chủ đến cúng dường mật ong, kẹo đường và các tứ sự khác, các vị Tỳ-kheo này đã đánh cồng và la lớn “Xin hãy cúng dường đến thầy tế độ của chúng tôi Xin hãy cúng dường đến thầy giáo thọ của chúng tôi” và những việc thế này đã diễn ra ngay cả lúc có mặt Đức Thế Tôn. Và do đó, với ý nghĩ là “Những hành xử này hoàn toàn không thích hợp và không đúng đắn chút nào trong Giáo Pháp” cho nên Đức Phật đã cân nhắc:

“Nếu tuyên bố rằng ‘Các vật dụng là hoàn toàn không có lợi cho với các Tỳ-kheo’, thì điều không đúng, thay vào đó Đức Phật đã đặt ra Giới luật trong trường hợp nào được cho phép chấp nhận hoặc cấm nhận tài vật. Đối với những Cận sự nam/Cận sự nữ, hàng cư sĩ, tứ vật dụng là điều cần thiết cho họ nỗ lực thực hành con đường thánh thiện như các Tỳ-kheo. Không sống nhờ vào tứ vật dụng, không thề thực hành đúng theo Giới đức cần có ở một vị Tỳ-kheo. Vì thế, Ta, Đức Thế Tôn sẽ thuyết giảng một bài Pháp về phương cách hành xử đúng đắn (những Pháp thuộc Siêu thế) để có thể trở thành những người Thừa tự Pháp. Đối với những người có phẩm hạnh đang ước nguyện hành trì miên mật theo con đường Tam vô lậu học (Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā)), bài Pháp này đóng vai trò giống như một chiếc gương soi rọi toàn thân, được đặt ở ngay cổng vào thành phố nhờ đó mà những Cận sự nam, Cận sự nữ, Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni có thể phát hiện ra những lỗi lầm và thiếu sót của mình được phản chiếu trong đó. Do đó, họ sẽ tắm rửa sạch sẽ và tô điểm mình bằng thứ trang sức của Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā), được thực hành tinh tấn và miên mật. Điều này luôn quán chiếu trong tâm, những người có phẩm hạnh sẽ có thể tránh không trở thành kẻ thừa tự tài vật, mà trở thành người thừa tự chín Pháp Siêu thế; do đó, họ sẽ có khả năng rút ngắn tiến trình khổ đau của sinh, già, bệnh, chết trong những kiếp sống tới.”. Đó là điều Đức Thế Tôn đã cân nhắc.

Vì lý do và bối cảnh trên mà Ngài đã thuyết bài kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta). Chúng ta hãy cùng xem bài kinh này:

Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) (M.1.15-19)

Một thời, Đức Thế Tôn ở Xá-vệ (Savatthi), tại Kỳ-đà Lâm (Jetavana), vườn ông Cấp-cô-độc (Anāthapiṇḍika). Khi tại chỗ ấy Thế Tôn triệu tập các vị Tỳ-kheo và thuyết

Này các Tỳ-kheo, hãy là những kẻ Thừa tự Pháp của ta, chứ đừng là những kẻ thừa tự tài vật”.

Chú Giải Giải Thích

- Ở đây đối với Pháp, có hai loại: Pháp Bất biến (Nippariyāya dhamma) tức Pháp không còn phân biệt, đối đãi, so sánh và Pháp biến đổi (Pariyāya dhamma). Và tương tự đối với tài vật (āmisa) cũng có hai loại.

- Pháp bất biến (Nippariyāya dhamma) là chín Pháp Siêu Thế gồm bốn Đạo, bốn Quả và Niết-bàn là Pháp Chân Đế. Những Pháp này không còn sự phân biệt, đối đãi, so sánh.

- Tương tự, việc tu tập Bố thí, Giới, thiền Chỉ và Quán và các Pháp thiện khác để giải thoát luân hồi sanh tử sẽ dẫn các Tỳ-kheo đến trạng thái bất tử của Niết-bàn thuộc về Pháp biến đổi (Pariyāya dhamma).

Đức Phật khuyến khích các Tỳ-kheo hành trì với ước nguyện là Thừa tự của cả hai loại Pháp này.

* Tứ vật dụng thuộc Tài vật bất biến (Nippariyāya āmisa) vì không còn nghi ngờ gì nữa nó là thiết yếu.

* Cũng vậy tu tập Bố thí, Trì Giới, Tham Thiền và các thiện pháp khác nhằm được tái sanh trong cõi người, cõi Chư Thiên hay Phạm Thiên, tất cả những cõi này vẫn còn trong vòng luân hồi cho nên nó vẫn thuộc về Tài vật biến đổi (Pariyāya āmisa).

- Về mặt tài vật, Đức Phật khuyến khích rằng các Tỳ-kheo không nên thừa tự cả hai loại tài vật này. (MA. 1.92)

- Về mặt Pháp, Đức Phật, sở hữu cả hai loại là Pháp bất biến (Nippariyāya dhamma) và Pháp biến đổi (Pariyāya dhamma). Nó chỉ thực sự đúng theo những lời dạy, hướng dẫn và giáo huấn của Đức Phật – khi mà các đệ tử được ban cho cơ hội duy nhất để học theo cách tu tập của các bậc Thánh, dẫn đến Đạo – Quả – Niết-bàn. Cũng chính vì họ đã thực hành như vậy mà họ đã chứng ngộ Đạo – Quả – Niết-bàn.

Đại Đức Ānanda có lần nói với Bà La Môn Gaṇaka Mogallāna:

“Này Bà La Môn, sự thực là từ lúc kết thúc thời kỳ Giáo Pháp của Đức Phật Ca-diếp cho tới lúc có Giáo Pháp của Đức Phật Gotama, không có bất cứ vị đệ tử nào có thể thấy và biết rõ con đường dẫn tới Niết-bàn”. Cho nên Đức Phật thuyết giảng để chỉ cho đệ tử thấy cách hành trì cao thượng đạt tới Niết-bàn. Cho nên, họ đã đi đến chỗ chứng ngộ các Pháp thuộc Thánh Đạo và trở nên thuần thục, có Trí Tuệ trong việc thực hành miên mật các Pháp này. Hiện tại bây giờ, trong thời kỳ Giáo Pháp hiện tại, có những người đã thực hành miên mật đúng theo lời dạy này và đã thành tựu viên mãn các Pháp thuộc Thánh Đạo (Pháp Siêu Thế).

Cũng vậy trong bài kinh Mật Hoàn (Madupiṇḍika Sutta (M. 1.157)), Trưởng lão Đại-ca-chiên-diên đã dạy các Tỳ-kheo là:

Đúng vậy, thưa các Đại Đức, Đức Phật biết những điều cần biết, thấy những điều cần thấy. Ngài đã thấy với ­Tuệ nhãn. Ngài thành tựu được Thắng Trí (Trí Tuệ tối thượng). Ngài đã hoàn toàn giác ngộ Giáo Pháp. Ngài đã thành tựu Đạo dẫn tới Tăng Thượng Trí. Ngài xiển dương Tứ Thánh Đế nhằm làm thấm nhuần những lời giảng dạy ý nghĩa này trong tâm các đệ tử của mình. Bằng lòng Đại Bi, Ngài hướng dẫn họ đi theo con đường của các bậc Thánh, dẫn đến trạng thái Bất Tử Niết-bàn. Đức Phật là chủ nhân duy nhất của Giáo Pháp – giống như các Đức Phật quá khứ đi trước, Ngài thuyết giảng về con đường của các bậc Thánh dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn“.

- Cũng theo bài Kinh trên, Pháp Bất biến và Pháp biến đổi là tài sản cá nhân mà Đức Phật sở hữu. Các đệ tử đã nhận thức rõ điều này chỉ khi Đức Phật nói bài Pháp và lời Giáo huấn này. Họ có cơ hội nhận thức này – khi được chỉ cho thấy sự thật là: “Trạng thái Bất tử của Niết-bàn chỉ có thể thành tựu được bằng nguyện ước giải thoát khỏi khổ đau trong vòng luân hồi – nếu người đó bố thí, trì Giới (tuân thủ tám giới), cúng dường hương hoa và nhang đèn, nghe giảng Pháp, dạy Pháp, chứng đắc các tầng Thiền và đặc biệt là khi Thiền Vipassanā được thực hành một cách có hệ thống“. Đây chính là lý do tại sao Pháp biến đổi cũng được gọi là tài sản cá nhân của Đức Phật.

Tương tự như thế, các tứ vật dụng hay còn gọi là Tài vật Bất biến (Nippariyāya āmisa) cũng gọi là tài sản cá nhân của Đức Thế Tôn. Chính do Đức Phật cho phép mà các vị Tỳ-kheo mới được nhận những loại y áo được cúng dường.

Trong kinh ‘Thiên Đại Phẩm’ (Luật Tạng), Đức Phật tuyên bố:

Ta cho phép các vị mặc những y được cúng dường bởi Phật tử. Còn những vị nào muốn mặc y phấn tảo thì ta cho phép cứ việc làm như vậy. Vị nào muốn nhận y từ các vị Phật tử, thì cũng có thể làm như thế. Còn riêng ta, ta sẽ luôn cảm thấy biết ơn và hài lòng với bất cứ những gì mà ta có được, dù tốt hay xấu’’

* Vật Thực

Trong suốt một thời gian dài trước khi Đức Phật cho phép, các Tỳ-kheo đã không được thưởng thức đồ ăn ngon. Họ phải sống nhờ vào đồ cúng dường có được khi đi bộ khất thực từng nhà một. Khi ở thành Vương Xá (Rājagaha), Đức Phật đã nói với các Tỳ-kheo:

“Này các Tỳ-kheo. Bằng cách này, Ta cho phép chia sẻ những thức ăn cúng dường đến Tăng đoàn, những vật thực mà Tăng Đoàn có ý định cúng dường, vật thực do thí chủ thỉnh mời cúng dường, đồ ăn thừa đã được vứt bỏ, vật thực được cúng dường vào sáng ngày sau lễ Bố-tát (nửa tháng một lần tụng lại Giới bổn). Ta cho phép năm loại cúng dường vật thực đến Tăng đoàn. Và chỉ sau khi Đức Phật đồng ý như vậy thì các Tỳ-kheo mới được dùng đồ ăn ngon mà thôi.

* Trú Xứ

Cũng vậy, Đức Phật cho phép các Tỳ-kheo được sử dụng những chỗ ở sau để nương thân. Trước khi Đức Phật ra luật này, các Tỳ-kheo phải trú trong các thung lũng, dưới các phần đất lộ thiên và các tán cây. Nhưng một lần nọ, Đức Phật tuyên bố:

Này các Tỳ-kheo, từ nay trở đi ta cho phép sử dụng năm loại hang động: Đó là cốc có mái đôi, cốc có một mái, cốc có mái tầng hay cốc không có mái, hay hang động là nơi các Tỳ-kheo được phép sử dụng”.

* Dược Phẩm

- Tương tự, trước khi có luật này, các Tỳ-kheo phải tự làm thuốc và phần lớn chỉ nhờ vào một loại thuốc được làm từ trái cây trộn với nước tiểu bò. Tuy nhiên sau đó Đức Phật tuyên bố “Bằng cách này, ta cho phép sử dụng năm loại sau: bơ đặc, bơ tươi, dầu mè, mật ong, nước đường để làm thuốc”. Và sau đó cũng rất nhiều các loại thuốc khác dần dần được Đức Phật chấp thuận vì lợi ích về sức khoẻ của các Tỳ-kheo. Do đó có thể thấy rằng tất cả tứ vật dụng gọi là tài vật bất biến cũng được gọi là tài sản cá nhân của Đức Phật.

Về tài vật biến đổi như các thiện Nghiệp còn mục đích hướng đến việc kéo dài tái sanh trong luân hồi cũng là tài sản cá nhân của Đức Phật. Đúng vậy, trong các bài kinh hay những lời giáo huấn của Đức Thế Tôn, loài người và chư thiên đã được học là những ai muốn được hưởng sự an lạc trong cõi Chư Thiên và Phạm Thiên đều phải thực hành bố thí, trì giới và đắc các tầng thiền. Miên mật hành trì ba việc trên sẽ dẫn đến tái sanh trong cõi người, cõi trời và Phạm thiên.

Theo định nghĩa trên,

  • Pháp Bất Biến được hiểu là Đạo – Quả – Niết-bàn.
  • Pháp Biến Đổi là các thiện Nghiệp liên quan đến sự giải thoát luân hồi sanh tử.
  • Tài vật Bất Biến là tứ vật dụng.
  • Tài vật Biến đổi là các thiện Nghiệp vẫn còn liên quan đến mục đích duy trì các kiếp tái sanh luân hồi.

Tất cả bốn loại này đều là tài sản cá nhân của Đức Phật. Vì thế, để nhấn mạnh về việc sở hữu hai loại Pháp và Tài vật nói trên, Đức Phật dạy là:

Này các Tỳ-kheo, hãy là những kẻ Thừa tự Pháp của ta, chứ đừng là những kẻ thừa tự tài vật”.

Giải thích

- “Cả hai loại Pháp: Pháp và Tài vật đều thuộc về Ta – Đức Thế Tôn. Hãy trở thành người thừa tự Pháp của ta. Đừng trở thành kẻ thừa tự tài vật thuộc về ta. Hãy chia sẻ và hưởng gia tài Pháp chứ đừng chia sẻ và hưởng tài vật (āmisa)”.

Một lần dưới thời của Đức Thế Tôn, có một Tỳ-kheo đã tốn hết thời gian của mình chỉ để cố gắng tìm cầu Tứ vật dụng. Tất nhiên vị ấy đã gác sang một bên nhiệm vụ chính của mình là tham thiền và hành trì đúng Giới Hạnh nhằm thoát khỏi dục lạc thế gian. Loại người này chỉ trú trong Giáo Pháp nhằm thừa tự tài vật của Đức Phật mà thôi, và họ được gọi là kẻ thừa tự tài vật (āmisadāyada). Đức Phật đã nhấn mạnh với các Tỳ-kheo cố gắng đừng trở thành những loại người này.

Nhưng một Tỳ-kheo khác, người đã sống cực kỳ tri túc về Tứ vật dụng được cho phép bởi Đức Phật và luôn thực hành sự quán tưởng sâu sắc về việc làm sao có thể ít sống phụ thuộc vào người khác nhất. Vị ấy cũng hành trì Tam vô lậu hoặc Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā) của các bậc Thánh nhân. Vị ấy sống:

  1. Tri túc, biết đủ với Tứ vật dụng (1) y, (2) vật thực), (3) chỗ ở, (4) dược phẩm có được.
  2. Luôn sống thanh thản, tự tại thực hành Thiền chỉ và quán (Vipassanā)

Những điều này được gọi là truyền thống của bậc Thánh (ariyavasa). Những ai sống và luôn giữ được tâm như vậy, người đó được gọi là Thừa tự Pháp (dhammadāyāda). Các Tỳ-kheo được cảnh tỉnh mạnh mẽ để nỗ lực hết sức mình, trở thành một bậc Thánh Thừa tự Pháp.

Nhưng cũng có Tỳ-kheo có thể khởi lên hoài nghi là “Có phải Đức Phật dạy chúng ta như vậy vì Ngài không muốn chúng ta nhận quà cúng dường không?”. Và về sau, cũng có thể có những Tỳ-kheo nghi ngờ như vậy. Đức Thế Tôn vì muốn họ nhận thức ra là Ngài muốn họ được dồi dào những vật phẩm thực sự có giá trị, nên đã giảng một bài Pháp gồm nhiều đoạn.

Đức Phật Có Tác Ý Luôn Quan Tâm Tới Các Tỳ-Kheo Với Lòng Cảm Thông, Trắc Ẩn.

Tại sao đệ tử của ta phải Thừa tự Pháp chứ không thừa tự tài vật (āmisa)?” Trong con tim và tâm ý của ta, điều trước tiên là luôn luôn quan tâm và thương tưởng đến các đệ tử của mình”.

Chú giải đã giải thích về đoạn kinh trên như sau:

- “Tâm ta luôn tràn ngập các suy nghĩ và tác ý là quan tâm chăm sóc đến lợi ích và những điều tốt đẹp cho các đệ tử. Bằng cách nào để các đệ tử có thể trở thành người Thừa tự Pháp chứ không thừa tự tài vật (āmisa)?”

Đã lâu lắm rồi, từ thời Đức Phật Ca-diếp, đã có những Tỳ-kheo giống như vị Kapila – những người chỉ thích hưởng thụ vật chất (āmisa) và đã phạm rất nhiều Giới và trở thành một kẻ đồi bại. Có vô số các Tỳ-kheo, Tu nữ, Tỳ-kheo-ni đã bị đọa thành ngạ quỷ. Tâm chính tham khao khát tài vật của họ đã thiêu rụi thành tro tất cả hàng núi y áo và ngọn lửa tham này ngùn ngụt cháy trong bốn khổ cảnh (Ngạ quỷ, Địa ngục, Súc sanh, A-tu-la). Đức Phật đã nhìn thấy rõ những dạng người Đạo Đức giả phản trắc không xứng danh được gọi là Tỳ-kheo, giống như Đề-bà-đạt-đa dưới thời của Ngài. Mặt khác, Ngài cũng thấy rõ những vị Tỳ-kheo Giới đức như Đại Đức Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Kassapa và các Thánh Đệ tử khác, những người chỉ quan tâm đến Giáo Pháp và luôn đầy đủ phẩm chất của Tứ Tuệ Phân tích và các Tăng Thượng Trí. Vì thấy rõ và biết rõ tất cả điều trên, Đức Thế Tôn luôn mong đệ tử của Ngài hãy viên mãn các phạm hạnh của một bậc Tỳ-kheo, để có thể tránh đi xuống bốn đường ác đạo, chính vì vậy Ngài dạy rằng “hãy là những kẻ Thừa tự Pháp của ta, chứ đừng là những kẻ thừa tự tài vật (āmisa)”.

Hơn thế nữa, trong tứ chúng đồng tu là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Cận sự nam và Cận sự nữ, bất cứ ai chỉ quan tâm đến Tứ vật dụng và thiếu các phẩm chất của Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā), sẽ trở nên mê mờ và u tối, được ví như một đồng tiền giả, hay giống như một đống tro tàn nguội lạnh. Cho nên trong trường hợp của một bậc Thánh, người không màng vật chất mà chỉ an trú trong Pháp. Họ tỏa sáng giữa tứ chúng với phẩm chất cao quý của Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā). Lực thu hút mãnh liệt từ những phẩm hạnh cao quí này khiến các Ngài trở nên vô úy (không sợ hãi) như sư tử, chế ngự và quy phục tất cả những người xung quanh. Đây là lí do tại sao Đức Phật giáo huấn hãy thành người Thừa tự Pháp, không phải thừa tự tài vật (āmisa). Lời giảng dạy đầy lòng từ bi của Đức Phật đối với các đệ tử xuất phát từ lòng quan tâm vô lượng mà Ngài luôn dành cho họ. Cũng chính vì lòng mong ước nhân từ, Ngài mong họ nuôi dưỡng và nhận lãnh được những loại tặng phẩm có giá trị và thánh thiện hơn nhiều so với tài vật. Vì thế tiếp sau lời dạy, Đức Phật đã nói thêm một bài Pháp về những sự chê cười, trách cứ có thể sẽ xảy ra, nếu không có những lời giảng dạy trên của Ngài (MA. 1.95.).

Những hạng người bị chê trách

Đức Phật nói “Này các Tỳ-kheo, nếu người ta nói đệ tử của ta chỉ sống trong Giáo Pháp như những kẻ thừa tự tài vật (āmisa), không phải những kẻ thừa tự Pháp (Dhamma), đó là họ đang trách cứ chúng ta. Và điều đó cũng giống như đang chê trách chính vị thầy – là ta, Đức Phật” (M.1.15.)

Những lời này Đức Phật nói với các Tỷ-kheo vì muốn giảm nhẹ đi sự việc. Thực ra Ngài có ý là:

Này các Tỳ-kheo, nếu các ngươi coi trọng vật chất (āmisa) với thái độ lố lăng, sai lầm, thì những người Trí và các bậc giới hạnh sẽ quở trách rằng: Tại sao mà một bậc Toàn Giác lại không thể ngăn ngừa đệ tử của Ngài trở thành thừa tự tài vật (āmisa) thay vì thừa tự Pháp (Dhamma)?

Và đến lúc họ bất chợt bắt gặp những người tu mà chẳng giống chút nào với bậc chân tu. Thời họ sẽ trách cứ bằng những câu hỏi kỳ cục kiểu như:

Bạn đồng tu của những người này là ai?”, “Ai là thầy của những học trò này?

Giống như cha mẹ của những đứa con vô Đạo Đức bị người đời khiển trách về cách cư xử sai trái của đứa con này, với lời lẽ khinh bỉ: “Đây là con cái nhà nào vậy?

Cũng thế họ sẽ hỏi ta, Đức Phật, là:

Tại sao mà một bậc Toàn Giác lại không có khả năng ngăn ngừa đệ tử mình trở thành một kẻ thừa tự tài vật?

Do đó mà Đức Phật giảng một bài Pháp giải thích về những hậu quả không thể tránh khỏi nếu Ngài không dạy dỗ các đệ tử của mình. Để giải thích rõ về những lợi lạc từ những lời giáo huấn trên, còn nói thêm một bài Pháp sau.

Những Vị Tỳ-Kheo Đáng Được Tuyên Dương

Này các Tỳ-kheo, thật đáng khen nếu các Ngươi là những người thừa tự Pháp của ta chứ không thừa tự tài vật. Các đệ tử Phật sống trong Pháp để thừa tự Pháp chứ không để thừa tự tài vật.

Ta – Đức Phật, cũng có thể được người khác khiển trách và ca ngợi. Do đó, ta luôn nhắc nhở các ngươi. Hãy thừa tự Pháp, đừng thừa tự tài vật. Chính từ lòng quan tâm chân thành và lòng từ bi, thương xót đối với các Tỷ-kheo mà ta sách tấn họ như vậy.

Khi người ta thấy các vị Tỳ-kheo trẻ hành trì đúng theo lời Phật dạy như trong Chú giải và các bản dịch Pāli, họ sẽ hỏi như sau:

Bạn đồng tu của những người này là ai?Ai là thầy của những học trò này?”

Và khi đó họ được trả lời là:

Họ là đệ tử của vị Trưởng lão này hay vị Đại Trưởng lão kia”

Thì những người này sẽ hoan hỷ ngợi khen như sau:

Học trò của Ngài thực sự đã trung thành dâng hiến thân mạng mình cho vị thầy – người đã có năng lực giáo huấn và rèn luyện miên mật cho những học trò này.”. Theo cách này mà vị thầy không bị khiển trách.

Tương tự vậy, này các Tỳ-kheo, bởi các ngươi đã thừa tự Pháp chứ không thừa tự tài vật và đã chân chính quan sát và thực hành nghiêm ngặt từng điều nhỏ nhặt nhất trong Giới luật của các bậc Thánh như những Giới đức trong các Kinh – “Nālaka”, “Con đường mau chóng”, “Nguyệt Dụ”, “Ngưu Giác Lâm Đại Kinh”, “Kinh huấn luyện ngựa”, “Kinh Đại Không”. Bởi các ngươi hài lòng, vui thích trong việc thực hành Thiền chỉ và Quán, đến mức hành thiền là máu thịt của mình, đó là bằng chứng cho thấy các ngươi là những đệ tử chân chính (những người không tầm cầu Tứ vật dụng), mà an trú và hưởng được lợi ích thật sự từ Giáo Pháp, giống như mặt trăng đã thoát ra khỏi mây đen. Do vậy, ta – Đức Phật, sẽ không còn bị quở trách nữa. Khi họ hỏi: “Những vị này là đệ tử của ai vậy?”. Và được trả lời rằng: “Họ là đệ tử Đức Phật Gotama”. Thì những người khác sẽ ca ngợi: “Bậc Chánh Biến Tri, tự giác ngộ – Bậc Thế Gian Giải Tối Thượng đúng đắn, thành công, các vị đệ tử của mình, những ai có Đạo Đức, thực sự có năng lực để không thừa tự tài vật mà chỉ thừa tự Pháp.”. Bằng cách này ta, Ta, Đức Phật không còn bị chê trách nữa.

Tiếp theo lời dạy trên, Ngài đã giảng dạy kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta) khen ngợi những ai hành trì đầy đủ và nghiêm khắc đúng theo Giới luật để trở thành người thừa tự Pháp.

Hai Vị Tỳ-kheo

(Trích Kinh Thừa Tự Pháp)

Này các Tỳ-kheo, ở đây một thời ta ăn đã xong, thoả mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thấy thoả thích, vừa ý, và còn lại đồ ăn thừa của ta đáng được quăng bỏ”. Khi ấy có hai vị Tỳ-kheo đến, đói lả và kiệt sức. Ta có thể nói với hai vị ấy: Nếu các ngươi muốn, hãy ăn đi. Nếu các ngươi không muốn ăn ta sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, ta sẽ bỏ xuống nước chỗ không có chúng sanh trong ấy.”

Rồi vị Tỳ-kheo thứ nhất nghĩ như sau: “Nay Thế Tôn đã ăn xong, thoả mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thoả thích, vừa ý, và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn đáng được quăng bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy. Nhưng Thế Tôn có dạy như sau: “này các Tỷ-kheo, hãy là kẻ thừa tự Pháp của Ta, đừng là kẻ thừa tự tài vật. Đây là loại tài vật, món đồ ăn này. Ta hãy không ăn loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày hôm nay, đói lả và kiệt sức.”. Rồi vị ấy không ăn loại đồ ăn này và trải qua đêm ngày ấy, đói lả và kiệt sức“.

Với ý nghĩ như vậy và trong tình trạng bị đói lả nhưng vị ấy đã dành cả đêm để hành thiền Chỉ và Quán, hoàn thành nhiệm vụ của Tỳ-kheo chân chính.

Vị này đã bỏ cơ hội ăn đồ thừa trong bát Đức Phật – điều mà Chư Thiên và các chúng sinh khác rất thích được đặc ân này. Thay vào đó, với tác ý thánh thiện cao quí nhất, muốn trở thành người Thừa tự Pháp, vị này học theo gương sáng của một người trong lời giáo huấn của Đức Phật là:

Dù đầu của anh ta đang bị bốc cháy, thay vì dùng nước để dập tắt ngọn lửa trên đầu, vị này đã chọn giải pháp là tập trung cao độ, hành thiền Chỉ và Quán trong chính giây phút đó, nhằm dập tắt ngọn lửa thân kiến (sakkāya diṭṭhi) trong tâm mình”

Cho nên khi quán tưởng ví dụ trên, vị Tỳ-kheo này chịu đói lả và kiệt sức, dành suốt cả thời gian còn lại trong ngày và đêm hôm đó để nỗ lực hành thiền.

(Trích Kinh Thừa Tự Pháp)

Vị Tỳ Kheo, thứ hai nghĩ như sau: “Thế Tôn ăn đã xong, thoả mãn, đầy đủ, đã chấm dứt buổi ăn, tự cảm thoả thích, vừa ý, và đây là đồ ăn tàn thực của Thế Tôn đáng được quăng bỏ. Nếu chúng ta không ăn, Thế Tôn sẽ quăng đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay sẽ bỏ xuống chỗ nước không có chúng sanh trong ấy. Vậy ta hãy ăn loại đồ ăn này, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm nay như vậy.” Rồi vị ấy ăn loại đồ ăn ấy, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy”

Chú giải giải thích về đoạn kinh trên như sau:

Vị Tỳ-kheo thứ hai này nghĩ là “Việc này là đúng đắn khi ăn đồ thừa của Đức Phật, vì nó giúp giải quyết cơn đói và kiệt sức, và ta có thể dùng thời gian còn lại hành thiền và tu tập Bát Chánh Đạo – điều được trông ở Tăng đoàn”. Hơn nữa vị ấy cũng thấy rằng: Khó mà có thể tìm thấy thuốc men trong khu rừng đầy thú hoang này, còn việc đi khất thực trong làng nơi chứa đầy các ô nhiễm của ngũ dục, quả là một điều đáng chán. Đây là đồ ăn chưa bị hư, còn thừa lại trong bát Đức Phật, đồ ăn này trong sạch giống như hoàng tử mới ra đời trong dòng tộc quyền quí. Nó không thuộc năm loại đồ ăn mà Đức Phật cấm sử dụng, đó là:

  1. Vật thực được cúng dường bởi những kẻ đồi bại, phá Giới, không biết tàm quí (alajjī) – những kẻ không biết sợ khi làm điều tội lỗi, trái Giới luật.
  2. Vật thực được chuẩn bị và dâng cúng từ một vị tu nữ, người đã kiếm bằng cách dối trá, trái Giới luật như: tự phô trương và giả vờ đã đắc thiền, đắc Đạo-Quả hoặc nói dối là đã viên mãn về Giới, hay nói có bằng cấp học vị cao.
  3. Đồ ăn thuộc về một vị sư mà đang chịu đựng cơn đói dày vò. Cần cảm thông trắc ẩn trước nỗi khổ mà vị đó phải chịu.
  4. Nếu các bạn đồng tu hay các Tỷ-kheo nhỏ hạ hơn trong chùa đang phải chịu cảnh đói khát thì Tỳ-kheo có trách nhiệm chia phần ăn không nên nhận phần ăn đó vì quan tâm và lòng từ bi đối với những người khác.
  5. Trường hợp vị Tỳ-kheo có đồ ăn còn lưỡng lự và tiếc khi phải cúng dường thì người được cúng không được nhận đồ ăn ấy.

Vậy đồ thừa của Phật không thuộc năm loại thức ăn trên.

  1. Đây là đồ ăn từ Đức Phật – Bậc Tối Thượng nhất trong số những người có lương tri và phẩm hạnh; người luôn có tàm, quí để không bao giờ phạm Giới hoặc luôn cảm thấy hạnh phúc trong việc giữ các Giới trong sạch đã phát triển được.
  2. Đó là thức ăn Đức Phật đã có được bằng các phương tiện trong sạch và chân chính.
  3. Thức ăn này do chính Đức Phật có và chia sớt cho người khác.
  4. Không có ai khác đang phải chịu đói dày vò hay muốn ăn đồ thừa đó.
  5. Không có một ai trên thế gian này có hào phóng và lòng từ bi hơn Đức Phật.

Vì lý do trên mà vị Tỳ-kheo thứ hai này dùng đồ ăn thừa của Phật và dành thời gian còn lại hành thiền.

Vậy cả hai vị đều quyết định thực hành đúng theo cách thức tu tập Bát Chánh Đạo cần có ở các vị Tỳ-kheo. Vị thứ nhất quyết định không ăn vật thực mà mình có quyền hưởng, còn vị thứ hai thì ăn cũng loại thức ăn đó mà vị ấy có quyền hưởng. Về mặt thức ăn mà nói, nó cùng một loại dưới cùng một điều kiện và sự khác nhau duy nhất là chỉ là một người ăn, còn một người thì không.

Để giảng giải về sự khác nhau này một cách rõ ràng, Đức Phật đã dạy tiếp:

(Trích Kinh Thừa Tự Pháp)

Này các Tỷ-kheo, dầu cho vị Tỷ-kheo này, sau khi ăn loại đồ ăn ấy, trừ bỏ đói lả và kiệt sức, và trải qua đêm ngày hôm ấy như vậy, nhưng đối với Ta, vị Tỷ-kheo đầu tiên đáng được kính nể hơn và đáng được tán thán hơn. Vì sao vậy? Vì như vậy sẽ đưa đến cho vị Tỷ-kheo ấy, trong một thời gian lâu ngày, thiểu dục (appicchatāya), tri túc (santuṭṭhiyā), khổ hạnh (sallekhāya), dễ nuôi dưỡng (subharatāya), có thể tinh cần thực hành thiền Chỉ – Quán để đoạn trừ các nghiệp bất thiện và tích lũy nghiệp thiện (vīriyārambhāya). Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy là kẻ thừa tự Pháp của ta, đừng là kẻ thừa tự tài vật.”

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Nói xong, Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi vào tịnh xá.

  • Chú giải viết:

Dù vị Tỳ-kheo thứ hai có ăn đồ thừa của Đức Phật, điều này không thể bị chê trách. Vị Tỳ-kheo ấy cũng vẫn xứng đáng được ca ngợi, vì sau khi ăn xong, vị đó đã nỗ lực tinh tấn thực hành Bát Chánh Đạo, nhiệm vụ cần có ở các Tỳ-kheo. Tuy nhiên, mặc dù vị Tỳ-kheo thứ hai lấy phần ăn xứng đáng thuộc về mình, dù cho vị ấy tiếp tục thực hành Bát Thánh Đạo, nhưng chính vị Tỳ-kheo đầu tiên là người dám bỏ cả cơ hội thoát khỏi đói lả mà chỉ tinh tấn theo đuổi con đường Bát Thánh Đạo là điều mong đợi ở các Tỳ-kheo – rõ ràng vị này có Giới đức thánh thiện hơn. Vậy trong hai vị đệ tử thì vị thứ nhất là người dũng cảm hơn, có Trí Tuệ hơn đáng được tuyên dương và kính trọng hơn.

* Lý Do Tuyên Dương.

- Theo lý do Đức Phật giải thích là vì bỏ qua cơ hội để dùng phần ăn thừa mà chỉ tập trung thời gian và công sức vào hành thiền, vị Tỳ-kheo đó có thể tăng cường khả năng thiểu dục, tri túc, có thể giải thoát khỏi các ô nhiễm và dễ nuôi dưỡng, có thể tinh tấn bền bỉ hành thiền Chỉ – Quán với nỗ lực cao nhất. Tại sao lại như vậy? Câu trả lời là:

Trí Tuệ = Móc Sắt Luyện Voi.

- Nếu có lúc nào đó trong tương lai, những cảm xúc hay các tâm bất thiện khởi lên trong tâm vị Tỳ-kheo như:

(1) Quá dục (Atricchā): Tham muốn quá độ, thèm những tài vật mà người khác được cúng dường

(2) Ác dục (Pāpicchā): Mong muốn đen tối muốn có được đồ cúng dường bằng cách ba hoa khoác lác về thành tựu mà mình chưa hề đạt được.

(3) Đại dục (Mahicchā): Tham vô độ muốn sở hữu vô số tài vật và thậm chí, chỉ xài những đồ tốt mà thôi, không hài lòng với đồ xấu.

Thì lúc ấy, Trí Tuệ (được ví như một móc sắt để huấn luyện voi) có được từ cơ hội vượt lên cơn đói khát và kiệt sức để tinh tấn hành thiền trong quá khứ, sẽ nhắc nhở vị đó:

Này Tỳ-kheo, làm sao mà ta lại có thể để những tham muốn đen tối như vậy len lỏi trong tâm sau khi đã thành công trong việc chế ngự sự thèm muốn khi đã từng không ăn đồ thừa của Đức Phật?

Đây là cách mà vị ấy bị chiếc móc của sự quán tưởng (paccavekkhanā) đâm vào. Tương tự như vậy, nếu khi vị ấy không biết đủ, không vừa lòng với những gì được cúng dường, nếu ô nhiễm trong vị ấy có lúc tăng lên chứ không giảm xuống, thì chính lưỡi móc của Trí Tuệ sẽ giúp vị ấy ra khỏi tình trạng đó.

* Người không dễ nuôi dưỡng
  • Trong thời kỳ Giáo Pháp của Đức Phật Gotama có những Tỳ-kheo tham lam, ham muốn nhiều và chỉ thích chọn đồ tốt, không có thí chủ nào có thể cúng dường liên tục cho họ, những dạng người như vậy, những Tỳ-kheo đó lại cũng không có khả năng tự chu cấp cho mình Tứ vật dụng. Họ đúng là những người cực kỳ khó nuôi / hộ trì. Ngược lại có những Tỳ-kheo lại rất dễ nuôi dưỡng và các thí chủ dễ dàng hộ độ.
  • Một vị sư nọ, khi nhận đươc đồ ăn chua, thì lại đi tìm đồ ngọt. Khi nhận được đồ dâng cúng từ nhà này vị đó lại đem bỏ sau nhà khác, và sau khi đi khắp làng theo kiểu này, cuối cùng chỉ mang về chiếc bát rỗng và về chùa ngủ. Vị ấy bị hành hạ vì đói và kiệt sức. Đồng thời vị đó cũng không tự chu cấp được cho chính mình. Vị ấy chẳng vừa lòng với những gì nhận được. Vì không vừa ý nên vị ấy đem đổ ngay cả những vật thực nhận được từ ngôi nhà cuối cùng trong làng. Không có gì để ăn nên đành phải quay về tay không và phải đi ngủ như thế.

Có một vị sư khác, mặc dù bát đã được chất đầy đủ loại đồ ăn ngon lành, vẫn lên mặt khó chịu và quát mắng các thí chủ “Các người cúng dường ta thức ăn kiểu này à?”. Sau đó vị ấy đem phát hết cho các sadi và tu nữ. Khi thí chủ gặp phải loại Tỳ-kheo này sẽ nói là “Đúng là vị sư không thể chịu đựng nổi! Không có cách nào chúng ta có thể chu cấp cho các vị sư kiểu này” và họ sẽ rời xa vị sư này.

* Người dễ nuôi dưỡng

Nhưng cũng có những vị Tỳ-kheo có để chấp nhận bất cứ loại thức ăn nào, ngon hay dở, vị ấy sẵn sàng chấp nhận và rất hài lòng, chẳng hề muốn nhiều hơn và sau đó quay về chùa ngay để miên mật hành thiền – điều được mong đợi ở các Tỳ-kheo chân chính. Các vị Tỳ-kheo như thế này có khả năng tự chu cấp.

Hoặc có những Tỳ-kheo rất hoan hỷ thọ nhận đồ dâng cúng dù ít hay nhiều, ngon hay dở, cao lương mỹ vị hay đồ bình dân. Và sau đó với một tâm hoan hỷ và sẵn lòng, vị đó ăn một phần đồ cúng dường trước mặt thí chủ, sau đó quay về chùa ngay để miên mật hành thiền. Các vị Tỳ-kheo như thế này được gọi là dễ nuôi dưỡng, được yêu mến và kính trọng bởi tất cả Phật tử, những người nguyện cúng dường để chăm sóc vị sư đó và xin thỉnh vị sư ấy về ở ngôi chùa do họ xây cất.

  • Vị Tỳ-kheo Đầu Tiên

Vị Tỳ-kheo đầu tiên người đã không ăn thức ăn thừa của Đức Phật – nếu sau này có lúc nào vị ấy trở thành người khó nuôi dưỡng hoặc không tự chu cấp được, thì lưỡi móc Trí Tuệ sẽ giúp vị đó kiểm lại tâm mình, bằng cách tự hỏi tại sao vị ấy lại có thể để những tâm bất thiện như vậy có cơ hội phát triển.

Hoặc nếu có lúc vị đó trở nên dễ nuôi, chịu sự mệt mỏi hay biếng nhác trong việc hành thiền thì lưỡi móc Trí Tuệ sẽ hỏi vị ấy “Đã có lần chính ta đói lả và kiệt sức, nhưng nhất định không ăn đồ ăn thừa của Đức Phật, để thời gian hành thiền. Vậy làm sao một người đã từng nỗ lực đến như vậy lại có thể trở nên dễ duôi như bây giờ? Bằng cách này, tâm vị đó được thúc đẩy để từ bỏ những Nghiệp bất thiện và tích thêm Nghiệp thiện có được từ việc hành thiền miên mật.”

Do đó, nhờ một lần đã có kinh nghiệm khống chế một cách mạnh mẽ được ham muốn của tham mà suốt trong vòng luân hồi (sasāra), vị ấy sẽ có khả năng giữ được những phẩm chất tốt sau:

  1. Thiểu dục
  2. Tri túc
  3. Thoát ra được ô nhiễm
  4. Dễ nuôi dưỡng
  5. Có khả năng tăng sự tinh tấn của mình trừ bỏ bất thiện tâm và tích lũy thiện tâm qua việc hành thiền Chỉ-Quán miên mật

* Mười Đề Tài Nên Bàn Luận

  1. Đề tài Thiểu dục (Appiccha-kathā)
  2. Đề tài Tri túc (Santuṭṭhi-kathā)
  3. Đề tài về Độc cư / ẩn cư / viễn ly (Paviveka-kathā)
  4. Đề tài Ẩn cư (Asasagga-kathā) (tách xa thân bằng, quyến thuộc, xa lìa ô nhiễm…)
  5. Đề tài ứng dụng sự tinh tấn trong hành thiền Chỉ và Quán (vīriyārambhāya-kathā)
  6. Đề tài Giới (Sīla-kathā)
  7. Đề tài Định (Samādhi-kathā)
  8. Đề tài các Tuệ Vipassanā và Tuệ Đạo (Paññā-kathā)
  9. Đề tài Tận diệt ô nhiễm (Vimutti-kathā) (Quả vị A-la-hán, Niết-bàn)

10.  Đề tài về Giải thoát Tri kiến Viên mãn (Vimuttiñānadassana-kathā)

Mười đề tài trên cần được tích cực bàn luận giữa các Tỳ-kheo. Ba trong số đề tài trên là (1) Thiểu dục (Appiccha-kathā), (2) Tri túc (Santuṭṭhi-kathā), (3) Tinh tấn (vīriyārambhāya-kathā) đã được trực tiếp thuyết giảng bởi Đức Thế Tôn trong kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadāyāda Sutta). Những đề tài còn lại được gom lại để thuyết giảng trong một bài kinh và đặt tên là các đề tài đoạn giảm (Sallekha – Kathā). Một bài được thuyết trong năm mươi Kinh Sau của Trung Bộ và Kinh Đại Không có một đoạn sau:

Này người hiền giả Ānanda, từ “Sallekha” có nghĩa là đoạn tận ô nhiễm bằng thực hành khổ hạnh. Nó thích hợp cho việc trừ bỏ các triền cái (nīvarana).

Chân lý được hiển lộ khi tận diệt được các triền cái (nīvarana) đã từng che phủ sự thật trong tâm. Quá trình vén bức màn này được gọi là hành thiền (thiền chỉ lẫn thiền quán). Nó dẫn dắt người ta nhận thức ra rằng để có thể giải thoát khỏi khổ đau và tham ái trong vòng luân hồi sinh tử, người đó cần phải có Trí Tuệ thấu suốt được Tứ Thánh Đế, để thành tựu A-la-hán Thánh Đạo Tuệ và chứng ngộ được trạng thái Vô Dư Niết-bàn. Và trên đây mười đề tài cần đuợc bàn luận (M. 3.155.).

Đức Phật cũng đã thuyết một bài Pháp về điều đó. Những Tỳ-kheo nào viên mãn được năm phẩm chất tốt như đã đề cập ở trên cũng có thể thành tựu được mười đề tài (kathā) nên bàn luận.

+ Đề Tài Về Độc Cư/Ẩn Cư/Viễn Ly

Cần thiết phải giảng thêm một chút về đề tài Viễn ly như sau. Có ba loại viễn ly:

  1. Viễn ly Thân (Kāyaviveka)
  2. Viễn ly Tâm (Cittaviveka)
  3. Viễn ly Sanh Y (Upadhiviveka)

1. Viễn ly Thân (Kāyaviveka): Thói quen sống cách ly, xa lìa khỏi thân bằng quyến thuộc, bạn bè nói chung, hay thói quen thích đi du lịch, ăn, ngủ…

2. Viễn ly Tâm (Cittaviveka): để thành tựu chín Pháp Siêu Thế, viễn ly Thân không thôi thì chưa đủ, nó rất cần thiết phải tiến hành những bước chuẩn bị để thực hành Thiền chỉ, với đề mục Kasiṇa nhằm đắc tám tầng thiền. Chính tám Thiền chứng này được gọi là viễn ly Tâm (Cittaviveka) – nó làm sạch tâm khỏi những ô nhiễm của năm triền cái.

3. Viễn ly Sanh y (Upadhiviveka): Xả ly không bám víu vào các kiếp tái sanh. Lại nữa, để thành tựu chín Pháp Siêu Thế, đắc tám tầng Thiền cũng vẫn chưa đủ. Việc đắc Thiền sẽ làm nền tảng cho Thiền Vipassanā, dẫn tới chứng ngộ hai Thánh Đế đầu tiên là Khổ Đế và Tập Đế. Các Pháp Hữu Vi (sakhāra) cần phải được thấu hiểu dưới ánh sáng của tam tướng là Vô thường, Khổ, Vô ngã cho đến khi đạt được quả A-la-hán. A-la-hán Thánh Quả – Niết-bàn được gọi là Viễn Ly Sanh y (Upadhiviveka).

Niết-bàn là sự Giải thoát khỏi Dục lạc thế gian (Kāmupadhi), khỏi tất cả các Phiền não (Kilesupadhi), khỏi tất cả các Pháp còn tạo Nghiệp (Abhisakhārupadhi) để cho quả là tái sinh trong vòng luân hồi sinh tử và giải thoát khỏi Ngũ Uẩn (Khandupadhi). Vì vậy, những Pháp thuộc Niết-bàn được gọi là Viễn Ly Sanh y (Upadhiviveka) bởi nó không còn bốn Sanh y (Upadhi) là: Dục sanh y (Kāmupadhi), Phiền não sanh y (Kilesupadhi), Thắng Hành sanh y (Abhisakhārupadhi) (các Pháp còn tạo Nghiệp) và Uẩn sanh y (Khandupadhi). Vị Tỷ-kheo luôn an lạc và hài lòng thực hành ba mức độ Viễn ly (viveka), sách tấn những người đến gặp vị đó để tán dương và ca ngợi lợi ích của ba Pháp Viễn Ly trên, vì hiểu rõ giá trị của nó. Sau khi bàn bạc xong về đề tài Viễn Ly, vị Tỷ-kheo để họ ra về và tiếp tục miên mật hành trì Thiền Định và Thiền Vipassana (Samatha và Vipassanā).

Những vấn đề còn lại trong mười đề tài trên cần được suy xét và hiểu rõ theo cách như vậy. Những ai có thể thực hành tất cả mười đề tài này sẽ thành tựu viên mãn Tam Vô Lậu Học Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā).

Trong mười đề tài trên thì (Kātha)

  • Thiểu dục (Appiccha-kathā), Tri túc (Santuṭṭhi-Kat), Ẩn cư (Asasagga-kathā), Trì Giới (Sīla-kathā) là thuộc về phần Tăng Thượng Giới Học (Adhi∙sīla-sikkhā)
  • Độc cư, viễn ly (paviveka-kathā), Tinh tấn (vīriyārambhāya-kathā), Thiền Định (Samādhi-kathā) thuộc về phần Tăng Thượng Định Học (Adhi∙citta-sikkhā)
  • Tuệ Vipassanā (Paññā-kathā) và Tuệ Đạo (Vimutti-kathā), Tri Kiến Giải Thoát Viên Mãn (Vimuttiñānadassana-kathā) về phần Tăng Thượng Tuệ Học (Adhi∙paññā-sikkhā).

Những ai có thể thực hành mười đề tài trên cho đến khi đạt được Quả vị A-la-hán là người có khả năng thành tựu Tam Vô Lậu Học.

Một Ví Dụ Thế Gian Để So Sánh

Những trận mưa như thác đổ rơi xuống các đỉnh núi và các vùng cao nguyên, rồi đổ xuống và lấp đầy các thung lũng và kênh mương. Sau đó đổ tiếp xuống hồ và đầm, tiếp tục chảy vào các con sông nhỏ và liên tục đổ ra những con sông lớn hơn. Nước từ các sông lớn đổ vào và lấp đầy biển cả vô tận.

Đó là cách được minh họa trong bài kinh Thừa tự Pháp, những vị Tỷ-kheo nào có đủ năm Phẩm chất tốt, cùng với việc thực hành mười đề tài nên bàn luận trên có thể đạt tới trạng thái bất tử, Niết-bàn. Đức Phật tuyên bố rằng Thừa tự Pháp (tức là thừa tự loại tài sản có giá trị lớn nhất và cao quí nhất) có thể thành tựu bởi các vị Thánh Đệ Tử của Ngài. Do đó, vị Tỷ-kheo đầu tiên đáng được ca ngợi, tuyên dương và tôn kính. Vị đó chính là Người Thừa tự Pháp xứng đáng, chứ không Thừa tự Tài vật.

Nguyện Ước Làm Hưng Thịnh Giáo Pháp.

Trước khi kết thúc bài kinh Pháp tự, Đức Phật đứng dậy và lui vào trong hương phòng của Ngài. Lý do đi nghỉ trước khi kết thúc bài Pháp là:

hoặc (1) Bởi Ngài muốn xiển dương cá nhân của một vị Đại Đệ Tử.

hoặc (2) Bởi Ngài muốn xiển dương Giáo Pháp

Đức Phật thường tôn trọng và khen ngợi các Thánh Đệ Tử của Ngài như Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Kaccāna hay Tôn giả Ānanda bằng cách tuyên bố:

Những vị Tỷ-kheo nào muốn biết thêm chi tiết trong các bài Pháp ngắn của ta hãy đến gặp ngài Ānanda hay Kaccāna. Những vị này sẽ giảng giải đúng đắn, thích hợp theo tư tưởng, suy nghĩ của Đức Thế Tôn. Sau đó người nghe sẽ đến ta và tham vấn thì ta sẽ nói với họ rằng: ‘Này các Tỷ-kheo, cả hai Tôn giả trên đã rất thiện xảo trong việc giảng Pháp. Giả sử các vị có đến Đức Thế Tôn để hỏi những điều ấy thì ta cũng sẽ trả lời y hệt như vậy’”.

Đó là cách mà Đức Phật ban tặng những lời khen ngợi cho các Đệ Tử của mình. Các vị Thánh Đệ Tử này sau đó sẽ giải thích cho các Tỷ-kheo về những vấn đề Nhân – Quả. Nhờ vấn Pháp các vị thầy đáng tôn kính, các Tỷ-kheo hứng khởi thực hành Tam Vô Lậu Học giải thoát khỏi luân hồi sanh tử. Nhằm mục đích xiển dương cá nhân các vị Đệ Tử mà Đức Phật rút lui vào hương phòng, không giải nốt bài Pháp.

Bỗng một ý nghĩ thoáng qua trong tâm khi Đức Thế Tôn đã vào nghỉ trong phòng (đây cũng được coi là một phần bài kinh). Đức Phật nghĩ như sau:

Khi ta vô trong hương phòng thì Xá-lợi-phất, vẫn còn ngồi giữa đại chúng, sẽ thay ta trình bày chi tiết việc khen ngợi những ai Thừa tự Pháp, không Thừa tự Tài vật. Nếu như một bài Pháp này cũng được thuyết giảng một cách đồng nhất và đầy nhiệt huyết bởi cả ta và Xá-lợi-phất, nó sẽ trở nên cực kỳ lợi lạc, có giá trị và đặc biệt. Nó có thể ví như một con thuyền được neo ở một bến đỗ thích hợp, rồi từ cảng đó, vào lúc mà có bốn dòng nước chảy xiết, con thuyền ấy vẫn có thể bẻ lái dễ dàng rẽ sóng, vào ra vùng nước yên ả, hay giống như một cỗ xe ngựa đẹp đẽ được kéo bởi bốn con ngựa chiến thượng hạng.

Xá-lợi-phất, người đang ngồi cùng đại thính chúng, sẽ triển khai chi tiết bài kinh này, giống như vị nguyên soái được nhà vua chính thức ủy quyền sẽ thi hành lệnh được vua ban ra ngay cả khi không có mặt vua tại đó vì Ngài đã rời khỏi ngai vàng để đi lên lầu trên của cung điện. Nếu bài Pháp được thuyết giảng và được đại chúng nghe đúng theo mục đích và ý nguyện của cả ta và Xá-lợi-phất, Pháp sẽ được tỏa sáng ánh sáng chói lòa rực rỡ”.

Đây là cách mà Đức Phật suy xét để xiển dương Giáo Pháp. Ngay khi nghĩ như vậy, dù đang ngồi trên cao thuyết Pháp, Đức Phật quyết định trong tâm như sau: “Ước cho thân ta hòa nhập làm một với Tâm ta”. Lý do cho việc biến hóa thân này là vì nếu Đức Thế Tôn xuất hiện và rời khỏi nơi thuyết Pháp bằng thân vật chất của Ngài, thì tất cả thính chúng cũng phải đứng lên và đi theo Đức Phật và nếu vậy khó có thể tập hợp đại chúng lại để tiếp tục bài Pháp. Vì vậy, Đức Phật đã dùng thần thông biến trong nháy mắt để vô nghỉ trong hương phòng.

Bài Pháp của Đại Đức Xá-lợi-phất

Không lâu sau khi Đức Phật đi khỏi, Tôn giả Đức Xá-lợi-phất bắt đầu giảng tiếp bài Pháp. Tóm tắt như sau:

Kính thưa đại chúng. Khi mà Đức Thế Tôn sống và thực hành Hạnh Viễn Ly Thân, Viễn Ly Tâm và Viễn Ly Sanh Y, thì tại sao các Đệ Tử của Ngài lại không tinh tấn hành trì theo các Hạnh Viễn Ly? Và tại sao họ lại phải noi theo Đức Phật để thực hành điều này?”

Đại Đức đã đưa ra hai câu hỏi trên cốt để mở đầu bài Pháp của mình. Dưới thời Đức Phật, những vị Tỷ-kheo đã có mười hay trên mười tuổi hạ được gọi là Thượng Tọa (Thera). Từ năm đến chín hạ được gọi là Trung Tọa (Majjhima). Dưới năm hạ được gọi là Tân Tỷ-kheo (Nava). Và bài Pháp đã được giảng trực tiếp cho tất cả các bậc Tỷ-kheo.

Những Người Không Tuân Thủ Ba Hạnh Viễn Ly Trên
  • Các vị Đệ Tử nào không noi theo Đức Phật để thực hành ba Hạnh Viễn Ly này bởi các lý do:

1/ Không từ bỏ các Bất Thiện Pháp mà Đức Phật dạy phải từ bỏ.

2/ Vì tiếp tục lo tích trữ thêm Tứ Vật dụng, họ đã bỏ rất ít thời gian cho việc thực hành Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā)

3/ Tăng trưởng năm triền cái và do đó chắc chắn dẫn đến các khổ cảnh. Họ không nỗ lực thực hành để giải thoát khỏi bốn Sanh Y, sự thực hành được coi là nhiệm vụ bắt buộc đối với Tỷ-kheo.

Này các quí vị, bậc Tỷ-kheo có thể là đối tượng khiển trách vì ba lý do sau:

  1. Các đệ tử không miên mật học theo lối sống Viễn Ly (viveka) của Đức Thế Tôn.
  2. Các vị không chịu từ bỏ những điều Đức Phật dạy phải từ bỏ.
  3. Các vị quên đi không thực hiện các nghĩa vụ bắt buộc đối với các Tỷ-kheo, họ hành xử vô trách nhiệm, không phấn đấu tu tập để chứng ngộ Niết-bàn.
  4. Hãy nhìn các bậc Thượng tọa Cao Hạ (vassa) kia. Họ không hề sống trong các tu viện nơi rừng sâu hay núi cao yên tĩnh hiền hòa. Họ chỉ quan tâm sao cho khỏi phải sống xa làng mạc, họ miệt mài trong việc vui vẻ giao du kết bạn. Họ không thực tập Hạnh Viễn Ly Thân, chẳng để ý tới Viễn Ly Tâm và viễn ly Sanh Y. Khó mà tưởng tượng được họ đã hành xử ra sao khi họ còn là Trung Tọa và Tân Tỷ-kheo. Vì vậy, họ đáng bị chê trách. Này các Tỷ-kheo, nếu các vị không hoàn thiện trong việc thực tập ba loại Viễn Ly này, thì các vị sẽ bị người ta khinh thường”. Đó là lời Tôn Giả Xá-lợi-phất.
  5. Này các Tỷ-kheo, mặc dù những vị trên có tuổi hạ cao, nhưng họ chưa hề gột rửa được ô nhiễm về Tham, Sân, Si như được Đức Phật chỉ dạy. Thậm chí họ không hề tịnh tâm được chút xíu nào khi ngồi thiền, dù chỉ là một lát. Làm sao có thể coi là họ đã hoàn thành thời kỳ Trung Tọa và Tân Tỷ-kheo? Họ sẽ bị chê trách, chê cười như vậy đó.
  6. Này các Tỷ-kheo, những vị Thượng Tọa này, mặc dù tuổi hạ cao, họ lại chẳng hề tri túc với những gì họ có. Họ chỉ quan tâm đến việc tô điểm cho tấm thân bất tịnh này với y bát và tứ vật dụng, tìm các trú xứ tiện nghi như chùa lớn và giường êm. Họ không hề thực hành Hạnh ẩn cư, Viễn Ly khỏi bốn Sanh Y bằng cách thực hành Bát Chánh Đạo để dẫn tới chứng ngộ Niết-bàn.”Làm sao mà những người này có thể từng là một Trung Tọa và Tân Tỷ-kheo theo đúng nghĩa?”. Đó là lý do họ bị chế giễu và nếu không khéo, các các vị rất có thể bị chê cười như vậy. “Làm sao những con người kiểu đó có thể trở thành một vị Đại Trưởng Lão?”. Những vị Trung Tọa và Tân Tỷ-kheo có thể sẽ nhận được những lời lên án như vậy. Đó là những gì Tôn giả Xá-lợi-phất căn dặn các Tỷ-kheo.
Bị Khiển Trách
Những Vị Noi Gương Thực Hành Ba Hạnh Viễn Ly

Này các Tỷ-kheo, Vị Thầy của tất cả loài người và loài trời, Đức Thế Tôn, đã sống với ba Hạnh Viễn Ly này. Do đó, tất cả các Đệ tử, dù ở bậc hạ (vassa) nào cũng noi gương thực hành miên mật ba Hạnh Viễn Ly trên.

  1. Họ từ bỏ những học thuyết mà Đức Phật cấm theo.
  2. Họ không sống thừa thãi trong Tứ Vật Dụng. Họ không quên lãng việc hành trì để thành tựu Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā).
  3. Họ đã diệt trừ được năm triền cái để không bị xuống bốn khổ cảnh. Họ đặt lên hàng đầu các cho các nhiệm vụ cần có ở một bậc Tỷ-kheo và tinh tấn nỗ lực chứng ngộ Niết-bàn để Viễn ly bốn Sanh Y.
  • Này các Tỷ-kheo, trong số những Đệ tử và những người có hành trì theo lời dạy Đức Phật, các Tỷ-kheo Thượng Tọa được khen ngợi do ba lý do sau:
  1. Họ noi theo Đức Phật, tinh tấn hành trì ba Hạnh Viễn Ly.
  2. Họ đã từ bỏ các ô nhiễm Tham (lobha), Sân (dosa), Si (moha) đúng theo lời Phật dạy.
  3. Họ không cố tích lũy tứ vật dụng, không lãng quên nhiệm vụ thực hành Giới (sīla), Định (samādhi), Tuệ (paññā). Họ hoàn toàn diệt trừ năm triền cái dẫn tới bốn khổ cảnh. Họ đã đặt ưu tiên cho các nhiệm vụ cần có ở một bậc Tỷ-kheo và tinh tấn để chứng ngộ Niết-bàn, giải thoát khỏi bốn sanh y.

(Tương tự như vậy với các Hạ tọa và Trung Tỷ-kheo)

Này các Tỷ-kheo, theo cách trên và phải đến mức độ như trên thì những đệ tử và những người theo Phật mới được gọi là noi gương Đức Phật thực hành ba Hạnh Viễn Ly.

Được Ca Ngợi
  1. Mặc dù các vị Tỷ-kheo này đã thuộc vào bậc Thượng tọa, cao hạ, họ vẫn chọn cách sống trong rừng sâu và vùng núi cao, bên ngoài những vùng có đông dân cư. Dù tuổi già sức yếu, đáng lẽ ra phải ở gần làng mạc, nhưng họ đã không chọn giải pháp này. Bởi vì họ hiểu rằng càng già yếu thì lại càng phải hết sức cố gắng thành tựu các Thiện Nghiệp và trừ diệt hết các bất Thiện Nghiệp. Như vậy, những thí chủ dâng cúng tứ vật dụng sẽ hoan hỷ và hào phóng. Không cần biết bậc Thượng Tọa này đã trải qua những giai đoạn Trung Tọa, Tân Tỳ-kheo thế nào, nhưng họ đã đi tới chỗ được khen ngợi tôn kính vô cùng vì đã nỗ lực trở thành một người Thừa tự Pháp. Họ được cả Đức Phật lẫn những Thánh nhân khác tán dương.
  2. Những vị Tỷ-kheo này đã theo đúng lời Đức Phật chỉ dẫn để tận diệt ô nhiễm Tham (lobha), Sân (dosa), Si (moha). Họ thực tập Hạnh Viễn Ly Tâm bằng cách Hành Thiền Chỉ (Samatha) đề mục Kasiṇa và nhờ thế đạt được tám tầng Thiền. Mặc dầu những vị Thượng tọa Tỷ-kheo này đã đến lứa tuổi cao nên ở cùng với các vị Tỷ-kheo khác để được giúp đỡ chăm sóc. Nhưng họ chọn giải pháp là vào cốc của mình để hành thiền ngay khi ăn xong và chỉ trở ra ngoài vào buổi tối. Cũng vậy, một khi đã quay lại cốc mình vào buổi tối để hành thiền, họ chỉ ra ngoài khi trời đã sáng. Bằng cách này, họ miên mật siêng năng thực tập các đề mục thiền Kasiṇa, chứng được các tầng thiền và chứng Đạo và Quả. Với những sự chứng đắc này, họ liễu ngộ Niết-bàn. Trong giai đoạn đầu thực tập Kasiṇa và Vipassanā, thỉnh thoảng các ô nhiễm vẫn khởi lên trong tâm, trong khoảng thời gian vị đó đắc định an trú trong các tầng Thiền, thì những ô nhiễm được tận diệt trong đúng khoảng thời gian đó mà thôi. Chỉ khi đạt Tuệ Thánh Đạo A-la-hán, các ô nhiễm mới hoàn toàn bị diệt tận gốc rễ không còn dư sót và đây là lúc giai đoạn Viễn Ly Tâm được thành tựu viên mãn. Bằng cách này và vì lý do thứ hai này những vị Thựợng Tọa sống trong Giáo Pháp (sāsanā) đề Thừa tự Pháp, xứng đáng được Phật và những vị Thánh ngợi khen.
  3. Khi tuổi cao sức yếu, những vị Tỷ-kheo này xứng đáng được những vật dụng tốt – như y được may bằng lụa hay các loại sợi mỏng, mềm mịn và thoải mái dễ chịu. Nhưng ngược lại, ngay cả trong khi Cao niên, Lạp Trưởng, họ cũng chỉ mặc y phấn tảo, hay may bằng vải vụn từ những y cũ rách. Họ nghiêm túc thực hành lời Phật dạy về tam vô lậu học Giới (Sīla), Định (Sāmadhi), Tuệ (Paññā) và an trú trong Giáo Pháp, thoát khỏi những chướng ngại và bất tịnh gây ra bởi năm triền cái và các ô nhiễm, thoát khỏi bốn sanh y và tập trung vào để thành tựu Quả vị. Đây là lý do thứ ba khiến họ được gọi là những người Thừa tự Pháp, xứng đáng được Đức Phật và các vị Thánh ngợi khen. (Tương tự đối với các bậc Tân và Trung Tỷ-kheo)

Để tóm tắt lại những gì trong đoạn trên, có tất cả chín lý do để chê trách những vị Tỷ-kheo gọi là những người Thừa tự Tài vật (āmisa), ba lý do đối với mỗi bậc Tỷ-kheo.

Tương tự có chín lý do để tuyên dương các vị Tỷ-kheo được gọi là những người Thừa tự Pháp.

Sau bài thuyết giảng về chín lý do khen ngợi và chín lý do chê trách, tức là mười tám lý do trên những đối tượng hoặc Thừa tự Pháp hoặc Thừa tự Tài vật, một bài Pháp được giảng thêm về các trạng thái tâm cần phải trừ diệt. Tóm tắt bài Pháp như sau:

16 Tùy Phiền Não Cần Diệt Trừ
  1. Tham (Lobha): ước mong bám víu và tham đắm dục lạc thuộc loài hữu tình, vô tình cũng như các cõi lạc (người, chư thiên, phạm thiên).
  2. Sân (Dosa): ước muốn hãm hại / hủy diệt người khác.
  3. Phẫn nộ (kodha): Ý muốn chiếm hữu một cách tức giận.
  4. Cột hận (Upanāha): có ý nghĩ đen tối hận thù.
  5. Bạc ơn (Mekkha)
  6. Kiêu mạn (Palāsa) (Về hơn thua địa vị xã hội, vật chất).
  7. Ganh tỵ (Issā): ganh tỵ với địa vị, thành công của người khác
  8. Bỏn xẻn (Macchera)
  9. Xảo trá (Māyā)

10.  Khoa trương (Sāheyya)

11.  Ngoan cố (Thambha): tánh khó dạy

12.  Đàn áp, bức hại người khác (Sārambha)

13.  Ngã mạn (Māna)

14.  Tăng thượng mạn (Atimāna)

15.  Mê đắm (Mada): say mê trong bất thiện

16.  Dễ duôi (Pamāda) trong việc hành trì Giới, bố thí, hành thiền và các pháp Nghiệp khác.

Những trạng thái tâm bất thiện trên không nên có được trong tâm vị Tỷ-kheo và nếu có cần phải được diệt trừ bởi bất cứ thành viên nào trong Tăng đoàn. Những trạng thái tâm bất thiện này sẽ dẫn tới chia rẽ Tăng đoàn, chia rẽ Ni đoàn, sự bất hòa giữa các Phật tử và trong loài người nói chung.

Trong số các bất thiện tâm trên, tham sẽ dẫn dắt các Tỷ-kheo đến chỗ Thừa tự tài vật (āmisa). Những vị Tỷ-kheo này sẽ bị áp đảo bởi tham ái và dính mắc vào vật chất, tài vật. Nếu các tài vật (āmisa) không đạt được, lập tức sân (dosa) sinh khởi. Nói cách khác, nếu tài vật không có được, lo lắng và đau khổ sẽ thế chỗ của tham muốn và dính mắc. Thậm chí ngay cả khi tài vật được thỏa mãn thì sự dính mắc và bám víu (chấp thủ) vào tài vật này sẽ gia tăng. Khi mà không có ai cúng dường, hoặc đồ cúng dường không được vừa ý thì sân hận và bất toại nguyện đối với Thí chủ cúng dường hoặc đối với Tứ vật dụng được cúng dường lập tức sanh khởi. Sự ám ảnh phải tìm kiếm cho ra Tứ vật dụng đến từ lòng tham (tahā). Việc tầm cầu luôn sanh khởi đối với Tứ vật dụng cũng như tất cả những loại vật chất khác.

Vì vậy, chín loại phiền não có gốc rễ từ tâm tham (lobha) sẽ hình thành như sau:

  1. Tầm cầu (Pariyesana): mải mê tầm cầu tài vật do bị tham ám ảnh.
  2. Lợi đắc (Lābha): phải kiếm/ có bằng được những vật chất này, do sự tầm cầu thúc đẩy.
  3. Phân chia (Vinicchaya): sau khi kiếm được tài vật, bận rộn tâm trí trong việc chia phần sao cho hợp lý (phần này để cho mình, phần này cho người khác, phần để dành, phần để tiêu…)
  4. Dục ác (Chandarāga): phấn khích, mải mê đối với việc tính toán trên.
  5. Tham lam (Ajjhosāna): mê đắm và dính mắc đối với tài vật trên mạnh mẽ đến nổi không dám sử dụng nó vì sợ mất, hư hao.
  6. Chấp giữ (Pariggaha): khư khư ôm giữ làm của mình vì sợ bị mất của.
  7. Bỏn xẻn (Macchariya): keo kiệt, tủn mủn do sự khư khư ôm giữ quá đáng sanh ra.
  8. Giữ của (Ārakkha): luôn canh phòng, bảo vệ những của cải vì keo kiệt, bủn xỉn.
  9. Vì chấp thủ dính mắc vào sở hữu tài vật nên nghĩ ra đủ các điều xấu xa tội lỗi, tranh chấp, vu khống, phỉ báng, dối trá….

Hơn thế, những suy nghĩ đen tối, tội lỗi như ghen tức với chùa chiền khác, tặng phẩm, thí chủ hay Thiện tín; nói chung là tài vật hay các thành tựu Pháp học hay Pháp hành của người khác. Những loại tật đố này cũng là thành tố của tâm sân (dosa).

Những ô nhiễm kể trên là các Pháp bất thiện dẫn dắt Tỷ-kheo tới chỗ chỉ Thừa tự tài vật (āmisa), chứ không thừa tự Giáo Pháp (Dhamma). Chính vì vậy, Đại Đức Xá-lợi-phất có tiếp nối đoạn kinh sau:

Này các Tỷ-kheo,

  1. Tham là bất thiện tâm,
  2. Sân là bất thiện tâm (cũng vậy là các ô nhiễm khác Kodha, Upanāha, Mekkha, Palāsa, Issā, Macchera, Māyā, Sāheyya, Thambha, Sārambha, Māna, Atimāna, Mada,
  3. Pamāda cũng là bất thiện tâm.

Tất cả mười sáu tùy phiền não này chỉ có thể tận diệt bằng cách thực hành con đường Trung đạo – Đó chính là Bát Chánh Đạo – Con đường Trung đạo này sẽ có thể:

  1. Tác thành mắt (Cakkhukaraī): khiến một người thành tựu con mắt Trí Tuệ để hiểu sâu sắc Tứ Thánh Đế.
  2. Tác thành trí (Ñānakaraī): giúp một người có Trí Tuệ Minh Sát để có thể liễu ngộ sâu sắc Tứ Thánh Đế.
  3. Đưa đến an tịnh (Upasamāya): tức là giúp hành giả dập tắt lửa phiền não (mười sáu tùy phiền não)
  4. Đưa đến thắng trí (Abhiññaya): giúp hành giả có Trí Tuệ (như các Tuệ Vipassanā), nhằm liễu ngộ Tứ Thánh Đế.
  5. Đưa đến giác ngộ (Sambhodāya): bằng cách giúp đưa đến Tuệ Đạo của một bậc Thánh, để thấy và hiểu thấu suốt Tứ Thánh Đế.
  6. Đưa đến Niết-bàn (Nibbānāya): bằng cách giúp hành giả chứng ngộ Niết-bàn.
Con Đường Trung Đạo.

Con đường Trung đạo là Bát Chánh Đạo – Pháp thanh tịnh và Pháp của các bậc Thánh. Thế nào là tám? – Đó là:

  1. Chánh Kiến Samādiṭṭhi = Thấy và biết Tứ Diệu Đế.
  2. Chánh Tư duy Sammāsakappa = đặt tâm muốn thấy và biết Tứ Thánh Đế.
  3. Chánh Ngữ Sammāvācā = cố ý tránh nói dối, không nói lời chia rẽ, lời thô ác và tránh nói không đúng thời hay không đúng chỗ.
  4. Chánh Nghiệp Sammākammanta = cố ý tránh hành động, hành xử bất thiện, chỉ làm những điều thiện (ví dụ như: Hành thiền chỉ và quán)
  5. Chánh Mạng Sammā-ājīva = cố ý tránh các cách kiếm sống tà vạy, sai trái.
  6. Chánh Tinh tấn Sammāvayāma = nỗ lực tận diệt các bất thiện Nghiệp bằng cách gieo trồng thiện Nghiệp (như hành thiền Chỉ – Quán miên mật.)
  7. Chánh Niệm Sammāsati = luôn giữ niệm đúng đắn trên các đề mục thiền Chỉ – Quán.
  8. Chánh Định Sammāsamādhi

Này các Tỷ-kheo – Đó là con đường Trung Đạo”. Đức Thế Tôn nói và kết thúc bài kinh Thừa Tự Pháp.

Để có thể trở thành những đệ tử thừa tự Pháp, không thừa tự tài vật, chúng ta phải thực hành Bát Chánh Đạo một cách miên mật và có hệ thống từ thấp đến cao, để cuối cùng có thể thấy và biết thấu đáo Tứ Diệu Đế. Nhờ chứng ngộ được A-la-hán Thánh Đạo Tuệ và A-la-hán Thánh Quả, lúc đó mỗi người có thể tuyên bố rằng:

Khīā jāti, vusita brahmacariya, kata karaīya, nāpara itthattāyā’’ti abbhaññāsi. Aññataro ca panāyasmā bhāradvājo arahata ahosīti. (S. 2.56.)

Ta đã thành tựu viên mãn việc thực hành Bát Chánh Đạo – điều cần phải được tu tập hành trì trong Giáo Pháp (sāsanā), Ta đã làm xong những việc cần làm trong thời kỳ có Giáo Pháp, liên quan đến Đạo Giải thoát”.

Như đã đề cập trong kinh Vô ngã Tướng và các bài kinh khác, mỗi người bắt buộc phải hoàn thiện những việc cần làm trong thời kỳ có Giáo Pháp, để trở thành một người như vậy, vị ấy cần phải thành tựu được hai điều kiện tiên quyết sau:

  1. Tinh tấn thực hành tu tập, với quyết tâm mạnh mẽ chứng Đạo – Quả – Niết-bàn, luôn khao khát muốn gieo trồng thiện Nghiệp gồm cả Minh (vijjā) và Hạnh (caraa) bằng cách tu tập Bát Chánh Đạo trong kiếp cuối cùng thuộc thời kỳ Giáo Pháp của Đức Phật trong hiện tại.
  2. Luôn duy trì trong tâm khát vọng mãnh liệt và cháy bỏng để thành tựu Chánh Trí bằng việc tu tập Bát Chánh Đạo.

Hai điều kiện tiên quyết này cần được hoàn thiện sao cho Ba-la-mật trong yếu tố số một được củng cố và hỗ trợ bởi Ba-la-mật trong yếu tố hai ở trên, để cuối cùng thành tựu được Chánh trí.

Khát Vọng Mãnh Liệt Trong Tâm.

Có người hỏi rằng để viên mãn Chánh trí, nó thật sự cần thiết không, ngoài việc hoàn thiện các Ba-la-mật gồm Minh (vijjā) và Hạnh (caraa), còn cần phát triển một tâm khao khát mãnh liệt nữa không?

Ở đây, chúng ta biết bốn yếu tố trong “Tứ như ý túc” (iddhipāda) để khát vọng thành tựu Chánh Trí này trở thành hiện thực:

  1. Dục (chanda): Khát vọng (nguyện ước) mãnh liệt thành tựu Chánh trí.
  2. Cần (vīriya): nỗ lực không ngừng nghỉ thành tựu Chánh trí
  3. Tâm (citta): Tâm mạnh mẽ, sâu sắc hướng tới thành tựu Chánh trí
  4. Tuệ (vīmasa): Trí Tuệ thấu hiểu và sắc bén về tam tướng Khổ, Vô thường. Vô ngã.

Trong quá trình tu tập nỗ lực để làm tròn đầy các Ba-la-mật cần thiết (nhằm thành tựu Chánh Trí), nếu hành giả ưu tiên lấy một trong bốn yếu tố trên để thực hành, thì lập tức ba yếu tố còn lại sẽ theo sau.

Ví dụ: nếu yếu tố một là “Dục” (Chanda) đi đầu thì ba yếu tố Cần (Vīriya), Tâm (Citta), Tuệ (Vīmasa) còn lại sẽ xuất hiện sau. Cũng vậy, nếu Cần như ý túc đi đầu thì ba yếu tố còn lại là Dục, Tâm, Tuệ như ý túc sẽ theo sau. Nhưng cần chú ý rằng trong một số trường hợp “Dục như ý túc” được đặt ưu tiên lên hàng đầu, nhưng ngược lại trong trường hợp khác, nó lại chỉ là yếu tố đi theo sau.

Sau khi đã hoàn thiện các nhiệm vụ cần làm trong cả Bát Chánh Đạo Hiệp Thế và Bát Chánh Đạo Siêu Thế, các bậc A-la-hán thường nhập và an trú trong các trạng thái sau. bởi họ mong ước mạnh mẽ hưởng được hiện tại lạc trú trước khi họ hoàn toàn giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử (Đại bát Niết-bàn). Những trạng thái mà các bậc Thánh an trú là:

  1. Nhập các tầng thiền Định.
  2. Nhập (A-la-hán Quả) Arahattaphala
  3. Nhập Diệt Thọ Tưởng Định Nirodhaphala
  4. Hành thiền Vipassanā vipassanā bhāvanā
  5. Thẩm sát và nghiên cứu các Trí Tuệ Đặc Biệt, năng lực Thần thông.

Và thỉnh thoảng họ dành thời gian của mình vào việc:

  1. Giảng Pháp nhằm sách tấn những người khác giác ngộ về Tứ Thánh Đế, điều mà các vị Thánh đã thành tựu viên mãn.
  2. Liên tục tổ chức triệu tập họp Tăng Đoàn với mục đích duy trì kéo dài thêm thời kỳ Giáo Pháp của Đức Phật.
  3. Hoằng Pháp (xiển dương kinh kệ của Đức Phật).

Bằng cách này, các bậc A-la-hán đã hoàn thành, thực hiện những điều cần làm – bằng cách đặt lên hàng đầu một trong bốn yếu tố của Tứ như ý túc trên. Trong tất cả các bậc A-la-hán, những vị Thánh đã thực hiện hoàn thành viên mãn các việc cần làm, thì Tôn giả Xá-lợi-phất trong kinh Thừa Tự Pháp được coi là bậc A-la-hán mẫu mực trong Giáo Pháp. Ngài thực sự luôn giữ đúng chuẩn mực trong tất cả mọi trường hợp, dù những người khác có hành xử đúng hay sai. Một trong các phương pháp tu tập mà Tôn giả Xá-lợi-phất thường thực hành đã được mô tả trong bài kinh “Sư Tử Hống “(thuộc Tăng Chi Bộ Kinh). Bài kinh mô tả trạng thái tâm Thánh thiện của bậc Thượng Trí với một nhân cách đáng tôn kính ở Tôn giả Xá-lợi-phất, mà tất cả chúng ta đều nên noi theo. Trích đoạn kinh:

Thưa Đức Thế Tôn ví như mặt đất vĩ đại, người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ bất tịnh, quăng phẩn uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và máu.

Ví như mặt đất không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán (không vui không buồn) với những thứ quăng ném đó. Cũng vậy, thưa Đức Thế Tôn, tâm con an trú trong Giáo Pháp với tâm rộng mở, không thiên vị, công bằng, thánh thiện, tâm vô lượng, không có kẻ thù (không có bất thiện tâm là kẻ thù bên trong, không có tâm thù oán, dối nghịch người khác là kẻ thù bên ngoài) và không ganh ghét, không đau buồn, khổ não, giữ được tâm bình thản giống như đất vậy.”

KINH SƯ TỬ HỐNG

Bài kinh đã ra đời trong hoàn cảnh như sau:

Như vậy tôi nghe: Một thời, Sau Khi Đức Thế Tôn trải qua mùa an cư ở thành Xá Vệ, tại Kỳ Đà Lâm, do ông Cấp Cô Độc xây cất và cúng dường. Thực tế là cho tới cuối mùa an cư, Đức Phật không đi bất cứ nơi nào ngoài Tịnh Xá. Lúc đó, Tôn giả Xá-lợi-phất nghĩ rằng “Nếu Đức Thế Tôn muốn đi du hành trong quốc độ, thì đây là thời điểm thích hợp. Cho nên ta sẽ gợi ý để Thế Tôn đi lúc này”. Với ý nghĩ đó, Tôn giả Xá-lợi-phất tập hợp những vị Tăng khác quanh mình và đến chỗ Đức Phật.

Sau khi đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Xá-lợi-phất bạch Đức Thế Tôn:

- Bạch Đức Thế Tôn, con đã sống an cư trong mùa mưa tại thành Xá Vệ. Bạch Thế Tôn, nay con muốn ra đi du hành trong quốc độ.

Đức Thế Tôn cho phép và nói rằng:

- Này Xá-lợi-phất, nay Thầy hãy làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời.

Thế là Tôn giả Xá-lợi-phất rời khỏi Tinh Xá với một đoàn tùy tùng gồm nhiều Tăng và những ngừơi khác cùng đi.

Đúng lúc ấy, một sự giận dữ vô cớ diễn ra trong đầu của một vị sư. Khi thấy Tôn giả Xá-lợi-phất rời khỏi Tinh Xá với một đoàn tùy tùng rất đông, vị ấy nghĩ: “Những vị Tăng này lại đi cùng Tôn giả Xá-lợi-phất mà bỏ Đức Phật ở lại. Ta phải dừng chuyến du hành này lại mới được”

Có một lý do rất nhỏ nhặt khiến vị Sư muốn phá vỡ chuyến du hành này là: Sau khi đảnh lễ Đức Phật, Tôn giả Xá-lợi-phất đứng dậy và tiến về phía Đức Thế Tôn. Khi đi ngang qua vị Sư này, vô tình, viền áo ngài Xá-lợi-phất chạm nhẹ vào người vị Sư. Một số người nói rằng sự xúc chạm ấy tạo nên do luồng gió nhẹ trong lúc Tôn giả di chuyển, chứ không hề do cố ý. Chỉ vì một chuyện nhỏ vô tình này mà vị sư nảy sinh ghen ghét. Thêm vào đó, khi thấy Tôn giả Xá-lợi-phất rời khỏi Tinh Xá với một đoàn tùy tùng rất đông đã khiến vị ấy tức tối và muốn dừng chuyến du hành lại.

Ngoài ra, còn có một lý do khác được giải thích trong Chú giải Kinh Pháp Cú như sau:

Sau khi đảnh lễ Đức Phật, Đại Trưởng lão Xá-lợi-phất và đoàn Tăng tháp tùng bắt đầu rời khỏi Tinh Xá Kỳ Đà lâm. Nhưng lúc đó, ngoài đoàn Tăng tháp tùng Ngài còn có thêm những vị sư khác cũng đòi đi theo Ngài, để giải tán những vị sư không có phận sự đi theo này, Tôn giả Xá-lợi-phất đã đọc tên họ từng người mà Ngài biết mặt.

Trong số đó chỉ có duy nhất một vị sư mà Ngài không nhớ họ tên. Vị Sư này chờ Ngài Xá-lợi-phất ban cho vinh dự là đọc đúng tên họ của mình để trở về, nhưng lúc ấy Ngài Xá-lợi-phất không thể nhớ ra tên họ của vị này, dù đây là người duy nhất trong cả hội chúng đông đảo như vậy. Với một ý nghĩ sai lầm là: “Tôn giả Xá-lợi-phất đã không tôn kính ta như các vị Tỷ-kheo khác”, vị sư này nảy sinh ác cảm với Ngài, cộng thêm chuyện là bị viền áo Ngài Xá-lợi-phất chạm vào người nên sự ghen ghét càng tăng lên.

Với tính thù vặt, vị ấy tính toán như sau: Vào lúc này, Tôn giả Xá-lợi-phất và đoàn tùy tùng chắc hẳn đã dời khỏi Tinh xá, ta đến gặp Đức Phật và dựng chuyện phóng đại như sau: “Thưa Đức Thế Tôn, Tôn giả Xá-lợi-phất, mặc dầu với cương vị là một Thượng thủ Thanh Văn, đã đánh mạnh vào tai con gần như điếc, mà không hề nói lời xin lỗi trước khi vị ấy đi.

Khi nghe thấy những lời buộc tội này, Đức Phật suy xét: “Nếu ta nói là Tôn giả Xá-lợi-phất không hề làm hại ông” thì lập tức vị đó trả đũa lại: “Đức Thế Tôn bênh Trưởng lão Xá-lợi-phất chứ không bênh con”.

Bằng cách nói như vậy, vị đó sẽ nghĩ sai lầm về ta. Nếu vị đó phạm phải sai lầm này, chắc chắn sẽ bị đọa xuống bốn khổ cảnh trong kiếp sau. Thấy rõ điều này, Đức Phật nghĩ nên triệu tập Tôn giả Xá-lợi-phất tới đối chất việc này. Do đó, Ngài bảo vị Tỳ-kheo này là:

- Này Tỳ-kheo, hãy nhân danh Ta, nói với Tôn giả Xá-lợi-phất: “Thưa Tôn giả, bậc Đạo Sư cho gọi Tôn giả.

- Thưa vâng, bạch Đức Thế Tôn.

Vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến Tôn giả Xá-lợi-phất, và nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:

- Thưa Hiền giả Xá-lợi-phất, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.

- Thưa vâng, này Hiền giả.

Tôn giả Xá-lợi-phất vâng đáp Tỷ-kheo ấy. Lúc bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên và Tôn giả Ānanda cầm chìa khóa, đi từ tinh xá này đến tinh xá khác nói rằng:

- Chư Tôn giả hãy đến! Chư Tôn giả hãy đến! Nay Tôn giả Xá-lợi-phất sẽ rống tiếng rống con sư tử trước mặt Thế Tôn.

Rồi Tôn giả Xá-lợi-phất đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên Thế Tôn, nói với Tôn giả Xá-lợi-phất đang ngồi xuống một bên:

- Ở đây, này Xá-lợi-phất, một đồng phạm hạnh có điều bất mãn với Thầy: “Bạch Thế Tôn, Tôn giả Xá-lợi-phất, mặc dầu với cương vị là một Thượng thủ Thanh Văn, đã đánh mạnh vào tai con gần như điếc, mà không hề nói lời xin lỗi trước khi vị ấy đi “.

“Thật vậy, bạch Thế Tôn, với ai không an trú niệm thân trên thân, người ấy, ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

  1. Ví như, bạch Thế Tôn, trên đất, người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ bất tịnh, quăng phẩn uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu; tuy vậy đất không lo âu, không xấu hổ, hay không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như đất, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
  2. Ví như, bạch Thế Tôn, trong nước người ta rửa đồ tịnh, rửa đồ bất tịnh, rửa sạch phẩn uế, rửa sạch nước tiểu, rửa sạch nước miếng, rửa sạch máu, rửa sạch mủ; tuy vậy nước không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như nước, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
  3. Ví như, bạch Thế Tôn, lửa đốt các đồ tịnh, đốt các đồ bất tịnh, đốt phẩn uế, đốt nước tiểu, đốt nước miếng, đốt mủ, đốt máu; tuy vậy lửa không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như lửa, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
  4. Ví như, bạch Thế Tôn, gió thổi các đồ tịnh, thổi các đồ bất tịnh, thổi phẩn uế, thổi nước tiểu, thổi nước miếng, thổi mủ, thổi máu; tuy vậy gió không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như gió, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
  5. Ví như, bạch Thế Tôn, một miếng vải lau chùi lau các đồ tịnh, lau các đồ bất tịnh, lau phẩn uế, lau nước tiểu, lau nước miếng, lau mủ, lau máu; tuy vậy miếng vải lau chùi không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như miếng vải lau chùi, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
  6. Ví như, bạch Thế Tôn, con trai của một người Caṇḍāla (Chiên-đà-la: hạ liệt) hay con gái của một người Caṇḍāla, với tay cầm bát ăn xin, mặc đồ rách rưới, đi vào làng hay đi vào thị trấn, với một tâm trạng hạ liệt. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như con trai của một người Caṇḍāla hay con gái của một người Caṇḍāla, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
  7. Ví như, bạch Thế Tôn, một con bò đực, với sừng bị cưa, hiền lương, khéo điều phục, khéo huấn luyện, đi lang thang từ đường này đến đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, không hại một ai với chân hay với sừng. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như một con bò đực với sừng bị cưa, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
  8. Ví như, bạch Thế Tôn, một nữ nhân hay một nam nhân còn trẻ tuổi, thanh niên, ưa thích trang điểm, sau khi gội đầu, sẽ lo âu, xấu hổ, nhàm chán nếu xác rắn, hay xác chó, hay xác người được cuốn vào cổ người ấy. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con lo âu, xấu hổ, nhàm chán với cái thân đầy bất tịnh này. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
  9. Ví như, bạch Thế Tôn, có người mang một cái bát đầy mỡ, có thủng nhiều lỗ, thủng nhiều đường, bị chảy, bị rỉ. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con mang cái thân này, có thủng nhiều lỗ, có thủng nhiều đường, bị chảy, bị rỉ. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm Hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Đại Trưởng lão đã dùng chín ví dụ trên để diễn tả trạng thái tâm thánh thiện mà Ngài đã phát triển được nhờ quá trình tu tập. Rồi khi nghe những lời vang dội này, vị Tỷ-kheo đã phỉ báng Tôn giả Xá-lợi-phất ấy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y vào một bên vai, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con đã phạm một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện. Con đã xuyên tạc Tôn giả Xá-lợi-phất, không ý thức, trống không, vọng ngôn, không thật. Mong Thế Tôn chấp nhận cho con tội ấy là một tội để con ngăn đón về tương lai.

- Này Tỷ -kheo, thật là một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, Thầy đã xuyên tạc Tôn giả Xá-lợi-phất, không ý thức, trống không, vọng ngôn, không thật. Này Tỷ-kheo, vì Thầy đã thấy tội ấy là một tội, đã phát lộ đúng pháp, Ta chấp nhận tội ấy cho Thầy. Ðây là một sự tiến bộ, này Tỷ -kheo, trong Pháp Luật của bậc Thánh, những ai thấy tội là tội, phát lộ đúng pháp, và ngăn đón trong tương lai.

Rồi Thế Tôn, nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:

- Này Xá-lợi-phất, hãy tha thứ kẻ ngu si này, ông ta còn quá xa với Đạo và Quả, để đầu của ông ta khỏi bị chẻ ra làm bảy mảnh.

- Bạch Thế Tôn, con tha thứ cho Tôn giả ấy, nếu Tôn giả ấy nói với con: “Hãy tha thứ cho”, và nếu con có phạm lỗi Tôn giả ấy cũng mong Tôn giả ấy tha thứ cho con.

Đó chính là một tấm gương tiêu biểu mẫu mực của một bậc Thánh đáng được noi theo, trong đó Bát Chánh Đạo Hiệp Thế và Bát Chánh Đạo Siêu Thế đã được tu tập cho tới lúc thành tựu viên mãn A-la-hán Thánh Đạo, theo tấm gương ấy, việc tu tập theo đúng cách thức xa xưa từ thời Đức Phật đã được thực hành trong Giáo Pháp (sāsanā).

Thân Hành Niệm (Kāyagatā Sati)

Theo năm mươi hai kinh cuối của Kinh Trung bộ có bài kinh: “Thân Hành Niệm” (Kāyagatā Sati Sutta (M. 3.130-140)) mà trong chú giải có giải thích như sau:

Kāyagatāsatinti kāyapariggāhikampi kāyārammaampi sati. Kāyapariggāhikanti vutte samatho kathito hoti, kāyārammakanti vutte vipassanā. Ubhayena samathavipassanā kathitā honti” (MA.4.102)”

Vậy theo giải thích như trong bản ngữ Pāli trên, Thân Hành Niệm được hiểu như sau:

  • Niệm thân có tính chất Giới hạn
  • Niệm trên đối tượng là ba mươi hai thân phần.

Satisīsena tasahagate bhavagadhamma vadati (MA.3.315)

Theo phụ chú giải có giảng rằng, đối tượng của niệm không chỉ gồm ba mươi hai thân phần thuộc Sắc Pháp, mà bao gồm luôn tất cả Danh Pháp. Nói cách khác, nó gồm tất cả các pháp thuộc Danh pháp, trong mỗi sát-na tâm và mỗi tốc hành tâm, đồng sanh với tâm sở niệm.

+ Cho nên Kāyapariggāhikasati = “niệm thân giới hạn”, ở đây muốn ám chỉ đến phần Thiền chỉ (Samatha)

+ Còn kāyarammanasati = “niệm thân”, lúc này muốn ám chỉ đến phần Thiền Vipassanā.

Kāyoti dve kāya nāmakāyo ca rūpakāyo ca (PsM.181)

Theo phần “Niệm hơi thở” trong “Vô Ngại Giải Đạo” bằng tiếng Pāli như trên đây, từ “Thân” (Kāya) trong “Thân Hành Niệm” (Kāyagatā) phải được hiểu như sau:

  1. nāmakāya = nhóm danh pháp (thuộc thân)
  2. rūpakāya = nhóm sắc pháp (thuộc thân).

Chữ kāya (thân) chính là sự kết hợp của cả hai – tức cả nhóm danh và sắc pháp. Trong nhóm sắc pháp thuộc thân “Rūpakāya” là các pháp thuộc sắc Chân Đế gồm hai loại sau:

1 – “bhūta” = nhóm sắc tứ đại (đất, nước, lửa, gió)

2 – “upādā” = nhóm 24 sắc y đại sinh (nhóm sắc còn lại trong 28 sắc Chân Đế trừ bốn sắc tứ đại trên) đây là những chấp thủ phát sinh từ tâm, đó là: sắc, thinh, hương….

Theo ý nghĩa được giải thích trong Vô ngại giải Đạo ở trên, thì nhóm sắc Chân Đế này là:

1 – assāsakāya (hơi thở vô) và passāsakāya (hơi thở ra).

2 – Ānāpāna Nimitta: Quang tướng được hình thành trên hơi thở ra, vô.

Theo đó kāyapariggāhikasati = “niệm thân giới hạn” thuộc về thiền chỉ. Do đó, như giải thích trong phần trên, “thân “phải được hiểu là “Nhóm Danh pháp và nhóm Sắc pháp” – nói cách khác, “thân” bao gồm:

+ Assāsakāya – passāsakāya = nhóm hơi thở ra – nhóm hơi thở vô = ānāpāna nimitta (quang tướng hơi thở) và đối tượng thiền chỉ được phát sinh do (là kết quả của) năng lực thiền, dựa vào hơi thở ra, vô (các đối tượng thiền chỉ này được mô tả ở phần tới).

+ Còn kāyaramanasati = “niệm trên đối tượng thân” – ở đây có ý nghĩa thiền quán Vipassanā. Vì thế, nó có nghĩa là Nāmakāya (nhóm danh pháp), Rūpakāya (nhóm sắc pháp) được quán sát dưới ánh sáng của tam tướng là Vô thường, Khổ, Vô ngã.

Vậy theo chú giải ở trên, khi sự tu tập của hành giả đã trở nên thuần thục sâu sắc trong thiền có đối tượng là thân, thì cần chú ý rằng nó bao gồm cả thiền chỉ (Samatha) lẫn thiền quán (Vipassanā).

Kāyagatāsatisutte pana yassa vaṇṇato upaṭṭhāti, ta sandhāya cattāri jhānāni vibhattāni (AbA.2.216)

Mahāsatipaṭṭhānasutte cuddasāvidhena kāyānupassanā kathitā, suṇṇakajātāni aṭṭhikāni pariyosāna katvā kāyānupassanā neddiṭṭhā, idha pana kesādīsu vaṇṇakasiavasena nibbattitāna catunna jhāñāa vasena uparidesanāya vaḍḍhitatta aṭṭharasavidhena kāyagatāsatibhāvanā (MA.3.315)

Đúng như những điều được giải thích trong chú giải và phụ chú giải, Kinh Đại Niệm Xứ mô tả 14 loại đối tượng cho thân hành niệm. Trong bài kinh “Thân Hành Niệm” (kāyagatāsati sutta) cũng mô tả cách đắc bốn tầng thiền sắc giới – bằng thực tập đề mục bốn kasiṇa màu bằng cách sử dụng chính 32 thân phần làm đối tượng. Ở đây, giải thích rằng chúng ta phải hiểu rõ: tổng số có 18 loại đối tượng cho “Thân hành niệm” như sau:

  1. Phần niệm hơi thở (ānāpana).
  2. Phần tứ oai nghi (Iriyāpatha).
  3. Phần Chánh niệm tỉnh giác (Sampajañña)
  4. Phần Quán 32 thể trược (32 thân phần) (Paikūlamanasikāra)
  5. Phần quán tứ đại.

6-14: Phần Quán bất tịnh (chín giai đoạn tử thi) (Navasivathika).

Trên đây tổng số là 14 loại cả thảy và 14 loại này được đề cập trong kinh Đại Niệm Xứ. Nhưng Đức Phật đã nhắc lại trong kinh “Thân Hành Niệm” là ngoài 14 loại đối tượng trên, còn có bốn loại thiền sắc giới (rūpāvacara) sử dụng 32 thân phần làm đề mục kasiṇa màu. Vậy trong “Thân Hành Niệm”có tổng số 18 đối tượng tất cả.

Những màu sắc của 32 thân phần có thể dùng làm đề mục kasiṇa là:

  1. Màu nâu sẫm, giống màu tóc và các phần mầu nâu khác trong cơ thể được dùng làm đề mục kasiṇa nâu (nīla).
  2. Mầu vàng: giống màu nước tiểu và các thân phần có mầu vàng trong cơ thể, được dùng làm đề mục kasiṇa vàng (pīta) trong thiền.
  3. Màu đỏ, giống như màu của máu và các thân phần có màu đỏ khác trong cơ thể được dùng làm đề mục kasiṇa đỏ (lohita) trong thiền.
  4. Màu trắng, giống như xương và các thân phần có màu trắng khác trong cơ thể được dùng làm đề mục kasiṇa trắng (odāta).

Bằng việc thực tập bốn đề mục kasiṇa màu trên, hành giả có thể đạt bốn tầng thiền sắc giới đối với mỗi đề mục.

(Những giải thích đầy đủ và phương pháp thực tập các loại thiền khác nhau có thể tìm thấy trong năm tập “Pháp Hành Dẫn Đến Niết-bàn” (Nibbānagāminipaipadā))

Hơn thế, Đức Phật còn giảng rộng về mười lợi ích đạt được từ việc thực tập 18 loại “Thân Hành Niệm” (kāyagatāsati) trên (bao gồm cả phần thiền chỉ và thiền quán).

Mười Ích Lợi Của Việc Thực Tập 18 Loại Thân Hành Niệm.
  1. Có thể khống chế ước muốn hay thèm muốn đắm chìm trong dục lạc và các cảm giác không muốn tích lũy các thiện Nghiệp bằng cách tu tập thiền chỉ và quán.
  2. Có thể áp đảo những nỗi lo sợ, khiếp đảm trước sự vật đáng kinh sợ.
  3. Có thể chịu đựng những nóng, lạnh, đói, khát quá độ, có thể chịu đựng muỗi, mòng, ruồi, rắn, bò cạp hay bọ chét cắn chích, có thể kiên nhẫn chịu đựng sự mắng chửi, buộc tội từ người khác. Có thể chịu đựng đói khát, bạo lực, tai họa, nghèo khổ, dơ dáy, cay đắng, những nghịch cảnh về thân, tâm trong đời.
  4. Có thể đắc bốn tầng thiền sắc giới (rūpāvacara) một cách dễ dàng và không tốn công sức.
  5. Có thể chứng đắc các năng lực biến hóa, thần thông đặc biệt.
  6. Có thể đắc thiên nhĩ thông
  7. Có thể đắc tha tâm thông
  8. Có thể nhớ được các kiếp quá khứ.
  9. Có thể đắc thiên nhãn thông

10.  Có thể đắc lậu tận thông.

Trong trường hợp Đại Trưởng Lão Xá-lợi-phất – Ngài đã viên mãn tu tập thân hành niệm (kāyagatāsati) cho tới lúc không những đạt được mười lợi ích trên, mà còn thành tựu được Trí Tuệ siêu việt của một bậc Thượng thủ Thanh Văn. Bởi đã hoàn thiện tất cả những việc cần làm trong Giáo Pháp (sāsanā) với nguyện lực mãnh liệt (bằng cách đặt lên hàng đầu một trong Tứ như ý túc), Đại Trưởng Lão Xá-lợi-phất dám nói lời dũng cảm và Thánh thiện như tiếng sư tử hống. Đó là một tấm gương mẫu mực về sự tinh tấn nỗ lực phấn đấu, để trở thành một người Thừa Tự Pháp chứ không Thừa Tự tài vật (āmisa) mà các bậc tiền bối từ thời quá khứ đã thực hành. Đó là sự tu tập “Thân Hành Niệm”đúng đắn của các bậc Thánh nhân từ thời xa xưa, đáng được tán thán, khen ngợi, yêu thích, kính trọng và noi theo.

Nguyện cho tất cả các độc giả Thánh thiện của bài viết khiêm nhường này – có khả năng làm trường tồn Giáo Pháp (Sāsanā) bằng cách thành tựu việc noi theo tấm gương của các bậc Thánh nhân từ thời xa xưa tu tập Thân hành Niệm (Kāyagatāsati).

Với tất cả lòng từ.

Thiền Sư Pa-Auk Tawya Sayādaw

Trung Tâm Thiền Pa-Auk Tawya

Mawlamyine, tiểu bang Mon, Myanmar

Ngày 28-07-2005


Follow

Get every new post delivered to your Inbox.